THỰC TRẠNG VỀ NGHIỆP VỤ KINH DOANH NGOẠI TỆ BẰNG
CÔNG CỤ PHÁI SINH TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG CHI
NHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
2.1 Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng Ngoại thương – Chi nhánh
Thành phố Hồ Chí Minh.
2.1.1 Vị trí của Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa –
hiện đại hóa đất nước.
Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang tự khẳng định là một trung tâm nhiều chức
năng: kinh tế, thương mại, tài chính, giao lưu quốc tế, khoa học, văn hóa... của khu vực
Nam Bộ và cả nước. Theo hướng phát triển hiện nay, thì TP.HCM đang và sẽ là "hạt
nhân" của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Bà
Rịa - Vũng Tàu) đồng thời vẫn là một đô thị lớn nhất trong "chùm đô thị" sẽ hình thành
theo trục TP.HCM - Vũng Tàu trong 15 - 20 năm tới. Chùm đô thị này, không chỉ có vị
trí đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế của nước ta, mà còn có vị trí quan trọng trong
mối quan hệ với các đô thị khác ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á.
Cho đến năm 2010, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là một trung tâm công nghiệp
hàng đầu của cả nước, xét về phương diện tỷ trọng, mặc dù trong thời kỳ này sẽ hình
thành nhiều khu công nghiệp lớn khác trong cả nước. Các khu công nghiệp tập trung
được hình thành trên địa bàn của 6 huyện ngoại thành hiện nay sẽ tiếp tục củng cố vai
trò trung tâm công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, vai trò này sẽ giảm
dần ở thời kỳ sau năm 2010, khi các khu công nghiệp khác của vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam (Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu) và quá trình công nghiệp hóa ở
các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đạt bước phát triển đáng kể.
Cho đến năm 2010, vai trò trung tâm thương mại - dịch vụ, đầu mối giao lưu
quốc tế đối với khu vực và cả nước vẫn chưa có nơi nào vượt được vị thế của Thành
phố Hồ Chí Minh. Nhưng khác với công nghiệp, ngành thương mại - dịch vụ của Thành
phố Hồ Chí Minh ngày càng có vị trí quan trọng hơn trong quá trình công nghiệp hóa
toàn khu vực. Tốc độ công nghiệp hóa cả khu vực Nam bộ càng nhanh, thì vai trò trung
tâm thương mại - dịch vụ của Thành phố Hồ Chí Minh càng quan trọng, chứ không bị
chia sẻ bớt.
Cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh sẽ là một bộ phận cấu thành chỉnh thể
cho việc cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Lộ trình cổ phần hóa Ngân
hàng Ngoại thương sẽ được tiến hành theo từng giai đoạn. Bước đầu, Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam sẽ bán cổ phần theo nhiều đợt cho các đối tượng nhà đầu tư trong
nước và đối tác chiến lược nước ngoài nhưng vẫn đảm bảo tỷ lệ Nhà nước sở hữu vốn
điều lệ của Ngân hàng Ngoại thương không thấp hơn 70%. Trong giai đoạn tiếp theo,
dự kiến đến năm 2010, Ngân hàng Ngoại thương tiếp tục bán cổ phần để tăng vốn điều
lệ nhưng tỷ lệ Nhà nước sở hữu vốn điều lệ của Ngân hàng Ngoại thương sẽ được duy
trì ở mức không thấp hơn 51%.
Năm 2007 là mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam với một loạt sự kiện như ký hợp đồng tư vấn quốc tế, xây dựng
phương án cổ phần hóa trình Chính phủ phê duyệt, lựa chọn nhà đầu tư chiến lược
nước ngoài, chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng và niêm yết cổ phiếu của Ngân
hàng trên sàn giao dịch chứng khoán, đặc biệt Ngân hàng Ngoại thương được bầu chọn
là “Ngân hàng cung cấp dịch vụ ngoại hối cho doanh nghiệp tốt nhất năm 2007” do tạp
chí Asia Money bình chọn.
Ngân hàng Ngoại thương – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh được xem là chi
nhánh có tổng tích sản lớn nhất tại Thành phố và đạt mức tăng trưởng hàng năm trên
15%. Nguồn vốn huy động liên tục tăng và chiếm trên 1/5 tổng nguồn vốn của toàn bộ
các tổ chức tín dụng trên địa bàn. Là trung tâm về thanh toán quốc tế (chiếm 40% tổng
kim ngạch thanh toán xuất nhập khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh), là đầu mối về kinh
doanh ngoại tệ và là một trong những ngân hàng hàng đầu trong các lĩnh vực đầu tư tín
dụng, bảo lãnh, thanh toán hối đoái, nghiệp vụ ngân quỹ và dịch vụ thanh toán thẻ ...
Với đội ngũ cán bộ được đào tạo lành nghề, nhiệt tình, năng động và dày dạn
kinh nghiệm, cùng với hệ thống trang thiết bị tin học tiên tiến, Ngân hàng Ngoại thương
– Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh đang phấn đấu trở thành một ngân hàng hiện đại.
2.2 Thực trạng về nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ bằng công cụ phái sinh
tại Ngân hàng Ngoại thương – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2.1 Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn.
a. Thực trạng các giao dịch ngoại tệ kỳ hạn tại VCB-HCM.
Từ khi ra đời năm 1998 đến nay, giao dịch ngoại tệ kỳ hạn đã được VCB-HCM
Doanh số
giao ngay
(%) kỳ hạn /
giao ngay
Tổng doanh
số giao dịch
(%) kỳ hạn /
tổng doanh số
1998 163,15 1.386,79 11,76 1.702,49 9,58
1999 176,90 1.724,68 10,26 2.113,72 8,37
2000 190,25 2.467,16 7,71 2.951,01 6,45
2001 211,69 2.479,39 8,54 3.015,88 7,02
Năm Doanh số kỳ
hạn
Doanh số
giao ngay
(%) kỳ hạn /
giao ngay
Tổng doanh
số giao dịch
(%) kỳ hạn /
tổng doanh số
2002 234,04 2.669,31 8,77 3.277,05 7,14
2003 280,21 2.976,79 9,41 3.629,10 7,72
2004 393,42 3.344,09 11,76 4.074,62 9,66
2005 550,53 4.420,47 12,45 5.372,90 10,25
2006 693,48 5.894,61 11,76 7.058,65 9,82
2007 841,26 7.886,09 10,67 9.284,59 9,10
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh)
Theo Quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN thì các Ngân hàng thương mại được
hợp của Ngân hàng Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh)
b. Xác định những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình giao dịch
ngoại tệ kỳ hạn của VCB-HCM.
Bảng 2.3 cho thấy doanh số mua kỳ hạn của Ngân hàng rất lớn so với doanh số
bán và chiếm khoảng 90% doanh số giao dịch kỳ hạn, chứng tỏ doanh nghiệp chủ yếu
là bán kỳ hạn cho Ngân hàng khoản ngoại tệ thu được từ hoạt động xuất khẩu. Tình
trạng này diễn ra trong thời gian dài và có xu hướng tiếp tục duy trì, có phải các doanh
nghiệp nhập khẩu không cần đến hợp đồng mua ngoại tệ kỳ hạn để bảo hiểm rủi ro hối
đoái, hay VCB-HCM không đủ khả năng cung cấp hợp đồng bán ngoại tệ kỳ hạn cho
khách hàng, hay cơ chế bảo hiểm kiểm soát giá của Ngân hàng Nhà nước đã gián tiếp
phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho các nhà nhập khẩu. Thực tế cho thấy, khối lượng nhập
khẩu của các doanh nghiệp ngày càng tăng và nhu cầu ngoại tệ cho thanh toán là rất
lớn, trong đó những hợp đồng trả chậm chắc chắn sẽ cần hợp đồng kỳ hạn để bảo hiểm
rủi ro ngoại hối và nguồn lực ngoại tệ của VCB-HCM cũng rất lớn so với việc đáp ứng
đầy đủ nhu cầu của khách hàng, còn tỷ giá giao ngay do Ngân hàng Nhà nước công bố
tại từng thời điểm là dựa trên cơ sở khách quan – cung cầu ngoại tệ trên thị trường liên
ngân hàng và khi giao dịch các ngân hàng có thể sử dụng thêm biên độ dao động (biên
độ này do Ngân hàng Nhà nước quy định tùy từng thời kỳ). Do đó, ba giả thiết trên đều
bị bác bỏ. Như vậy, vấn đề còn lại là tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay tại thời điểm thực
hiện hợp đồng kỳ hạn.
Bảng 2.3 – Doanh số giao dịch kỳ hạn và các tỷ lệ tại VCB-HCM
Đơn vị tính: triệu USD
Năm Doanh số
kỳ hạn
Mua Bán (%) bán /
mua
(%) mua /
doanh số kỳ
hạn
(%) bán /
nước Việt Nam công bố và lãi suất mục tiêu đôla Mỹ do Cục dữ trữ liên bang Mỹ (Fed
Funds Target Rate) công bố; (iii) và kỳ hạn của hợp đồng”. Cách tính toán này có phần
chính xác hơn, đó là dựa vào hai mức lãi suất cơ bản của VND và USD, nhưng thực tế
giao dịch kỳ hạn vẫn chưa được sử dụng nhiều mà chủ yếu vẫn là giao dịch giao ngay.
Căn cứ vào Quyết định số 648, công thức tính tỷ giá kỳ hạn hình thành như sau:
F = S + S.(R
T
– R
C
).t/(1+ R
C
.t)
Công thức gần đúng:
F = S + S.(R
T
– R
C
).t
Công thức tính điểm kỳ hạn:
f = S.(R
T
– R
C
).t
Trong đó:
- F: tỷ giá kỳ hạn.
- S: tỷ giá giao ngay.
- R
T
: lãi suất cơ bản VND (%/năm).