Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe cho bà mẹ sau sinh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa thành phố thái bình năm 2019 - Pdf 75

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE
CHO BÀ MẸ SAU SINH CỦA ĐIỀU DƯỠNG
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ THÁI BÌNH NĂM 2019

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2019


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE
CHO BÀ MẸ SAU SINH CỦA ĐIỀU DƯỠNG
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ THÁI BÌNH NĂM 2019

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Điều dưỡng Sản phụ khoa

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
PGS. TS. LÊ THANH TÙNG

NAM ĐỊNH - 2019


Nam Định, tháng 7 năm 2019
Học viên

Nguyễn Thị Minh Phương


ii

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề của riêng tôi. Nội dung trong bài
báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được áp dụng. Báo cáo này
do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Giảng viên hướng dẫn. Nếu có
điều gì sai trái tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm.

Người làm báo cáo

Nguyễn Thị Minh Phương


iii

MỤC LỤC

Lời cảm ơn ………………………………………………………………………...i
Lời cam đoan ……………………………………………………………………..ii
Mục lục …………………………………………………………………………...iii
Danh mục các từ viết tắt …………………………………………………….……iv
Danh mục Bảng, Hình ảnh ………………………………………………………..v
Đặt vấn đề ........................................................................................................... 1
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn................................................................... 3


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BV

Bệnh viện

ĐDV

Điều dưỡng viên

GDSK

Giáo dục sức khỏe

TT GDSK

Truyền thông giáo dục sức khỏe


vi

DANH MỤC BẢNG, HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Ơ vng thức ăn................................................................................... 9
Hình 2.1: Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái Bình ............................................ 15
Hình 2.2: Khoa Sản - Bệnh viện Đa khoa Thành Phố Thái Bình .......................... 16
Hình 2.3: Hình ảnh làm việc của cán bộ Khoa Sản .............................................. 16
Hình 2.4: Theo dõi sản phụ sau sinh để phát hiện kịp thời chảy máu ................... 19
Hình 2.5: Hướng dẫn cho con bú ......................................................................... 20

giáo dục sức khỏe thêm sinh động và thu hút sự quan tâm của cộng đồng.
Giáo dục sức khỏe không chỉ là cung cấp các thơng tin chính xác, đầy đủ về
sức khỏe bệnh tật mà còn nhấn mạnh đến các yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi
sức khỏe con người như là: nguồn lực hiện có, sự lãnh đạo của cộng đồng, hỗ trợ xã


2
hội, kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe… Vì thế GDSK sử dụng nhiều phương pháp
khác nhau để giúp cho mọi người hiểu được hoàn cảnh riêng của họ và chọn các
hành động tăng cường sức khỏe thích hợp.
Vấn đề chăm sóc sau đẻ là vấn đề hết sức quan trọng nhằm hạn chế các tai
biến, giảm tỷ lệ tử vong sau đẻ. Trong nhiều biến chứng thì hiện tượng chảy máu
sau đẻ vẫn đang là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong mẹ ở các nước thu nhập
thấp và là nguyên nhân trực tiếp của ¼ số ca tử vong trên toàn cầu [2]. Năm 2011, ở
Việt Nam có 289 ca tử vong mẹ trên cả nước, với tỷ lệ tử vong mẹ trong chuyển dạ
và 24 giờ đầu sau đẻ chiếm 45% tổng số. Trong số các bà mẹ tử vong do chuyển dạ
thì 47% nguyên nhân là do chảy máu sau đẻ [8].
Trong các chăm sóc của người điều dưỡng thì giáo dục sức khỏe đóng vai trị
quan trọng trong thành cơng của q trình. Hầu hết các sản phụ đều thiếu kiến thức
về chăm sóc sinh sản, nhất là trong thời gian ngay sau đẻ và đặc biệt với những sản
phụ đẻ lần đầu. Thiếu kiến thức về chăm sóc hậu sản cũng như trẻ sau đẻ có thể dẫn
tới những biến chứng nguy hiểm cho cả mẹ và bé. Nhất là khi những phong tục cổ
truyền đang ảnh hưởng rất lớn đến rất nhiều sản phụ. Vì vậy, cơng tác GDSK cho
phụ nữ sau sinh cũng là một phần hết sức quan trọng cần được chú trọng.
Để đánh giá một cách khách quan cũng như tìm hiểu việc thực hiện cơng tác
GDSK cho phụ nữ sau sinh tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái Bình, nhằm đưa
ra các khuyến nghị, góp phần nâng cao nhận thức cho phụ nữ sau sinh và gia đình
về những việc cần thiết phải chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ sơ sinh để phụ nữ
sau sinh có đủ kiến thức và kỹ năng chăm sóc trẻ, giúp cho bà mẹ và trẻ sơ sinh
khỏe mạnh. Vì vậy tơi đã chọn chun đề: “Thực trạng cơng tác giáo dục sức

Thay đổi của vú nhìn thấy được trong thời kỳ mang thai. Các quầng vú lớn
hơn và sẫm màu hơn.
Những thay đổi về sắc tố da mặt khi mang thai.
Khi mang thai, người phụ nữ trải qua rất nhiều thay đổi sinh lý, chúng hồn
tồn bình thường, gồm tim mạch, huyết học, trao đổi chất, thận và hô hấp và chúng
trở nên rất quan trọng trong những trường hợp biến chứng. Cơ thể phải thay đổi các
bộ máy sinh lý và cân bằng nội môi trong thai kỳ để đảm bảo phôi được cung cấp
đầy đủ các nhu cầu. Những sự gia tăng về đường máu, lượng hơi thở và hơ hấp là
hồn tồn cần thiết. Những mức dộ progesterone và oestrogen gia tăng trong suốt
thai kỳ, chế áp trục dưới đồi và sau đó là chu kỳ kinh nguyệt [10].
1.1.3. Những thay đổi sau đẻ
Ngay sau khi sinh người sản phụ sẽ có những vấn đề lớn sau sinh như các
triệu chứng bình thường của sản phụ ngay sau sinh (sản dịch, vết khâu/vết cắt, sữa
và việc nuôi con) đặc biệt trong những ngày đầu. Theo nhiều nghiên cứu thì tỷ lệ bà


4
mẹ hiểu biết về thai nghén, hậu sản và nuôi con là khá thấp [11]. Do đó hầu hết các
bà mẹ gặp vấn đề về việc thay đổi lớn này.
Sau khi sinh người phụ nữ phải đối mặt với rất nhiều vấn đề về cơ thể: Đau
đớn phải trải qua do q trình sinh con, thậm chí phải mổ đẻ, đau có thể kéo dài một
vài tuần sau sinh. Những vấn đề về tâm lý như khi con ra đời, người mẹ thường cảm
thấy mình trở nên xấu xí và khơng cịn sự hấp dẫn nữa. Họ thường phải thay đổi về
cách sống để chăm sọc con, đặc biệt đối với những người lần đầu làm mẹ, thường
quá lo lắng về trách nhiệm làm mẹ của mình, mong muốn là người mẹ hồn hảo. Có
một tỷ lệ khoảng 70-80% các bà mẹ có những cảm giác buồn thống qua, cịn gọi là
“baby blues” - buồn sau sinh, là một trạng thái biến đổi cảm xúc nhẹ, xuất hiện
trong vòng mấy ngày đầu sau khi sinh con [8]. Những biểu hiện chính của buồn sau
sinh gồm: giảm khí sắc, dao động cảm xúc, buồn rầu, ủ rũ, lo âu, dễ cáu gắt, rối loạn
giấc ngủ. Các rối loạn này kéo dài khoảng 5-10 ngày rồi tự mất đi hoàn toàn. Đây là

Trong 2-3 ngày đầu sau sinh, sản dịch có màu đỏ tươi, sau đổi sang màu đỏ
sậm như bã trầu. Từ ngày thứ 4 đến thứ 8 chất dịch loãng hơn, lẫn với chất nhầy lờ
lờ như máu cá. Từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 12, sản dịch chỉ còn là một chất nhầy
trong, ít đi dần dần [10], [11].
Nếu bị nhiễm trùng sản dịch có mùi hơi, có thể có lẫn mủ.
Vết khâu tầng sinh môn
Nếu tầng sinh môn bị rách hay cắt khi sinh thì có thể khâu lại. Vết khâu tầng
sinh mơn cần được kiểm tra (xem có bị sưng nề, bầm tím, đỏ, đau nhiều, có tụ máu
âm hộ, âm đạo, chân chỉ có mủ...) và sát khuẩn 3 lần mỗi ngày bằng thuốc sát trùng,
sản phụ nên tự rửa sau khi tiểu tiện, thay băng vệ sinh sạch nhiều lần trong ngày,
tránh tình trạng ẩm ướt kéo dài, vết khâu tầng sinh môn sẽ chậm liền và dễ nhiễm
trùng, tập đi tiểu, ngồi dậy đi lại, tránh bị táo bón... Kháng sinh thường được bác sỹ
cho sử dụng trong 5 ngày. Nếu vết khâu tầng sinh môn tốt và lớp da khâu bằng chỉ
khơng tiêu thì thường sẽ được cắt chỉ vào ngày thứ 5 sau sinh.
Sự tiết sữa
Sau khi sinh, lượng sữa non tăng dần lên. Vào khoảng ngày thứ 3 sau sinh có
hiện tượng lên sữa (ở người sinh con so là từ 3-5 ngày, người sinh con rạ là từ 2-3
ngày sau đẻ). Sản phụ sẽ thấy vú căng cứng, đau nhức, có thể sốt nhẹ (38-38,5o C),
đơi khi kèm nhức đầu, khó chịu. Tình trạng căng sữa có thể kéo dài 24-48 tiếng, sau


6
đó sữa thực sự chảy ra [9]. Nếu căng sữa nên cho trẻ bú thường xuyên hơn, bú đúng
cách và vắt sữa dư thừa.
Những thay đổi tổng qt
Bình thường, tồn trạng sản phụ tốt, thân nhiệt bình thường (trừ lúc lên sữa
có thể sốt nhẹ). Sản phụ có thể rét run sau khi sinh do sự mất nhiệt và mệt mỏi khi
rặn sinh, rét run ngắn hạn và mau hết.
Sau sinh, sản phụ có thể cảm giác lạnh và trẻ cũng cần hơi ấm vì trẻ mới sinh
dễ mất nhiệt ra mơi trường ngồi nên phải giữ ấm đủ cho cả con và mẹ. Tuy nhiên,

nước ấm, trong phịng kín, tránh gió lùa, khơng nên ngâm mình lâu trong nước, lau
khơ và mặc đủ ấm sau khi tắm. Có thể tắm gội sau vài ngày sinh nhưng không nên
tắm bồn. Nếu mệt. sản phụ không nên tắm gội cùng một lúc và đừng đứng cúi lom
khom sẽ dễ gây chóng mặt, ngã quỵ.
Trong tháng đầu, bé thường hay thức nhiều về đêm và sản phụ phải thức
theo, vì vậy nên tranh thủ ngủ những lúc trẻ ngủ. Có thể vắt sữa cho vào bình tiệt
trùng bảo quản trong tủ lạnh vài giờ nhờ người thân cho trẻ uống một vài lần vào
ban đêm để tránh sản phụ bị mất ngủ nhiều quá.
Cho con bú
Sản phụ nên cho con bú sữa mẹ sớm ngay sau sinh nếu khơng có chống chỉ
định của bác sỹ vì sữa mẹ kinh tế hơn, tiện dụng, dễ bảo quản, cho con bú sẽ thắt
chặt tình cảm mẹ con, giúp tử cung co hồi tốt hơn trong thời kỳ hậu sản, có thể
phịng thiếu máu, mẹ chậm có kinh lại 8 tháng sau sinh, có thể ngừa thai được 6
tháng đầu sau sinh, giảm nguy cơ ung thư vú ở mẹ… Trước và sau mỗi lần cho bú
nên làm vệ sinh vú sạch sẽ bằng nước ấm [1], [5].
Hướng dẫn tự theo dõi bất thường sau đẻ giai đoạn tại nhà:
Khi có các dấu hiệu sau phải đến cơ sở y tế khám ngay:
- Đau bụng nhiều.
- Ra máu nhiều.
- Sốt.
- Đau tức vú.
- Hoa mắt chóng mặt.
- Đau đầu, đái ít …Khi có một trong các dấu hiệu sau đến ngay cơ sở y tế
khám kịp thời.
Theo dõi:
- Sản dịch.
- Co hồi tử cung.
- Sữa.





9

Hình 1.1: Ơ vng thức ăn ( Viện dinh dưỡng quốc gia - Bộ Y tế)

 Nuôi con bằng sữa mẹ:
- Cho bú sớm sau sinh trong vòng 1 giờ sau đẻ để tận dụng nguồn sữa non [9].
- Cho con bú đúng tư thế.
- Chế độ ăn uống và sử dụng thuốc khi cho con bú: Ăn đủ 4 thành phần như
ô vuông thức ăn, hợp khẩu vị, luôn thay đổi để không bị chán, cần uống nhiều nước
để tiết sữa tốt. Khi sử dụng thuốc cần đúng chỉ định của thầy thuốc.
- Cho trẻ bú theo yêu cầu.
- Cai sữa khi trẻ 24 tháng trở lên, không được cai sữa khi trẻ đang ốm, khi
trời rét quá hoặc nóng q. Trong trường hợp cần cai sớm thì cũng chỉ nên cai sữa
khi trẻ tối thiểu 12 tháng [9].
- Trong vịng 6 tháng đầu cho trẻ bú hồn tồn bằng sữa mẹ, không cho trẻ
ăn thêm thức ăn khác, không cần cho trẻ uống nước.
- Vệ sinh núm vú trước và sau khi con bú.
 Nghỉ ngơi:
- Phụ nữ sau sinh phải được nghỉ lao động trong vòng từ 4-6 tháng để lấy lại
sức, đồng thời có thời gian và sức khỏe để chăm sóc con.
- Mỗi ngày được ngủ ít nhất 7-8 giờ.


10

 Tình dục sau đẻ:
Khơng sinh hoạt tình dục khi chưa sạch sản dịch để tránh nguy cơ nhiễm
khuẩn. Nhưng giai đoạn hậu sản cùng đồ, âm đạo mềm, khi quan hệ tình dục nên



11
người phải mổ đẻ, sau khi đã nằm bất động 8 giờ thì có thể trở mình nằm nghiêng,
sau mổ 24 giờ là đã có thể ngồi dậy, sau 48 giờ có thể ra khỏi giường đi lại nhẹ
nhàng và bắt đầu cho con bú.
- Vận động sớm sau khi mổ có thể giảm bớt nguy cơ dính ruột, nhưng khi
mới vận động không nên vận động quá lâu để tránh bị mệt, vận động tăng dần theo
thời gian. Thời gian bắt đầu ra khỏi giường và vận động có sự khác nhau tùy tình
trạng cơ thể của mỗi người. Với những người mẹ thể chất yếu hay đẻ khó phải mổ
thì khơng nên cố gắng vận động sớm.
- Việc vận động ở đây chỉ sự vận động nhẹ nhàng chứ không phải hoạt động
thử lực, càng không nên lao động chân tay quá sớm, rất dễ dẫn đến giãn thành âm
đạo, hoặc sa tử cung. Nghỉ ngơi sau khi sinh là một trong những nhiệm vụ quan
trọng trong thời gian ở cữ.
 Chế độ dùng thuốc sau đẻ:
Khi cần phải sử dụng thuốc phải được sự chỉ định của thầy thuốc, tuân thủ
đúng y lệnh.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Các quy định về giáo dục sức khỏe cho người bệnh
- Quyết định 4858 QĐ-BYT ngày 03/12/2013 về bộ tiêu chí đánh giá chất
lượng bệnh viện. Trong 83 tiêu chí thì có 13 tiêu chí liên quan đến tư vấn giáo dục
sức khỏe cho người bệnh [6].
- Thông tư 07/2014/TT-BYT ngày 25/02/2014 của Bộ Y tế quy định về quy
tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế.
Thông tư quy định: Tư vấn giáo dục sức khỏe là hướng dẫn người bệnh hoặc người
đại diện hợp pháp của người bệnh thực hiện chế đồ điều trị và chăm sóc.
- Thơng tư 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn cơng
tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện đã xác định nhiệm vụ chăm
sóc người bệnh tồn diện là: “Lấy người bệnh làm trung tâm, đáp ứng các nhu cầu

TT-GDSK có nhiều cố gắng trong việc tun truyền bảo vệ sức khỏe nhân dân.
TT-GDSK cho sản phụ ở Việt Nam đã đưa vào chương trình mục tiêu quốc
gia về Chăm sóc sức khỏe sinh sản. tuyên truyền GDSK dưới nhiều hình thức như
truyền thơng gián tiếp được triển khai rộng khắp tại các tỉnh/thành phố thông qua
các kênh truyền thơng khá phổ biến như phát thanh, truyền hình; truyền thanh qua
hệ thống loa truyền thanh của xã/phường/cụm dân cư; đăng tải các thông tin trên
báo viết, báo điện tử của Trung ương và địa phương; tư vấn qua điện thoại, internet,


13
thư từ, sản xuất các bản tin GDSK tới cộng đồng cư dân phản ánh các hoạt động về
công tác tuyên truyền chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người dân.
Các hình thức tuyền thơng trực tiếp được triển khai rộng khắp các tỉnh/thành
phố với nhiều hình thức như thăm hộ gia đình; thảo luận nhóm; tư vấn sức khỏe, tổ
chức các buổi nói chuyện sức khỏe tại cộng đồng và thực hành trình diễn/làm mẫu
tại bệnh viện, Sản phụ được tư vấn trực tiếp, thảo luận nhóm, họp hội đồng người
bệnh…
Cụ thể: phối hợp với Đài Truyền hình, Đài Phát thanh từ Trung ương đến địa
phương xây dựng và phát sóng các chương trình GDSK phổ biến kiến thức về Sức
khỏe sinh sản đến với đa số người dân vì mục tiêu đảm bảo sức khỏe cho cộng
đồng. Chương trình được cây dựng một cách ngắn gọn và sinh động thơng qua các
bài phỏng vấn, nói chuyện với chun gia, các tiểu phẩm, tình huống... Ngồi định
hướng tun truyền nâng cao hiểu biết về bệnh, các chương trình được phát sóng
cịn phải mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, giúp mọi người hiểu được Sức khỏe sinh
sản. Chương trình mục tiêu quốc gia tăng cường Sức khỏe sinh sản giúp người dân
nhận thức đúng dắn về lỗi sống, quan điểm chưa đúng, tiến tới từ bỏ những thói
quen xấu bà thực hiện lối sống lành mạnh để tăng cường Sức khỏe sinh sản.
Đặt các bảng tuyên truyền pano, áp phích về Sức khỏe sinh sản tại các vị trí
cơng cộng như: tại các điểm cơng cộng đơng người qua lại, tại các bệnh viện
tình/thành phố; tại các bệnh viện và trung tâm y tế quận/huyện; tại các trạm y tế

- Khoa kiểm soát Nhiễm khuẩn


15

Hình 2.1. Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái Bình
2.2. Khoa Sản - Bệnh viện Đa khoa Thành Phố Thái Bình
Với quy mơ 30 giường bệnh điều trị nội trú trong đó các phịng bệnh gồm:
- Phịng chờ đẻ
- Phịng đẻ
- Phòng theo dõi sau sinh
- Phòng sản bệnh
- Phòng hậu sản
- Phịng hậu phẫu
Trang thiết bị phục vụ cơng tác chăm sóc sức khỏe sinh sản như: máy siêu
âm, máy Doppler, máy thử đường huyết cá nhân…
Một số kỹ thuật chuyên môn hiện đại đã được thực hiện tại khoa như: Mổ
nội soi sản khoa, phẫu thuật cắt tử cung bán phần, toàn phần, phẫu thuật u nang
buồng trứng, phẫu thuật chửa ngoài tử cung vỡ…
 Nhân lực của khoa gồm:
- Bác sỹ CKI:

01

- Bác sỹ định hướng:

03

- Hộ sinh:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status