MỤC LỤC
Tran
g
MỞ ĐẦU
5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 8
1.1. KHÁI LUẬN VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 8
1.1.1. Những rủi ro trong hoạt động xuất khẩu.
9
1.1.2. Tính chất của các rủi ro trong hoạt động xuất khẩu.
11
1.2. PHÂN LOẠI RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 11
1.2.1. Nhóm rủi ro xuất khẩu do các yếu tố khách quan đưa lại.
11
1.2.2. Nhóm rủi ro xuất khẩu do các yếu tố chủ quan đưa lại.
13
1.3. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU. 15
1.3.1. Đối với nền kinh tế thế giới.
15
1.3.2. Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia.
16
1.3.3. Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với các doanh nghiệp.
19
1.4.ẢNH HƯỞNG CỦA RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 20
1.4.1. Tác động của rủi ro đến hoạt động kinh doanh quốc tế nói chung
và xuất khẩu nói riêng
20
1.4.2. Lợi ích của việc hạn chế rủi ro trong hoạt động xuất khẩu
21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO VÀ TÌNH HÌNH HẠN CHẾ RỦI RO TRONG
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.2. TÌNH HÌNH NGĂN NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO XUẤT KHẨU TRONG NHỮNG
NĂM QUA.
58
2.2.1. Nguyên nhân của các rủi ro trong hoạt động xuất khẩu:
58
2.2.2.1. Nguyên nhân khách quan
58
2.2.2.2. Nguyên nhân chủ quan
60
2.2.2. Việc hạn chế rủi ro trong hoạt động xuất khẩu.
64
Kết luận chương 2.
66
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI
67
3.1. QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO. 67
3.2. GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC. 68
3.2.1. Thiết lập chính sách ngoại thương có tính chiến lược và duy trì một
cơ chế điều hành xuất nhập khẩu ổn định, lâu dài nhằm hạn chế rủi
ro, chính trị, pháp lý.
69
3.2.2. Nhanh chóng thiết lập Trung tâm thông tin phòng ngừa và hạn chế
rủi ro xuất khẩu.
69
3.2.3. Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, nâng cao hiệu quả hoạt
động của bộ phận làm công tác thương vụ ở nước ngoài.
70
3.2.4. Mở rộng các hoạt động tài trợ, tư vấn xuất khẩu.
71
3.3.6.4. Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong quá trình
thanh toán, mua bảo hiểm.
87
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT TÊN BẢNG BIỂU Trang
BẢNG 01
Xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 1997 – 2001
22
BẢNG 02
Tình hình xuất khẩu dầu thô giai đoạn 1997 - 2001
24
BẢNG 03
Tình hình xuất khẩu hàng dệt may và giày dép giai đoạn 1997 - 2001
26
BẢNG 04
Tình hình xuất khẩu gạo giai đoạn 1997 – 2001
32
BẢNG 05
Tình hình xuất khẩu cà phê giai đoạn 1997 - 2001
34
BẢNG 06
Tình hình xuất khẩu cao su giai đoạn 1997 - 2001
37
BẢNG 07
Tình hình xuất khẩu thuỷ sản giai đoạn 1997 - 2001
41
BẢNG 08
Kim ngạch xuất khẩu sang Philipin 1997 - 2001
100
PHỤ LỤC 9
Kim ngạch xuất khẩu sang Anh 1997 - 2001
101
PHỤ LỤC 10
Kim ngạch xuất khẩu sang Hồng Kông 1997 - 2001
102
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian gần đây đạt mức
tăng trưởng khá cao (từ 18% - 20%) góp phần đáng kể vào việc tăng trưởng
kinh tế hàng năm. Nhưng hoạt động xuất khẩu càng gia tăng thì rủi ro của
việc xuất khẩu ngày càng lớn. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để ngăn
ngừa và hạn chế tối đa những rủi ro, nhằm duy trì và nâng cao kim ngạch xuất
khẩu cho Việt Nam trong thời gian tới.
Ngày nay, xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế toàn cầu. gia tăng làm cho
các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế. Trong bối cảnh đó,
việc tất yếu là các quốc gia phải mở cửa để hội nhập vào kinh tế khu vực và
thế giới. Việc đẩy mạnh xuất khẩu là mục tiêu hàng đầu không chỉ đối với
Việt Nam mà với nhiều quốc gia trên thế giới. Việt Nam khó có thể đẩy mạnh
xuất khẩu và đảm bảo hiệu quả xuất khẩu nếu như không có những biện pháp
hữu hiệu để phòng tránh, hạn chế những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình
xuất khẩu.
Việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá những rủi ro phát sinh trong quá
trình xuất khẩu của Việt Nam nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng
qua từng thời kỳ là hết sức cần thiết. Từ đó tìm ra những giải pháp khả thi
nhằm hạn chế rủi ro xuất khẩu. Điều này càng có ý nghĩa hơn với chủ trương
khuyến khích, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả xuất khẩu của Nhà nước. Vì
6
6. Dự kiến những đóng góp của luận văn:
Hệ thống hoá và luận giải những vấn đề lý luận về xuất khẩu của Việt
Nam trong hoạt động xuất khẩu.
Phân tích tác động của rủi ro đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam thời
gian qua và nguyên nhân của các rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của Việt
Nam.
Kiến nghị một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động xuất
khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục Tài liệu tham khảo
luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng rủi ro và tình hình hạn chế rủi ro trong hoạt động
xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua.
Chương 3: Một số giải pháp về phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt
động xuất khẩu của Việt Nam thời gian tới.
7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1.1. KHÁI LUẬN VỀ RỦI RO TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1.1.1. Những rủi ro trong hoạt động xuất khẩu:
Quan điểm của một số nhà Kinh tế học và học giả bảo hiểm trong và
ngoài nước: Kinh doanh là một trong những hoạt động đầy rủi ro mạo hiểm
và chấp nhận rủi ro trong kinh doanh từ lâu đã trở thành câu châm ngôn quen
thuộc của các nhà kinh doanh. Không dám mạo hiểm trong kinh doanh, đừng
nói đến kinh doanh, tuy nhiên, đó không phải là tất cả, chỉ có những người
biết phân tích, đánh giá và lường trước rủi ro thì mới có nhiều cơ may nhận
được khoản lợi nhuận trước đó, như là một "phần thưởng" cho sự dám chấp
nhận rủi ro, mạo hiểm có tính toán, cân nhắc của họ.
bất trắc có thể xảy ra trong quá trình xuất khẩu, làm giảm hiệu quả xuất
khẩu".
1.1.2. Tính chất của các rủi ro trong hoạt động xuất khẩu:
- Rủi ro có tính khách quan: mọi rủi ro đều có tính khách quan, chúng có
thể xảy ra bất cứ lúc nào và không phụ thuộc vào ý chí con người.
- Rủi ro mang tính lịch sử: ở mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi giai đoạn khác
nhau rủi ro có những đặc điểm khác nhau.
- Với xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế, chiến lược kinh tế quốc tế
ngày càng gia tăng mạnh mẽ, chiến lược kinh tế của các quốc gia đều hướng
mạnh về xuất khẩu, nên rủi ro xuất khẩu ngày càng đa dạng, phong phú và
phức tạp. Doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu có thể gặp rủi ro bất cứ lúc nào
từ khâu chuẩn bị nguồn hàng xuất khẩu, đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp
đồng đến khâu vận chuyển, giao nhận, thanh toán. Điều đó, luôn ảnh hưởng
9
tới hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp nói riêng và ảnh hưởng đến hiệu quả
xuất khẩu của toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Những bất trắc mặc dù không tác động trực tiếp đến quá trình xuất khẩu
nhưng làm giảm hiệu quả xuất khẩu của các doanh nghiệp thì cũng được coi
là rủi ro xuất khẩu, chẳng hạn như cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á vừa qua.
Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán và trao đổi hàng
hoá (bao gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình) trong nước. Khi sản
xuất phát triển và việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi (do các
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các thành phần kinh tế tiến hành), hoạt
động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của các quốc gia hoặc giữa thị
trường nội địa với các khu chế xuất trong nước. Kinh doanh xuất nhập khẩu
cũng chính là hoạt động kinh doanh quốc tế đầu tiên của một doanh nghiệp.
Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanh nghiệp đã đa dạng hoá các
hoạt động kinh doanh của mình.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về điều kiện không
gian lẫn thời gian. Nó có thể chỉ diễn ra trong thời gian rất ngắn, song cũng có
quá trình sản xuất, kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp, gây thiệt hại cho
doanh nghiệp. Những hậu quả rủi ro do thiên nhiên gây ra thường rất nghiêm
trọng, ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Ví dụ không
may do hạn hán hoặc lũ lụt trong nước, làm cho sản lượng thu hoặch thấp,
chất lượng kém, giá tăng cao. Doanh nghiệp thu mua không đủ số lượng để
giao, chất lượng hàng hoá không đạt tiêu chuẩn như đã ký. Cho nên doanh
nghiệp không thực hiện được hợp đồng, chịu bồi thường hoặc là thực hiện
nhưng bị thua lỗ. Mặc dù mức độ và hậu quả do rủi ro thiên nhiên thường rất
nghiêm trọng và khốc liệt song điều đó hoàn toàn không có ý nghĩa là chúng
ta không thể phòng ngừa và hạn chế rủi ro này trong hoạt động xuất khẩu.
11
- Rủi ro do chính sách ngoại thương thay đổi:
Chính sách ngoại thương là hệ thống các nguyên tắc, các biện pháp kinh
tế, hành chính, luật pháp nhằm thực hiện điều tiết các hoạt động mua bán
quốc tế của một Nhà nước trong một giai đoạn nhất định. Trong rủi ro do sự
thay đổi chính sách ngoại thương, doanh nghiệp có thể gặp rất nhiều rủi ro
khác nhau nhưng cơ bản nhất vẫn là những rủi ro do các qui định về hạn
ngạch, thủ tục hải quan, thuế xuất nhập khẩu và các quy định hành chính
khác.
Đây là loại rủi ro mà các nhà kinh doanh, nhất là các nhà xuất khẩu lo
ngại nhất. Bởi vì, trước khi xây dựng chiến lược kinh doanh xuất khẩu của
doanh nghiệp hay quyết định ký kết một hợp đồng xuất khẩu, doanh nghiệp
phải nghiên cứu tình hình kinh tế - xã hội và dựa trên các qui định pháp luật
về quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu của cả nước xuất khẩu và nước nhập
khẩu. Một biến động mạnh về chính trị, pháp lý xảy ra có thể làm đảo lộn các
kế hoạch của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp bị động.
- Rủi ro do lạm phát, hối đoái:
Rủi ro hối đoái là sự không chắc chắn về giá trị của một khoản thu nhập
hay chi trả do sự biến động tỷ giá gây ra, có thể làm tổn thất đến giá trị dự
kiến của hợp đồng. Trong hoạt động xuất khẩu, rủi ro hối đoái xảy ra khi
xuất tối ưu. Trong hoạt động xuất khẩu, rủi ro do thiếu vốn còn làm cho quá
trình thực hiện các hợp đồng xuất khẩu không được đảm bảo, dẫn đến giao
hàng chậm. Từ đó, không đủ sức cạnh tranh với đối thủ và dẫn tới việc mất
thị phần
- Rủi ro do thiếu thông tin:
13
Thông tin với các nhà xuất khẩu đóng một vai trò rất quan trọng. Các
nhà xuất khẩu hơn ai hết phải là những người biết rất rõ các thông tin về giá
cả, sự biến động của thị trường thế giới, đặc biệt là những thông tin về đối tác.
Sự thiếu những thông tin sẽ đem lại những hậu quả không xác định được
doanh nghiệp. Hơn nữa, việc không nắm bắt được tình hình biến động giá cả
của thị trường thế giới, nhiều doanh nghiệp trong nước đã ký những hợp đồng
với giá thấp đến khi giá thế giới tăng vọt, làm cho giá cả trong nước của mặt
hàng đó cũng tăng theo, khiến doanh nghiệp bị thua lỗ. Chính vì thế, với sự
bùng nổ thông tin như hiện nay, để nhận biết và tránh những sai lệch thông tin
không còn cách nào khác là doanh nghiệp cần phải có nó như là một trong
những yếu tố mà nếu không chuẩn bị trước sẽ đem đến rủi ro cho doanh
nghiệp.
- Rủi ro do năng lực quản lý kém và do thiếu trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
Đây là rủi ro được xem như là phổ biến của các doanh nghiệp Việt Nam
hiện nay. Một nhà xuất khẩu có năng lực quản lý kém có thể sẽ gặp liên tiếp
những rủi ro khác nhau: Điều này có lẽ hoàn toàn đúng với thực trạng của đội
ngũ cán bộ quản lý Việt Nam tồn tại từ thời kỳ bao cấp và từ đó thực tế cho
thấy với đội ngũ cán bộ như vậy đã đem lại hiệu quả xuất khẩu rất thấp.
Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu làm ăn thua lỗ do năng lực quản lý kém. Hàng
hoá thu gom về bảo quản không tốt, chất lượng không đạt tiêu chuẩn xuất
khẩu vẫn cứ xuất. Uy tín hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam bị ảnh hưởng
nghiêm trọng. Hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu của
Việt Nam còn thiếu nhân viên có trình độ nghiệp vụ ngoại thương, nhất là ở
các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sự thiếu hiểu biết về pháp luật và tập quán
vào thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích của mình”. Và khi tham gia vào
thương mại quốc tế thì “quốc gia có hiệu quả thấp trong sản xuất các loại
15
hàng hoá sẽ tiến hành chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu các loại hàng
hoá mà việc sản xuất ra chúng là ít bất lợi nhất và nhập khẩu các loại mặt
hàng mà việc sản xuất ra chúng là bất lợi lớn nhất”. Tức là một quốc gia dù có
bất lợi trong việc sản xuất đến đâu vẫn có thể tìm ra điểm có lợi để khai thác
lợi thế. Bằng việc khai thác các lợi thế này các quốc gia tập trung vào việc sản
xuất và xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế tương đối.
1.3.2. Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia.
Các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế đều chỉ ra rằng: Để
tăng trưởng và phát triển nền kinh tế mỗi quốc gia cần có bốn điều kiện là
nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn và kỹ thuật công nghệ. Nhưng hầu hết các
quốc gia đang phát triển đều thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ thì làm thế nào có
thể tăng trưởng và phát triển kinh tế được. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào
để có vốn và kỹ thuật?
1.3.2.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp
phát triển.
Đối với mọi quốc gia đang phát triển thì bước đi thích hợp nhất là phải
công nghiệp hoá, hiện đại hoá để khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu
chậm phát triển. Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá đòi hỏi phải có một số
lượng vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến.
Thực tế cho thấy, để có nguồn vốn cho nhập khẩu, một số nước có thể sử
dụng nguồn vốn huy động chính như sau:
- Thu từ xuất khẩu.
- Đầu tư nước ngoài.
- Vay nợ các nguồn viện trợ.
- Thu từ các hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ trong nước.
16
Tầm quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài thì không ai có thể phủ nhận
- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, mở rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia. Ngoại thương có
thể cho phép một nước có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số
lượng lớn hơn nhiều lần giới hạn sản xuất của quốc gia đó.
- Xuất khẩu còn có vai trò thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu
quả sản xuất của từng quốc gia. Nó cho phép chuyên môn hoá sản
xuất phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Ngày nay, mỗi một loại
sản phẩm người ta có thể nghiên cứu thử nghiệm ở nước thứ nhất, chế
tạo ở nước thứ hai, lắp ráp ở nước thứ ba, tiêu thụ ở nước thứ tư và
thanh toán thực hiện ở nước thứ năm. Như vậy, hàng hoá sản xuất ra
ở mọi nước và tiêu thụ ở nhiều nước khác nhau cho thấy tác động
ngược trở lại của hoạt động xuất khẩu đối với việc chuyên môn hoá
sản xuất, tạo điều kiện cho chuyên môn sâu hoá.
1.3.2.3. Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm
cải thiện đời sống nhân dân.
Đối với việc giải quyết công ăn việc làm, xuất khẩu thu hút hàng triệu
lao động thông qua việc sản xuất hàng xuất khẩu. Mặt khác, xuất khẩu tạo ra
ngoại tệ để nhập khẩu tiêu dùng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phong
phú của nhân dân.
Với đặc điểm quan trọng là ngoại tệ được sử dụng làm phương tiện
thanh toán, xuất khẩu góp phần làm tăng dự trữ ngoại tệ một quốc gia. Đặc
biệt là đối với những nước chậm phát triển đồng tiền không có khả năng
18
chuyển đổi thì ngoại tệ có được nhờ xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong
việc điều hoà về cung cầu ngoại tệ, ổn định sản xuất, qua đó góp phần vào
tăng trưởng và phát triển kinh tế.
1.3.2.4. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan
hệ kinh tế đối ngoại.
Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có mối tác động qua lại
phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động chủ yếu cơ bản và
mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp chẳng hạn như hoạt động
đầu tư nghiên cứu và phát triển, các hoạt động sản xuất, Marketing và
sự phân phối, sự mở rộng trong việc cấp giấy phép.
- Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao
động, tạo ra thu nhập ổn định, tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu vật phẩm
tiêu dùng, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, vừa
thu hút được lợi nhuận.
- Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan
hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ sở lợi
ích của cả hai bên.
1.4. ẢNH HƯỞNG CỦA RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1.4.1. Tác động của rủi ro đến hoạt động kinh doanh quốc tế nói chung
và xuất khẩu nói riêng:
Hạn chế rủi ro là nhiệm vụ hàng đầu không chỉ với các doanh nghiệp
Việt Nam mà còn với nhiều doanh nghiệp trên thế giới. Bài học của cuộc
khủng hoảng tài chính Đông Nam Á vừa qua là một ví dụ điển hình của rủi ro
20
với môi trường kinh tế toàn cầu. Nhiều doanh nghiệp do không lường trước
được hậu quả của cuộc khủng hoảng nên đã dẫn đến phá sản.
Trong hoạt động xuất khẩu, bên cạnh những khó khăn về không gian,
khoảng cách địa lý, ngôn ngữ bất đồng ... các doanh nghiệp còn gặp rất nhiều
khó khăn và rủi ro khác như biến động chính trị, chiến tranh, thiên tai ...
Doanh nghiệp Việt Nam có qui mô nhỏ và thiếu vốn nên công nghệ chế biến
còn lạc hậu do đó gặp rất nhiều bất lợi về giá. Trong khi đó sự đầu tư của Nhà
nước lại thiếu quy hoặch, đầu tư cho xuất khẩu chưa có một chiến lược, chưa
có sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và
doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu. Trước đây phần lớn các doanh
nghiệp được phép xuất khẩu trực tiếp là những doanh nghiệp kinh doanh hàng
xuất khẩu. Do đó, doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu phụ thuộc rất nhiều
vào doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu. Nếu doanh nghiệp kinh doanh
tiềm năng của đất nước để đẩy mạnh xuất khẩu. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
hàng năm đạt khoảng 20%. Sự tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này diễn ra
khá đều.
Số liệu thống kê hải quan trong năm 2001 có 4.226 đơn vị tham gia xuất
khẩu, so với năm 2000 tăng 26%. Quy mô xuất khẩu tính trung bình cho từng
đối tượng là 2,73 triệu USD, giảm so với năm trước. Tuy nhiên, chỉ có hơn
15% số doanh nghiệp có doanh số vượt quá mức trung bình trên. Nguyên
nhân ở đây là chỉ duy nhất một công ty xuất khẩu dầu thô với trị giá xấp xỉ
2,1 tỷ USD.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng này vẫn chưa phản ánh hết thực lực của
nền kinh tế Việt Nam. Đa số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam là xuất
thô và thường có giá rẻ hơn hàng hoá cùng chủng loại của các nước trong khu
vực. Ngoài ra do thiếu thông tin, do các khó khăn về không gian, khoảng cách
địa lý, ngôn ngữ bất đồng nên các doanh nghiệp Việt Nam bỏ qua nhiều cơ
hội.
BẢNG 1: XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1997-2001.
Năm Kim ngạch xuất khẩu
(Tỷ USD)
XK bình quân
(USD/Người/Năm)
Tốc độ tăng trưởng
(% năm)
1997 7,255 90,6 33,2
1998 8,758 109,4 33,2
1999 9,232 115,4 24,7
2000 11,520 114,2 3
2001 14,448 180,6 25,4
23
(Nguồn: Cục công nghệ thông tin và Hải quan - Tổng cục Hải quan)
Qua bảng trên ta thấy tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân
chế có giảm, mặc dù vẫn là con số khiêm tốn.
2.1.1.1. Nhóm hàng Dầu thô:
Dầu thô là mặt hàng luôn có kim ngạch dẫn đầu trong giai đoạn từ năm
1997 –2001, nhưng trong tương lai khi các nhà máy lọc dầu đi vào hoạt động
thì mặt hàng này khó có thể giữ vững vị trí dẫn đầu. Mặc dù trong thời gian
qua ngành này gặp rất nhiều khó khăn (năm 1998 do khủng hoảng kinh tế nên
giá dầu thô rớt xuống mức thảm hại khoảng 9 USD/thùng), nhưng năm 2000
do các nước OPEC cắt giảm sản lượng nên kim ngạch xuất khẩu tăng lên trên
34 USD/thùng. Nhìn chung rủi ro của ngành dầu khí trong thời gian này tuy
lớn nhưng vẫn có thể khắc phục được. Về lâu dài khi các nhà máy lọc dầu
trong nước đi vào hoạt động thì sản lượng khai thác có thể không được đáp
ứng đủ nhu cầu trong nước mà có thể sẽ phải nhập khẩu, vì vậy về lâu dài vấn
đề thị trường tiêu thụ với mặt hàng này sẽ giải quyết dễ dàng hơn và ít bị cạnh
tranh hơn so với các mặt hàng khác.
BẢNG 02: TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU DẦU THÔ GIAI ĐOẠN 1997-2001
Năm Lượng
(Tấn)
Trị giá
(USD)
Đơn giá
(USD/tấn)
1997 8.705.376 1.345.689.698 154
1998 9.574.088 1.413.393.889 147
1999 12.145.070 1.232.226.244 101
2000 14.881.865 2.091.609.697 141
25