tình hình thị trờng bảo hiểm Việt Nam trong
những năm qua
I. Đánh giá tình hình phát triển thị trờng bảo hiểm Việt
Nam
Đứng trớc nhu cầu đổi mới về nền kinh tế nói chung và hoạt động bảo
hiểm nói riêng, để bảo hiểm thơng mại phát triển hơn, ngày 18/12/1993 Nhà nớc
ta ban hành Nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam, cho phép
các thành phần kinh tế khác và các nhà đầu t nớc ngoài đợc phép kinh doanh bảo
hiểm tại Việt Nam, đặt dấu mốc quan trọng cho sự hình thành thị trờng bảo hiểm
ở Việt Nam với sự đa dạng hóa về lĩnh vực hoạt động và sở hữu. Năm 1995, sau
khi Nghị định 100/CP đợc ban hành 1 năm, các công ty bảo hiểm khác ngoài hệ
thống Bảo Việt lần lợt ra đời. Trớc tiên là công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí
Minh, Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam, Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà
Rồng, Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex và năm sau là Công ty bảo hiểm Dầu
khí và Công ty liên doanh bảo hiểm Quốc tế Việt Nam ra đời. Năm 1995 có thể đợc
coi là năm khởi đầu thật sự của thị trờng bảo hiểm Việt Nam với đầy đủ ý nghĩa của
từ đó.
Sự ra đời của một loạt các công ty bảo hiểm mới đã thúc đẩy thị trờng bảo
hiểm phát triển một cách mạnh mẽ, cũng đồng thời với việc ngời có nhu cầu bảo
hiểm có sự lựa chọn doanh nghiệp phục vụ cho mình, dẫu ban đầu chỉ là sự lựa
chọn về sản phẩm và mức phí. Ngay trong năm 1995, doanh thu phí bảo hiểm đã
tăng trên 30%. Mặc dù mức tăng trởng chậm hơn so với trớc đó (những năm 1992,
1994, 1994 mức tăng trởng bình quân 55%/năm) nhng trong bối cảnh có nhiều
doanh nghiệp cùng hoạt động, thị trờng cạnh tranh thì đó là mức tăng trởng cao.
Bên cạnh đó, với sự ra đời của Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia, phí bảo hiểm giữ
lại ở trong nớc và doanh thu nhận tái bảo hiểm ở nớc ngoài cũng tăng lên.
Tháng 8/1996, thêm một bớc phát triển mới của thị trờng bảo hiểm Việt
Nam với việc Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam đa ra thị trờng những sản phẩm
bảo hiểm nhân thọ đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của một nhánh mới trong ngành
kinh doanh bảo hiểm - nhánh bảo hiểm Nhân thọ.
Sự ra đời của Công ty liên doanh bảo hiểm Liên hiệp UIC, tiếp theo là
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có hiệu lực, trên 15.000 khách hàng đã nhận những
khoản tiền bảo hiểm nhân thọ đầu tiên với số tiền bảo hiểm gần 200 tỉ đồng chủ
yếu từ Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam. Đây là minh chứng cho sự thành công
trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ của các nhà bảo hiểm Việt Nam.
Thời gian hình thành một thị trờng bảo hiểm Việt Nam cha dài, nhng
những đóng góp của ngành bảo hiểm cho nền kinh tế xã hội rất đáng ghi nhận:
Trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, việc các doanh nghiệp bảo hiểm triển khai
các loại hình bảo hiểm đầu t - kỹ thuật, góp phần không nhỏ vào việc gọi đầu t n-
ớc ngoài vào Việt Nam, thực hiện chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nớc, đổi
mới và phát triển nền kinh tế, đa nớc ta từng bớc thoát khỏi khủng hoảng.
Hầu hết, các công trình xây dựng trọng điểm nh các nhà máy điện, xi
măng, cầu cống, đờng sá, những tài sản có giá trị lớn nh các công trình thăm dò
khai thác dầu khí, máy bay, tàu biển, kho tàng, bến bãi, trị giá hàng trăm tỉ Đôla
đã đợc bảo hiểm tại Việt Nam.
Mỗi năm, có gần 15 triệu học sinh đợc bảo hiểm tai nạn, trên 20 triệu lợt
ngời tham gia bảo hiểm tai nạn hành khách, tai nạn ngời ngồi trên xe, tai nạn
khách du lịch và các loại hình bảo hiểm con ngời khác.
Với khả năng tài chính của Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam và các
doanh nghiệp bảo hiểm, khả năng giữ lại của thị trờng trong nớc ngày càng đợc nâng
lên, tiết kiệm đợc một khoản ngoại tệ không nhỏ cho đất nớc.
Mỗi năm, trung bình cách doanh nghiệp bảo hiểm đã chi 1.200 tỉ để bồi
thờng cho các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm không may bị thiên tai, tai nạn
bất ngờ gây thiệt hại. Nhiều tổ chức, đơn vị nếu không nhận đợc tiền bồi thờng
bảo hiểm sẽ lâm vào tình trạng phá sản, thua lỗ hoặc sa sút. Nhiều vụ bồi thờng
lớn trị giá hàng chục tỉ đồng nh việc bồi thờng cho ng dân các tỉnh phía Nam bị
thiệt hại trong cơn bão Linda 52 tỉ đồng; vụ bồi thờng tổn thất máy bay của hãng
Hàng không quốc gia Việt Nam tại Campuchia; vụ bồi thờng tổn thất của các
hãng thăm dò và khai thác dầu khí, tổn thất đắm tàu Lục Nam 1,0 triệu Đôla, cháy
tàu Phú Xuân 3,3 triệu Đôla, tổn thất hàng hóa của các công ty XNK hàng hóa
trên tàu Brilliant trị giá 8,1 triệu Đôla, Fidelity 1,4 triệu Đôla, cháy kho xăng B12.
ngời đại lý giỏi có thu nhập trên 10 triệu đồng/tháng. Đay là đóng góp hữu hiệu
của ngành bảo hiểm trong bối cảnh số lợng ngời cha có việc làm ở nớc ta đang có
xu hớng tăng lên. Với sự phát triển đó, nghề t vấn bảo hiểm có tên trong danh mục
nghề nghiệp ở nớc ta.
Những đóng góp của doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ dừng lại ở công
tác bảo hiểm, đóng góp của doanh nghiệp bảo hiểm cho ngân sách không ngừng
tăng lên. Nếu nh năm 1995 đóng góp của các doanh nghiệp bảo hiểm mới chỉ là
85 tỉ thì tới năm 2002 đã là 391,852 tỉ.
Các doanh nghiệp bảo hiểm cũng đã tích cực tham gia các hoạt động xã
hội. Nhiều tỉ đồng đợc các doanh nghiệp bảo hiểm cùng Bộ giao thông vận tải xây
dựng các đờng lánh nạn, đờng phòng hộ trên các đèo dốc cao, ủng hộ đồng bào lũ
lụt, ngời nghèo; lập các quỹ học bổng dành cho học sinh, nuôi dỡng bà mẹ Việt
Nam anh hùng.
Bảo hiểm thơng mại đã trở thành một ngành độc lập có những đóng góp
nhất định cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc. Cũng chỉ trong
một khoảng thời gian không dài, tỉ trọng doanh thu phí bảo hiểm trong GDP đã từ
0,3% GDP - năm 1995 tăng lên gần 1,4% năm 2002 (các nớc trong khu vực -
không kể Campuchia và Lào, khoảng 2,5% - 3,3% GDP). Những thành công bớc
đầu của ngành bảo hiểm Việt Nam, một mặt do bớc đi mạnh mẽ trong mở cửa đổi
mới của Chính phủ Việt Nam, mặt khác do sự năng động sáng tạo của các doanh
nghiệp và những ngời làm bảo hiểm, còn có sự ủng hộ, tin tởng của các tầng lớp
dân c, sự cải thiện đáng kể môi trờng pháp lý trong những năm qua. Các sản phẩm
bảo hiểm trở nên đa dạng hơn, phù hợp với sức mua và nhu cầu bảo hiểm của các
tổ chức kinh tế và dân c. Trong lĩnh vực phi nhân thọ, gần 100 sản phẩm bảo hiểm
cho cả 3 loại hình bảo hiểm con ngời, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm.
Trong bảo hiểm nhân thọ có trên 10 loại sản phẩm chính và nhiều sản phẩm bổ trợ
phục vụ các nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ.
Bảo hiểm Nhân Thọ và bảo hiểm phi nhân thọ tuy cùng chung nghiệp vụ
bảo hiểm song chúng lại có sự khác biệt khá lớn Bảo hiểm Nhân Thọ chủ yếu
mang tính chất tiết kiệm - tích lũy còn Bảo hiểm Phi nhân thọ lại hoàn toàn
sống ổn định, đầy đủ, huy động và cung cấp nguồn vốn rất lớn cho nền kinh tế,
góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nâng cao vai trò, uy tín và hình ảnh
của ngành.
+ Các doanh nghiệp ngày càng chú trọng đến công tác đào tạo đội ngũ cán
bộ, đại lý và coi việc, đây là giải pháp chiến lợc để nâng cao chất lợng dịch vụ,
đồng thời tăng cờng ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh.
+ Nhận thức của công chúng về bảo hiểm nhân thọ ngày càng tăng, tập
quán bảo hiểm nhân thọ dần dần đợc hình thành; các phơng tiện thông tin đại
chúng đóng góp vai trò khá tích cực trong thông tin và giáo dục thị trờng, tuy
nhiên đôi khi lại có tác động ngợc lại.
+ Mặc dù có những điểm khác biệt về loại hình doanh nghiệp, thành phần
kinh tế, xuất xứ, kinh nghiệm... nhng các doanh nghiệp ngày càng tiến tới sự tơng
đồng trên nhiều mặt, nh là hệ quả của việc học hỏi lẫn nhau và nỗ lực thích ứng
với thị trờng Việt Nam.
+ Môi trờng pháp lý ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động của các doanh nghiệp, từng bớc thiết lập và duy trì thị trờng cạnh tranh
lành mạnh, tăng cờng quản lý nhà nớc. Nhà nớc cũng đã có những chính sách u
đãi, thúc đẩy thị trờng phát triển.
Sau đây chúng ta cùng xem xét kỹ hơn những điểm nêu trên.
1. Thị trờng sôi động, cạnh tranh ngày càng gay gắt và toàn diện:
Từ năm 1996 đến giữa năm 1999 chỉ có Bảo Việt "một mình một chợ",
đến nay trên thị trờng đã có 5 doanh nghiệp: Bảo Việt, Bảo Minh - CMG,
Manulife, Prudential và AIA. Từ khi có sự góp mặt thêm của 4 doanh nghiệp có
vốn đầu t nớc ngoài - những tên tuổi lớn, đã có kinh nghiệm hoạt động ở nớc
ngoài kèm theo cơ chế tài chính, thù lao linh hoạt, thị trờng bảo hiểm nhân thọ
Việt Nam đã thực sự bớc vào một giai đoạn mới - giai đoạn sôi động, cạnh tranh
toàn diện và phát triển với tốc độ cao. Tình hình cạnh tranh càng gay gắt có thể
thấy rõ ở các thị trờng lớn nh Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng... Sự
cạnh tranh thể hiện trên tất cả các mặt nh thu hút khách hàng, thu hút đại lý (qua
chính sách thù lao, sản phẩm, dịch vụ, địa bàn hoạt động, quảng cáo, khuyến
BM-CMG
Maunulife
Prudential
AIA
19.4%
0.8%
0.7%
7.6%
71.5%
Bao Viet
54.3%
Prudentia
l
29.9%
AIA
3.0%
BM-CMG
1.4%
Maunulife
10.8%
Năm 2002
Dẫn đầu trên thị trờng hiện nay vẫn là Bảo Việt - doanh nghiệp nhà nớc và
là doanh nghiệp duy nhất không có vốn đầu t nớc ngoài với thị phần trên 54%, tốc
độ tăng trởng doanh thu phí bảo hiểm đạt 64,8% trong năm 2001 và cũng là doanh
nghiệp duy nhất có mạng lới khai thác phủ khắp các tỉnh thành. Các doanh nghiệp
khác cũng đã đạt đợc những kết quả rất tốt, đặc biệt Prudential đã đạt đợc kết quả
khá ngoạn mục - chỉ trong vòng hơn 2 năm Prudential đã vơn lên vị trí thứ 2 với
gần 30% thị phần, trở thành một đối trọng lớn đối với Bảo Việt trên thị trờng.
AIA, Manulife, Bảo Minh-CMG trong năm 2001 cũng gia tăng thị phần, tuy
nhiên tính đến thời điểm này thì các công ty này còn chiếm thị trờng khá nhỏ. Với
những kết quả khá cao. Cụ thể:
+ Đạt tốc độ tăng trởng cao về doanh thu phí và số hợp đồng:
Nếu nh năm 1996 Bảo Việt mới triển khai thí điểm BHNT tại một số tỉnh
thành và đạt đợc kết quả khá khiêm tốn với trên 1.200 hợp đồng và doanh thu phí
cha đến 1 tỉ đồng thì đến năm 2000 doanh thu phí BHNT toàn thị trờng đã đạt gần
1.300 tỉ đồng và gần một triệu hợp đồng có hiệu lực. Đặc biệt, năm 2001 là năm
đáng ghi nhớ của thị trờng BHNT Việt Nam với doanh thu phí đạt 2.786 tỉ đồng
(tơng đơng 0,55% GDP), vợt khá xa so với tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ
của toàn thị trờng, số hợp đồng có hiệu lực đến cuối năm 2001 đạt khoảng 1,6
triệu (tơng đơng 2% dân số). So với năm 2000, tốc độ tăng doanh thu phí năm
2001 đạt 115,6%, trong đó tốc độ tăng doanh thu phí của các hợp đồng mới đạt
trên 89%. Nếu tính từ khi mới bắt đầu triển khai, tốc độ tăng doanh thu BHNT
bình quân trong những năm qua đạt trên 250%/năm; còn nếu tính từ năm 1999 -
năm bắt đầu có sự gia nhập của các doanh nghiệp BHNT khác ngoài Bảo Việt, tốc
độ tăng doanh thu phí bình quân đạt trên 135%/năm (cao hơn tốc độ tăng GDP rất
nhiều). Đây là tốc độ tăng trởng rất cao, phản ánh sự trởng thành nhanh chóng của
thị trờng BHNT Việt Nam. Thêm vào đó, chất lợng khai thác cũng đợc nâng lên
đáng kể, biểu hiện qua số tiền bảo hiểm trung bình/hợp đồng, số phí bảo hiểm
bình quân/hợp đồng ngày càng cao, công tác đánh giá rủi ro đợc chú trọng hơn
(thông qua việc áp dụng đánh giá rủi ro sức khỏe, tài chính, mục đích tham gia,
quyền lợi có thể đợc bảo hiểm), tỉ lệ hủy hợp đồng của thị trờng dới 6%/năm (thấp
hơn rất nhiều so với các thị trờng khác).
+ Thiết lập đợc mạng lới kinh doanh phủ khắp cả nớc, mô hình tổ chức và
quản lý ngày càng hoàn thiện.
+ Sản phẩm đa dạng, dịch vụ phong phú, khách hàng thuộc nhiều tầng lớp.
Khi Bảo Việt triển khai thí điểm BHNT, chỉ có 3 sản phẩm đợc đa ra thị tr-
ờng là BHNT Hỗn hợp thời hạn 5 năm, thời hạn 10 năm và An sinh giáo dục.
Cùng với sự phát triển của thị trờng, số lợng sản phẩm đa ra thị trờng đã tăng lên
nhanh chóng và ngày càng đa dạng.
Hình 2. Doanh thu phí BHNT toàn thị trờng qua các năm (tỉ đồng)
+ Tạo kênh huy động và cung cấp vốn lớn cho nền kinh tế, thúc đẩy kinh
tế - xã hội phát triển.
Với chức năng gom nhặt và tập trung những khoản tiền nhỏ, nhàn rỗi nằm
rải rác trong dân c, BHNT đã hình thành một quỹ đầu t lớn, cung cấp vốn cho nền
kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn, phục vụ đắc lực
cho
công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. So
với ngành Ngân hàng, BHNT Việt Nam tuy mới có thâm niên hoạt động còn rất
ngắn nhng đã thực sự trở thành một kênh huy động và phân phối vốn hữu hiệu cho
nền kinh tế. Với số tài sản quản lý đợc tích lũy (dới hình thức quỹ dự phòng) ngày
càng lớn, cho phép các doanh nghiệp BHNT thực hiện những khoản đầu t lớn dới
các hình thức nh góp vốn liên doanh, mua cổ phiếu, cho vay, tham gia các dự án
đầu t, mua trái phiếu, tín phiếu kho bạc nhà nớc, gửi tiết kiệm Ngân hàng... lấy
năm 2001 làm ví dụ, nh đã nêu trên, tổng số phí BHNT toàn thị trờng đạt 2.786 tỉ
đồng, chiến 0,55% GDP và nh vậy tính đến thời điểm này, tổng số vốn mà các
doanh nghiệp BHNT có thể cung cấp cho nền kinh tế lên tới trên 4.000 tỉ đồng
(chủ yếu là quỹ dự phòng đợc tích tụ qua các năm). Hoạt động đầu t tài chính
cũng trở thành xơng sống nâng đỡ cho hoạt động kinh doanh BHNT, tạo tiền đề và
điều kiện để các doanh nghiệp BHNT tham gia vào thị trờng tài chính, tạo lập các
quỹ đầu t. Trên thực tế, các doanh nghiệp BHNT đã tham gia vào rất nhiều dự án
đầu t, là cổ đông lớn trong nhiều công ty cổ phần đồng thời cũng là thành viên th-
ờng xuyên trong các cuộc đấu thầu tín phiếu, trái phiếu Kho bạc và cũng là những
"ngời chơi" lớn trên thị trờng chứng khoán. Năm 1999, Bảo Việt thành lập Công
ty Chứng khoán Bảo Việt - công ty chứng khoán đầu tiên ở Việt Nam, tạo tiền đề
để trở thành tập đoàn bảo hiểm - tài chính tổng hợp hàng đầu ở Việt Nam. Tuy
nhiên, có thể thấy, cho đến nay thị trờng đầu t của Việt Nam mới trong giai đoạn
hình thành, còn thiếu các công cụ đầu t, nhất là các công cụ đầu t dài hạn, do vậy
hạn chế rất lớn hiệu quả hoạt động đầu t của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.
Đối với thị trờng tài chính, thị trờng bảo hiểm đang dần xâm nhập và ngày
càng có những sự liên kết chặt chẽ hơn. Để đa sản phẩm BHNT ra thị trờng, đến
lao động dới hình thức đại lý chuyên nghiệp, đại lý bán chuyên nghiệp và cộng
tác viên. Đến cuối năm 2001, tổng số đại lý chuyên nghiệp của toàn thị trờng đã
tới con số 40.000 ngời (trong đó, Bảo Việt có trên 12.000 ngời). Với những đặc tr-
ng nổi bật: hoàn toàn độc lập, tự chủ về thời gian, đòi hỏi tính tự giác cao, hởng
thù lao theo kết quả hoạt động, tự hạch toán độc lập (có thể coi mỗi đại lý là một
"doanh nghiệp", trên thực tế có nhiều đại lý là một "doanh nghiệp" thực thụ),
không yêu cầu quá cao về bằng cấp, nghề đại lý (t vấn) BHNT đã thực sự trở
thành một nghề có tính chuyên nghiệp, đợc xã hội thừa nhận và là nghề có thu
nhập khá cao ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, BHNT cũng đã tạo ra chỗ làm việc
cho hàng nghìn ngời với t cách là cán bộ, nhân viên của các doanh nghiệp BHNT,
ngoài ra còn tạo thêm việc làm cho các ngành khác có liên quan nh công nghệ
thông tin, Ngân hàng, in ấn, quảng cáo...
1.2. Thị trờng bảo hiểm 6 tháng đầu năm 2003
Sự phát triển kinh tế và sự ổn định về chính trị xã hội đã tạo những điều
kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh Bảo hiểm phát triển.
Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm thị trờng bảo hiểm nhân thọ nớc ta
vẫn hoạt động khá sôi động và tiếp tục phát triển theo chiều hớng tốt. Toàn thị tr-
ờng đạt tốc độ tăng trởng 46% về doanh thu phí bảo hiểm. Các doanh nghiệp đều
có tốc độ tăng dơng về doanh thu phí bảo hiểm so với cùng kỳ năm trớc. Dẫn đầu
về doanh thu là Bảo Việt với 1.249.234 triệu đồng, tiếp đến là Prudential với
doanh thu phí đạt 1.142.044 triệu đồng tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm 2002
(686.790 triệu đồng). Các công ty còn lại cũng đạt tốc độ tăng trởng cao, đặc biệt
là Bảo Minh CMG là AIA với tốc độ tăng trởng lần lợt là 78,47% và 70,39%.
Về thị phần: Dẫn đầu thị trờng vẫn là Bảo Việt chiếm 42,36% thị trờng
(cùng kỳ năm 2002 là 48,42%) nhng thị phần của công ty đang ngày càng bị thu
hẹp lại với sự lớn mạnh của Prudential và các công ty bảo hiểm nhân thọ khác.
Nếu nh cùng kỳ 2002, thị phần của Prudential là 34,05% thì năm nay thị phần của
họ đã là 38,72%, kém đôi chút so với Bảo Việt.
Về số hợp đồng khai thác mới: toàn thị trờng đạt tốc độ tăng trởng
24,02%, nâng tổng số các hợp đồng khai thác mới của toàn thị trờng lên gần
Về kênh bán hàng truyền thống, trong 6 tháng đầu năm, số lợng đại lý
nhân thọ vẫn đang không ngừng tăng lên, đạt tốc độ tăng 57,94% so với cùng kỳ
2002 đạt 82.534 đại lý, tuy nhiên kênh bán hàng truyền thống này đang có xu h-
ớng chững lại do tốc độ tăng trởng đại lý mới không cao. Trong 6 tháng đầu năm,
toàn thị trờng chỉ tuyển đợc 34.074 đại lý mới nhng số lợng đại lý này gần nh chỉ
đủ để bù đắp cho số đại lý thôi việc, vi phạm quy chế... nên tổng số đại lý của
toàn thị trờng tăng không nhiều.
Để đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu phong phú đa dạng của khách hàng,
nhu cầu của từng bộ phận khách hàng, các công ty bảo hiểm nhân thọ đang tiếp
tục hoàn thiện các sản phẩm của mình và đa ra các sản phẩm mới nh An bình hu
trí của Bảo Việt, Phú hoàn mỹ, Hỗ trợ viện phí và phẫu thuật và Từ bỏ thu phí ng-
ời hôn phối của Prudential, các sản phẩm đang ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu
của khách hàng, chia sẻ các rủi ro với khách hàng ví dụ nh sản phẩm Hỗ trợ viện
phí và phẫu thuật chẳng hạn, sản phẩm này đã mang lại cho khách hàng sự trợ
giúp về tài chính khi phải nằm viện; ngoài ra, còn có sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp
với thời hạn 5 năm của AIA và sản phẩm bảo hiểm tử kỳ có hoàn phí và giá trị
hoàn lại, bảo hiểm bổ trợ quyền lợi các bệnh nghiêm trọng của Manulife.
1.3. Bảo hiểm phi nhân thọ.
1.3.1. Tình hình thị trờng trong thời gian gần đây
Theo số liệu thống kê của Cơ quan Thờng trực Hiệp hội Bảo hiểm Việt
Nam, tốc độ tăng trởng của lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ khá khả quan với tổng
doanh thu phí bảo hiểm đạt 1.892.331,04 triệu đồng, tăng 26,81% so với cùng kỳ
2002. Loại hình nghiệp vụ có tốc độ tăng trởng cao nhất là Bảo hiểm xe cơ giới
nhờ việc ban hành Chế độ bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới. Tổng doanh
thu của loại hình bảo hiểm xe cơ giới 6 tháng đầu năm đạt 582.760,52 triệu đồng,
tăng 75,16% do yêu cầu tăng phí của Hội P&I thế giới; bảo hiểm con ngời cũng
có tốc độ tăng trởng khá cao, 40,13%; Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu đạt tốc
độ tăng khá (23% nhờ sự gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu). Nghiệp vụ bảo
hiểm hàng không suy giảm do ảnh hởng của dịch SARS và tình hình bất ổn trên
thế giới khi xảy ra chiến tranh Iraq.
Số liệu mới nhất của ngành bảo hiểm cho thấy mức tăng trởng của doanh
thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam là khả quan. Nếu chỉ tính 6 tháng đầu
năm, thì năm 1999 tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam là 739 tỉ đồng,
năm 2000 là 851 tỉ đồng, năm 2001 là 1.024 tỉ đồng, năm 2002 là 1.441 tỉ đồng,
năm 2003 là 1.859 tỉ đồng. Mức tăng trởng của doanh thu phí bảo hiểm phi nhân
thọ trong thị trờng 6 tháng đầu năm nay đạt 29% so với cùng kỳ năm trớc.(Nguồn:
Hiệp Hội Bảo hiểm Việt Nam)
1.3.2.Tình hình thị trờng của một số ngành bảo hiểm quan trọng
a.Thị tr ờng bảo hiểm xe cơ giới.
Sự phát triển của thị trờng bảo hiểm cũng Theo thống kê thì bảo hiểm
trách nhiệm xe cơ giới có mức tăng trởng cao nhất, tới hơn 65%. Nguyên nhân
đơn giản là do nhà nớc ra chế tài xử phát với các chủ xe không có giấy chứng
nhận bảo hiểm trách nhiệm chủ xe cơ giới theo Nghị định 15 và lực lợng cảnh sát
giao thông tăng cờng công tác kiểm tra để lập lại trật tự an toàn giao thông tại các
thành phố lớn trong cả nớc. Xếp thứ hai về mức độ tăng trởng là bảo hiểm hàng
hóa. Chỉ tính riêng nửa đầu năm nay, Việt Nam đã nhập khẩu 12,15 tỉ USD, tăng
38,5% so với cùng kỳ 2002, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng nh máy móc,
thiết bị, xăng dầu và sắt thép. Còn kim ngạch xuất khẩu đạt 9,775 tỉ USD, tăng
gần 32,6%, chủ yếu ở các mặt hàng nh dệt may, gạo và thủy sản. Đứng thứ ba là