SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI LỚP MẦM 1
TRƯỜNG MẦM NON KRÔNG ANA YÊU THÍCH HỌC
CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
Lý do lý luận
Trẻ em là tương lai của đất nước, một đất nước muốn phồn thịnh, dân
giàu nước mạnh thì chúng ta phải biết quan tâm đầu tư cho thế hệ trẻ với mong
muốn một cuộc sống tươi sáng, tốt đẹp vậy mỗi một cá nhân hãy chung tay cùng
toàn xã hội quan tâm tới giáo dục từ ngay bây giờ, ngay lúc này để ươm mầm ra
những con người toàn diện cả về nhận thức và nhân cách để gánh vác sự nghiệp
của dân tộc.
Đảng và nhà nước ta luôn chú trọng quan tâm, đầu tư cho nền giáo dục
của nước nhà nói chung và nền giáo dục mầm non nói riêng đúng như vậy bậc
học mầm non là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho trẻ phát triển cả về
nhân cách lẫn con người toàn diện cho một xã hội phát triển.
Lý do thực tiễn
Trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi là một cột mốc quan trọng trong những năm đầu
đời vì giai đoạn này trẻ có khả năng ngơn ngữ phát triển mạnh mẽ tiến nhanh
vượt bậc và cụ thể là:
Hiểu được hầu hết các từ nói được
Có thể nghe câu chuyện 10-15 phút.
Nói được tên và tuổi của mình.
Nói được từ khoảng 250 đến 500 từ
Vì lí do đó mà cần cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học khi trẻ 3 - 4
tuổi đóng vai trị tích cực cả về phát triển nhận thức cũng như ngôn ngữ.
Những năm gần đây giáo dục không ngừng đổi mới và phát triển mạnh
mẽ, trẻ được học bài bản và đầu tư kĩ lưỡng ngay từ khi lọt lòng, trẻ được học
hát, học đọc, học kể chuyện và làm quen với những kĩ năng ban đầu những kĩ
năng này sẽ được hình thành cho trẻ và là bước đệm đầu tiên theo trẻ cho đến
ngữ của trẻ, dạy trẻ phát âm chính xác các âm tiết của tiếng mẹ đẻ, hiểu được sự
phong phú của tiếng Việt thông qua các tác phẩm mà trẻ được học… văn học
còn giúp trẻ rèn luyện và phát triển khả năng sử dụng ngôn ngữ mạch lạc khi
tham gia vào quá trình giao tiếp.
Cho trẻ làm quen các tác phẩm văn học từ khi trẻ 3 -4 tuổi mở rộng vốn
từ cho trẻ, qua việc đọc thơ nghe kể chuyện trẻ được làm quen với các từ vựng
mới qua đó phát triển ngơn ngữ nhanh hơn nhiều gia đình Việt hiện nay cho con
em mình tiếp cận với máy tính, điện thoại từ rất sơm trẻ từ mười mấy tháng đã
xem điện thoại, coi tivi đó là một cản trở cho việc phát triển ngơn ngữ ở trẻ
ngoài ra cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học từ khi còn học mẫu giáo đó
chính là trẻ được đến với thế giới nhân văn, đạo đức từ đó hướng trẻ tới chân –
thiện – mĩ của những giá trị cao đẹp ngày nay.
Đối tượng nghiên cứu trẻ 3 – 4 tuổi lớp Mầm 1 Trường Mầm Non Krông
Ana : Gồm 25 trẻ.
2
Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp Mầm 1 giai đoạn bắt đầu thực nghiệm
nghiên cứu từ tháng 4 năm 2018 đến hết tháng 3 năm 2019.
Tóm lại việc cho trẻ tiếp xúc và làm quen các tác phẩm văn học từ bậc
học mầm non là vô cùng quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển của trẻ cả
về ngôn ngữ lẫn nhận thức xuất phát từ thực tiễn quan trọng đó và một thời gian
nghiên cứu và khảo nghiệm tôi nhận thấy được tầm quan trọng cũng như những
lợi ích mang lại cho trẻ cho nên tơi đã chọn đề tài để nghiên cứu.
II. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài nói trên nhằm giải quyết những thực trạng
hiện nay trong giáo dục là chưa quan tâm chú trọng nhiều vào việc cho trẻ làm
quen các tác phẩm văn học hơn thế nữa là việc ứng dụng và phát huy việc dạy
học hiệu quả linh động trong các tiết học để đem lại kết quả tốt hơn cho môn
học này.
từ quen thuộc và riêng lẻ sau đó một số trẻ sẽ tập nói lặp lại sau khi được người
lớn nói nhưng bên cạnh đó một số trẻ chỉ trả lời phi ngôn ngữ hay những đáp án
trả lời là có hoặc khơng, một số trẻ khác lại chọn cho mình cách im lặng nếu như
vậy ngôn ngữ của trẻ không phát triển mà nếu có phát triển thì sẽ khơng đa
dạng, phong phú.
Chính vậy các nghiên cứu về ngôn ngữ đã khẳng định sự phát triển ngôn
ngữ ngắn liền với sự phát triển tư duy của trẻ em giúp trẻ nhận thức thế giới bên
ngồi vì thế chúng ta ln thấy trẻ 3 – 4 tuổi ln xuất hiện câu hỏi “Tại sao ?”
“Vì sao” qua điều này khẳng định việc phát triển ngôn ngữ của trẻ nhanh hay
chậm phần nào đó tùy thuộc vào điều kiện sống quan hệ giao tiếp với mọi người
xung quanh.
Qua việc cho trẻ làm quen văn học chính là hình thành cho trẻ những tình
cảm đạo đức tốt đẹp, những cảm xúc thẩm mỹ phát triển trí tưởng tượng như
lòng yêu thiên nhiên cỏ, cây, hoa lá, lòng kính trọng yêu thương những người
gần gũi và giúp đỡ những người xung quanh như ông, bà , bố, mẹ, cô giáo…
Thông qua hoạt động này trẻ tái tạo sáng tạo thêm những tình tiết của tác
phẩm một cách hồn nhiên phù hợp với lứa tuổi, việc trẻ làm quen với các tác
phẩm văn học giúp trẻ thuộc thơ, kể lại được những câu chuyện làm được như
vậy là chúng ta đã đạt được mục đích của mơn học.
Làm quen văn học bản thân tôi đã nghiên cứu, suy nghĩ, lựa chọn những
phương pháp, biện pháp linh hoạt để hướng dẫn trẻ vào hoạt động một cách tốt
nhất cũng như đối với bản thân tôi trong các môn học cho trẻ làm quen ở bậc
học mầm non thì mơn làm quen văn học tơi nhận thấy các trẻ cịn yếu, trẻ chỉ
đọc thơ, kể chuyện theo bản năng nhưng chưa thấy được cái hay, cái đẹp và ý
nghĩa thực thụ của mỗi tác phẩm mà trẻ được làm quen. Đứng trước tình hình
đó, bản thân tơi ln trăn trở một suy nghĩ là mình phải có biện pháp thế nào để
trẻ thêm yêu các tác phẩm văn học cũng như yêu tiếng Việt.
II. Thực trạng vấn đề:
Trong thực tế việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học chỉ mang
tính chất đáp ứng đủ chương trình mà chưa chú ý nhiều đến việc cảm thụ văn
mầm non và những suy nghĩ đã ăn mòn vào những nếp nghĩ từ xa xưa là học
mầm non chủ yếu là chơi tự do và như vậy đã làm mất đi những nề nếp, khuôn
khổ trong thời gian trẻ ở trường với cô và các bạn.
Một yếu tố chủ quan nữa đến từ các bậc phụ huynh khơng hề nhỏ đó
chính là việc ở trên lớp giáo viên chủ nhiệm đã dạy trẻ về tấm gương đạo đức
qua các tiết học đọc văn thơ, kể chuyện nhưng về nhà phụ huynh lại không
thường xuyên nhắc nhở giáo dục trẻ theo những hình mẫu mà cô đã nêu ra và
tưởng trừng như chỉ là đơn giản vô hại nhưng đã tạo ra sự ngăn cản cũng như
ranh giới giữa lời nói của cơ và gia đình trẻ. Vậy phụ huynh phải thường xuyên
trao đổi với giáo viên chủ nhiệm cũng như nắm bắt được tình hình học của trẻ ở
trường hàng ngày, hàng tuần để có biện pháp giáo dục phù hợp đồng bộ mang
lại hiệu quả cao hơn.
Mặc dù lớp học đã được trường và phòng giáo dục quan tâm cũng như
huyện đã đầu tư cho cơ sở vật chất nhưng trang thiết bị dạy và học cịn thiếu
thốn nhiều do đó để đầu tư cho một tiết dạy thực sự có hiệu quả cũng như đem
lại kết quả tốt thì chưa được nhiều.
III.
Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
5
1. Giải pháp 1: Đầu tư vào tiết dạy, chuẩn bị đồ dùng đồ chơi đẹp mắt,
kích thích, hấp dẫn trẻ cũng như tạo môi trường cho trẻ hoạt động.
Trẻ mầm non đặc điểm tâm sinh lý khi học dễ nhớ nhưng cũng dễ quên vì
thế những gì giáo viên dạy cho trẻ cần được nhắc thường xuyên và làm quen
nhiều lần , hơn thế trẻ mẫu giáo tư duy trực quan sinh động phát triển mạnh mẽ
cái gì đẹp, hấp dẫn trẻ sẽ làm trẻ kích thích chú ý vào đối tượng đó lâu dài. Một
tiết dạy làm quen văn học chỉ đạt hiệu quả trên trẻ tốt nhất khi trẻ ghi nhớ u
thích các tác phẩm nói trên.
6
quen với cái bắp cải xanh, ngồi viêc cơ giáo lấy bắp cải làm phương tiện dạy
học thì trẻ sẽ được trải nghiệm cuộc sống hằng ngày bằng việc dùng tay tách
từng chiếc lá của bắp cải. Qua tiết dạy này giáo viên sử dụng một phương tiện
dạy học nhưng đạt được hai mục đích. Thứ nhất trẻ đọc bài thơ bắp cải qua hình
ảnh thực trẻ sẽ hứng thú hơn, hai là sử dụng bắp cải trẻ được thực hành cuộc
sống, tách lá, nhạt rau… trẻ hứng khởi hơn rất nhiều những tiết dạy thơng
thường.
Tóm lại việc sử dụng đồ dùng phục vụ tiết dạy môn làm quen văn học cơ
giáo có thể sử dụng đồ vật thật, hay đồ vật tự làm tùy thuộc vào từng đề tài
cũng như nguyên vật liệu có sẵn tại lớp tại trường để lên tiết cho phù hợp và trẻ
yêu thích, ưu tiên cho việc tận dụng đồ dùng đồ chơi có sự tái chế và nguồn
nguyên liệu có sẵn tại địa phương để giảm áp lực cho giáo viên khi lựa chon tiết
dạy.
Bên cạnh việc có đồ dùng đồ chơi phục vụ cho tiết dạy biện pháp tối ưu
khơng kém đó là tạo môi trường cho trẻ hoạt động bằng cách đưa các nhân vật
của câu chuyện nổi bật vào góc văn học cho trẻ hoạt động thường ngày và qua
những hình ảnh đó trẻ có thể vận dụng vào kể chuyện sáng tạo theo ý tưởng sự
hiểu biết của từng trẻ.
Ví dụ: Để tạo mơi trường cho trẻ được thường xuyên làm quen với các tác
phẩm văn học cô giáo tổ chức các hội thi “Bé nào giỏi” thi đua đọc thơ to, thơ
diễn cảm, thơ sáng tạo giữa các tổ, giữa các nhóm, giữa các cá nhân trẻ với nhau
như vậy môi trường để trẻ thường xuyên đọc thơ, kể chuyện đã được cô giáo tận
dụng hàng ngày ở trên lớp.
Đối với các ngày mà trẻ không được học mơn làm quen với các tác phẩm
văn học thì tơi sẽ sử dụng bài thơ, câu ca dao, câu đố vào những môn học khác
để dẫn dắt cho tiết học ngày hơm đó với mong muốn là trẻ được tiếp xúc cũng
như làm quen với môn văn học nhiều hơn.
giọng thay đổi liên tục từ quát nạt hống hách đến ngần ngừ, sợ sệt.
Giáo viên khi cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học cũng cần phải tìm
hiểu, nghiên cứu thật rõ nội dung của tác phẩm để khi thể hiện trước trẻ cô phải
biết ngắt quãng, thay đổi giọng điệu để phù hợp với bài thơ,câu chuyện.
Ví dụ: Bài thơ “Giữa vịng gió thơm”
Trong bài thơ này cô cần thể hiện giọng đọc phù hợp như khi đọc tới câu
thơ để cho bà ngủ thì giọng đọc của cơ lên xuống nhẹ nhàng ra vẻ nhắc nhở để
làm cho bài thơ thêm phần tình cảm.
Việc sử dụng giọng đọc hay diễn cảm đóng vai trò quan trọng trong việc
truyền thụ một tác phẩm văn học cũng như cô giáo cần linh hoạt trong các tiết
học, sáng tạo để có thể tổ chức một tiết văn học thành những hội thi, thành
những lễ hội biểu diễn để tạo sự mới mẻ cho tiết học cũng như sự mới lạ đối với
trẻ thay vì tổ chức một tiết học với những hình thức cũ để làm được như vậy
giáo viên không ngừng cố gắng học tập tìm tịi để tạo ra một tiết học hay mới lạ
cho trẻ.
Khi tiết dạy đã được đầu tư công phu thì một biện pháp bổ trợ cho các tiết
dạy với đóng góp khơng nhỏ đó là hệ thống các câu hỏi hay, hấp dẫn, bất ngờ
nhằm mục đích hệ thống lại câu chuyện để cho trẻ dễ nhớ và hiểu sâu sắc hơn về
tác phẩm được làm quen. Để có được các câu hỏi hệ thống lại câu chuyện đòi
hỏi giáo viên phải chú trọng vào nội dung để chắt lọc ra các câu hỏi mang tính
khoa học nhưng lại phải gần gũi so với trẻ để trẻ dễ hiểu, dễ trả lời.
8
Ví dụ: Trong bài thơ “Gà mẹ đếm con”
Cơ giáo có thể sử dụng hệ thống câu hỏi như sau:
- Các con vừa đọc bài thơ có tên là gì? Do ai sáng tác?
- Gà mẹ đã làm gì để biết số con của mình?
- Đàn gà con tranh nhau nhặt cái gì?
- Vì sao Gà mẹ phải đếm lại con?
Biện pháp tích hợp mơn văn học với các mơn học khác, các trò chơi cho trẻ
kể chuyện sáng tạo là việc cung cấp thêm một số kiến thức bổ trợ cho câu
9
chuyện sinh động cũng như ở lứa tuổi này trẻ thường mau nhớ chóng qn nên
tơi đã đưa văn học vào mọi lúc nơi có thể giờ đón trẻ tơi đưa trẻ vào góc văn học
cho trẻ kể chuyện sáng tạo cũng như củng cố kiến thức cũ làm quen kiến thức
mới đây là hình thức cho trẻ trải nghiệm những gì mình sẵn có cũng như học tập
ở bạn ở cơ từ đó trẻ cảm thấy tự tin và thoải mái hơn khi học.
Ví dụ: Cho trẻ học làm quen với hoạt động góc, trong buổi chơi hoạt động
góc, ở góc nghệ thuật thay vì cho trẻ đọc thơ, kể chuyện như mọi lần thì tơi tổ
chức hội thi “Bé làm nhà thơ” để trẻ đọc thơ, ngâm thơ, kể chuyện bằng âm
nhạc…thay đổi hình thức chơi mới sẽ kích thích trí tị mị, tưởng tượng của trẻ.
Nhưng khi cho trẻ tích hợp mơn văn học với các mơn học khác cô giáo phải
là người dẫn dắt linh hoạt lựa chọn nội dung câu chuyện bài thơ, câu đố cho phù
hợp với độ tuổi cũng như phù hợp với đề tài của tiết dạy ngày hơm đó.
4. Giải pháp 4: Giáo viên phối kết hợp với phụ huynh và các tổ chức
trong nhà trường thường xuyên cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học.
Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non phụ thuộc nhiều
vào sự tham gia đóng góp của gia đình trẻ. Trẻ ở trường đã được làm quen tiếp
xúc với các tác phẩm văn học khi về nhà cha mẹ là người tạo điều kiện cho trẻ
thể hiện bằng cách trò chuyện cùng trẻ hỏi trẻ ngày nay ở trường trẻ đọc những
bài thơ, câu chuyện gì từ đó trẻ lại một lần nữa nghi nhớ và được thể hiện lại tác
phẩm cho gia đình của mình.
Việc gia đình trẻ và cơ giáo thường xuyên trao đổi tình hình của trẻ ở
trường ở nhà đã tạo được sợi dây liên kết chặt chẽ, lâu dài sẽ tìm ra tiếng nói
chung nhất trong việc cùng nhau chăm sóc và giáo dục trẻ vì mục đích là làm
những gì tốt nhất cho trẻ.
Ngồi ra cô giáo cũng tham mưu với nhà trường tổ chức cuộc thi, hội thi
theo lớp, tổ, nhóm, cá nhân thì bây giờ ta chú trọng đến sự phát triển của từng cá
nhân trẻ bằng cách nếu trẻ thuộc thơ, chuyện thì đọc cả bài, kể chuyện theo đoạn
hoặc tự chọn hình thức thể hiện mà trẻ muốn cịn những trẻ chưa thuộc thì đọc
một câu, hai câu tùy vào khả năng, như vậy giáo viên đã tổ chức tiết học mà tất
cả trẻ đều được học và tham gia đầy đủ. Sau khi cá nhân trẻ thể hiện xong chúng
ta cho trẻ tự đánh giá lẫn nhau để thể hiện sự dân chủ, tôn trọng đến từng cá
nhân một của lớp.
Xây dựng môi trường học tập lấy trẻ làm trung tâm trong việc cho trẻ làm
quen với các tác phẩm văn học bằng cách cô và trẻ cùng chuẩn bị đồ dùng của
tiết học cũng như cho trẻ tự sáng tạo nội dung tác phẩm theo hướng dẫn, chỉ
đường của cơ có như vậy chúng ta mới tỏ ra tôn trọng ý tưởng của trẻ cũng như
chúng ta thật sự hiểu được trong sâu thẳm trẻ nghĩ gì để có cách điều chỉnh và
định hướng kịp thời trong tương lai.
V. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm:
Sáng kiến sẽ được áp dụng vào vào đối tượng là trẻ 3 – 4 tuổi tại trường
Mầm Non Krông Ana.
Theo bản thân cá nhân tôi khi sáng kiến này được áp dụng thì trẻ sẽ có cơ
hội được làm quen với các tác phẩm văn học nhiều hơn vì chúng ta đã biết lồng
ghép văn học vào các môn học khác nhau cũng như đã cho trẻ tiếp xúc với bộ
môn này ở mọi lúc mọi nơi cũng như được làm quen thể hiện với nhiều hình
thức nghệ thuật khác nhau (đọc, kể, hò ,vè…) và thường xuyên tạo môi trường
học cho trẻ.
11
Sau khi được áp dụng và thử nghiệm trên trẻ, trẻ sẽ mạnh dạn tự tin hơn
đối với môn học này và các mơn học khác nữa ngồi ra việc quan trọng khơng
kém đó chính là sự phát triển ngơn ngữ ngày càng mạnh mẽ, ngôn ngữ đa dạng
phong phú hơn vì trẻ được trải nghiệm với nhiều thể loại như thơ, chuyện,đồng
dao, ca dao… bên cạnh đó nhờ việc được làm quen với nhiều bài ca dao đồng
cho trẻ.
Từ những tác phẩm văn học trẻ được phát triển về tâm hồn cũng như đức
– trí – thể - mĩ, để hướng tới một con người toàn diện cho một xã hội ngày càng
12
phát triển và hình thành nhân cách cho trẻ ngay từ bậc học mầm non đó là tầm
quan trọng của mơn văn học mang lại cho trẻ em nói chung và trẻ em ở lứa tuổi
mẫu giáo nói riêng đó là mục đích của sáng kiến kinh nghiệm mà tơi muốn
hướng tới lâu dài.
II. Kiến nghị
Để thực hiện tốt đề tài này và mong muốn đề tài được phổ biến rộng rãi
hơn tôi là người trực tiếp giảng dạy mong muốn lãnh đạo cấp trên quan tâm bổ
sung thêm các trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi hiện đại để tạo ra các tiết dạy hay,
hứng thú, sáng tạo để phục vụ tới trẻ.
Đề xuất tới lãnh đạo cấp trên thường xuyên tổ chức thật nhiều chuyên đề
mang phạm vi các trường, các huyện để giáo viên được học hỏi, trao đổi kinh
nghiệm của bản thân đối với đồng nghiệp ở khắp mọi nơi hay các cuộc thi làm
đồ dùng đồ chơi tự tạo cho giáo viên và học sinh được trải nghiệm cùng nhau
cùng tìm ra tiếng nói chung cho các hoạt động dạy và học .
Mong muốn lãnh đạo cấp trên cũng thường xuyên tổ chức các hội thi
mang tính chất bảo tồn, duy trì những câu ca dao, câu tục ngữ đã mai một để nó
được sống lại cũng như gần gũi hơn với trẻ ở độ tuổi mầm non.
Để hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này, mặc dù được sự quan tâm
giúp đỡ của các chị em đồng nghiệp và đặc biệt của ban giám hiệu nhà trường.
Nhưng khơng tránh khỏi những thiếu sót rất mong được sự đóng góp ý kiến của
lãnh đạo cấp trên để sáng kiến ngày càng hồn thiện hơn.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
Buôn trấp, ngày 8 tháng 4 năm 2019
Trang
Phần thứ nhất: Mở đầu ..................................................................................... 1
I. Đặt vấn đề .......................................................................................................... 1
II. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................ 3
Phần thứ 2: Giải quyết vấn đề ........................................................................... 3
I. Cơ sở lí luận của vấn đề ..................................................................................... 3
II. Thực trạng của vấn đề ...................................................................................... 4
III. Các giải pháp để tiến hành giải quyết vấn đề .................................................. 5
1. Giải pháp 1 ........................................................................................................ 5
2. Giải pháp 2 ........................................................................................................ 7
3. Giải pháp 3 ........................................................................................................ 8
4. Giải pháp 4 ........................................................................................................ 9
IV. Tính mới của giải pháp ................................................................................. 10
V. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm .................................................................... 10
Phần thứ 3: Kết luận, kiến nghị ....................................................................... 11
I. Kết luận ............................................................................................................ 11
II. Kiến nghị ........................................................................................................ 12
16
17