Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phạm Thị Minh Hồng
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY MẸ - TCT THIẾT BỊ ĐIỆN VIỆT NAM
3.1 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN
THIỆN
Cùng với sự phát triển của đất nước, hòa chung vào xu thế của thế giới toàn
cầu hóa nền kinh tế , nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt và năng động, từ khi
thành lập đến nay, sau 28 năm hoạt động và phát triển, Công ty me - TCT thiết bị
điện Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn khó khăn, thăng trầm. Song do nỗ lực phấn
đấu không ngừng, sự vươn lên khẳng định chính mình, Công ty mẹ - TCT thiết bị
điện Việt Nam đã trở thành một công ty đóng vai trò quan trọng trong ngành công
nghiệp chế tạo thiết bị điện, chiếm một thị phần lớn trên thị trường với quy mô sản
xuất kinh doanh ngày càng mở rộng và phát triển, trình độ sản xuất và quản lý ngày
càng được nâng cao nhằm đáp ứng theo yêu cầu phát triển của đất nước. Công ty
luôn đưa ra thị trường những sản phẩm chất lượng với giá cả cạnh tranh so với những
mặt hàng cùng loại của các công ty trong và ngoài nước, không ngừng nghiên cứu
tung ra những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của thị trường. Chính vì vậy, công ty
duy trì được những bạn hàng truyền thống và ngày càng thu hút nhiều bạn hàng mới.
Đạt được kết quả như vậy là do sự tìm tòi nỗ lực, sáng tạo không ngừng của Ban
Tổng giám đốc, lãnh đạo các phòng ban và toàn thể cán bộ công nhân viên của công
ty.
Với nỗ lực của mình, công ty đã và đang từng bước hòa nhập và tìm kiếm vị
thế của mình trên trường quốc tế. Sự linh hoạt nhạy bén trong công tác quản lý kinh
tế, quản lý sản xuất đã thực sự trở thành đòn bẩy tích cực cho việc phát triển của
công ty. Công ty đã có định hướng đúng đắn cho chiến lược sản xuất kinh doanh gắn
khoa học kỹ thuật với sản xuất, nắm bắt nhu cầu của khách hàng, từng bước chuyển
dịch cơ cấu sản phẩm, chất lượng sản phẩm và thực hiện hạch toán kế toán triệt để,
toàn diện. Công ty đã đạt được các thành tích đáng kể trong hoạt động kinh doanh,
hoàn thành tốt các nhiệm vụ do cấp trên giao phó, không ngừng nâng cao chất lượng
sản phẩm cũng như đời sống công nhân viên. Công ty luôn quan tâm và tìm ra các
ánh đầy đủ nội dung hạch toán và đáp ứng nhu cầu của công tác quản lý. Kế toán của
công ty được trang bị đầy đủ máy tính nối mạng, cùng phần mềm kế toán đã giúp
khối lượng công việc của các kế toán viên giảm đi khá nhiều, đơn giản hơn và thêm
phần chính xác. Cán bộ nhân viên phòng Tài chính - Kế toán đều là những người có
trình độ, nắm vững chuyên môn nghiệp vụ, sử dụng thành thạo phần mềm kế toán,
SVTH: Phạm Bích Thùy - Kế toán 48C
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phạm Thị Minh Hồng
phần mềm văn phòng, nhiệt tình tiếp cận với chế độ kế toán mới, có tác phong làm
việc khoa học, có tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau trong công việc.
Cụ thể trong công tác hạch toán CPSX và tính giá thành luôn có sự kết hợp
nhịp nhàng, ăn ý giữa các kế toán vật tư, kế toán tiền lương và kế toán tổng hợp để có
thể tập hợp CPSX và tính giá thành một cách nhanh chóng, chính xác.
Về chi phí NVL: Công ty đã xây dựng được định mức tiêu hao NVL cho từng
loại sản phẩm. Phiếu xuất kho vật tư phục vụ sản xuất của các phân xưởng sản xuất
phải đưa qua phòng Kinh doanh phụ trách quản lý định mức NVL phê duyệt mới
được thực hiện xuất. Nhờ vậy mà NVL được quản lý tốt hơn, sử dụng có hiệu quả
hơn. Không những vậy, việc chi tiết tài khoản 621 - Chi phí NVL trực tiếp thành các
tài khoản con cấp 2 và cấp 3 theo sản phẩm và phân xưởng, giúp cho kế toán thực
hiện tập hợp chi phí NVL trực tiếp của một sản phẩm ở các phân xưởng dễ dàng hơn,
hợp lý và sát với thực tế hơn. Phiếu xuất kho NVL được yêu cầu phải ghi rõ bộ phận
sử dụng và dùng để sản xuất loại sản phẩm nào nhằm giúp cho kế toán nhập vào phần
mềm đúng tài khoản chi tiết 621 chi phí NVL trực tiếp cho sản phẩm đó và tại phân
xưởng đó.
Tại công ty, NVL được mua về phục vụ sản xuất với tần suất rất lớn, tình hình
nhập xuất NVL diễn ra rất thường xuyên. Công ty đã sử dụng phương pháp bình quân
gia quyền để tính giá xuất NVL. Phương pháp này rất thuận tiện cho việc theo dõi,
quản lý NVL và giảm bớt khối lượng ghi chép kế toán.
năm, hơn nữa phân công công việc trong phòng cũng không đồng đều một số kế toán
viên phải đảm nhận nhiều công việc hơn mức bình thường.
Về việc sử dụng phần mềm kế toán: kế toán máy đã giúp giảm bớt rất nhiều khối
lượng công việc kế toán hằng ngày, tuy nhiên phần mềm kế toán công ty hiện đang
sử dụng gần đây thường bị lỗi, hệ thống mạng nội bộ trong phòng hay sự cố các máy
tính không kết nối được với máy chủ, không vào được phần mềm kế toán khiến công
việc trong phòng bị ứ đọng.
Về sổ sách kế toán: theo em nhận thấy, công ty áp dụng hình thức sổ Nhật ký chứng
từ nhưng do tính chất phức tạp và cồng kềnh của loại hình thức sổ này trong làm việc
thực tế, kế toán công ty tinh giảm đi rất nhiều loại sổ sách. Hình thức và cách ghi
chép sổ sách kế toán hiện nay ở công ty hiện nay gần giống với hình thức sổ Nhật ký
chung.
Về chi phí NVL trực tiếp: Trong công tác hạch toán chi phí NVL trực tiếp tại công ty
còn tồn tại những nhược điểm sau:
+ Thứ nhất, việc phân loại vật tư ở công ty là rất hợp lý, nhưng chưa xây dựng
hệ thống danh điểm NVL thống nhất toàn công ty. Do đó, thường xảy ra việc thủ kho
SVTH: Phạm Bích Thùy - Kế toán 48C
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phạm Thị Minh Hồng
và kế toán ghi nhập, xuất cùng một loại NVL thành 2 loại khác nhau gây mất thời
gian phải đối chiếu rà xoát lại chứng từ để phát hiện sai sót.
+ Thứ 2, phiếu xuất kho NVL chỉ được lập 1 liên do nhân viên kinh tế phân
xưởng lập không phù hợp với quy định hiện nay là phải lập thành 3 liên (đặt giấy
than viết 1 lần).
+ Thứ 3, hiện nay, kế toán NVL rất bị động trong việc cập nhật phiếu xuất do
hàng thàng phải lấy phiếu xuất từ thủ kho. Việc này làm mất đi tính chủ động, khả
năng đối chiếu và kiểm soát của kế toán đối với thủ kho. Thủ kho chậm vào thẻ hoặc
chậm đưa lên cho kế toán thì tiến độ hạch toán của kế toán cũng chậm theo. Thủ kho