LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tác giả. Các
số liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả nêu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ cơng trình nghiên cứu khoa học
nào trước đây.
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Huy
i
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo đại học và Sau đại học
cùng các thày giáo, cô giáo giảng dạy tại Khoa Kinh tế và Quản lý, trường Đại học
Thủy lợi- những người đã trang bị những kiến thức quý báu để tác giả có thể hồn
thành luận văn này.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Đỗ Văn Quang – người đã dành nhiều
thời gian tâm huyết, trực tiếp hướng dẫn tận tình và giúp đỡ để tác giả có thể hồn
thành cơng trình nghiên cứu khoa học đầu tiên của mình.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ các phòng ban tại Bảo hiểm xã
hội huyện Đồng Hỷ đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập dữ liệu
cùng với những ý kiến đóng góp bổ ích để tác giả có thể hồn thành luận văn này.
Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình, những người bạn đã cùng đồng
hành, hỗ trợ, giúp đỡ và động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện
luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!
ii
iii
2.2 Giới thiệu về Bảo hiểm xã hội huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên .................... 37
2.2.1 Vị trí, chức năng và nhiệm vụ ....................................................................... 37
2.2.2 Bộ máy tổ chức ............................................................................................. 40
2.3 Thực trạng công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Đồng Hỷ
giai đoạn 2015-2018 .................................................................................................. 43
2.3.1 Công tác quản lý và phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc
................................................................................................................................ 43
2.3.2 Cơng tác quản lý mức đóng, phương thức đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc . 50
2.3.3 Công tác tổ chức thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc ........................................... 55
2.3.4 Cơng tác kiểm tra, thanh tra, kiểm sốt thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc ........ 59
2.4 Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội
bắt buộc trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên ......................................... 61
2.4.1 Nhận thức của người lao động và chủ sử dụng lao động .............................. 61
2.4.2 Việc thực hiện, chấp hành luật lao động của chủ sử dụng lao động ............. 61
2.4.3 Việc kiểm tra, đôn đốc của cơ quan Bảo hiểm xã hội và các ngành chức
năng ........................................................................................................................ 62
2.5 Đánh giá chung về công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên ........................................................................... 62
2.5.1 Kết quả đạt được ........................................................................................... 62
2.5.2 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân .................................................................. 63
Kết luận chương 2...................................................................................................... 66
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢ
LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ 68
3.1 Định hướng công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện
Đồng Hỷ đến năm 2022 ............................................................................................. 68
3.2 Những cơ hội và thách thức đối với công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt
DANH M ỤC HÌNH ẢNH, HÌNH VẼ
Hình 2.1Hệ thống BHXH tỉnh Thái Nguyên ........................................................................... 37
Hình 2.2Sơ đồ tổ chức BHXH huyện Đồng Hỷ [16] ............................................................... 41
vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 Tình hình tham gia BHXH bắt buộc huyện Đồng Hỷ............................................... 44
Bảng 2.2 Tình hình tham gia BHXH bắt buộc của các đơn vị SDLĐ theo khối ngành huyện
Đồng Hỷ ................................................................................................................................... 45
Bảng 2.3 Tình hình số lượng lao động tham gia BHXH bắt buộc ........................................... 47
Bảng 2.4 Tình hình số lao động tham gia BHXH theo khối ngành quản lý ............................. 48
Bảng 2.5Mức tiền lương bình qn đóng BHXH bắt buộc theo khối quản lý ......................... 53
Bảng 2.6Kế hoạch và kết quả thực hiện thu BHXH bắt buộc .................................................. 55
Bảng 2.7 Tình hình nợ đọng BHXH bắt buộc .......................................................................... 57
Bảng 2.8 Tình hình chậm nộp BHXH ...................................................................................... 58
Bảng 2.9 Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát thu BHXH bắt buộc ................................... 61
vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
Kế hoạch - Đầu tư
LĐTBXH
Lao động - Thương Binh và Xã hội
NLĐ
Người lao động
NSNN
Ngân sách Nhà nước
QH
Quốc hội
SDLĐ
Sử dụng lao động
SXKD
Sản xuất kinh doanh
UBND
Ủy ban nhân dân
một cuộc sống ổn định khi hết tuổi lao động thơng qua chế độ hưu trí. Để thực hiện
được những mục tiêu trên, một trong những vấn đề chủ chốt và có ý nghĩa quyết
định đối với tồn bộ hoạt động của ngành BHXH đó là phải thực hiện tốt công tác
1
thu BHXH, nhất là công tác thu BHXH bắt buộc với phương châm thu đúng, thu đủ
nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
Trong thời gian vừa quan, BHXH huyện Đồng Hỷ đã luôn cố gắng nỗ lực phấn đấu
trong công tác quản lý thu BHXH nên kết quả thu hằng năm đạt và vượt 100% kế
hoạch hằng năm. Tuy nhiên kết quả đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của huyện,
bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, công tác quản lý thu BHXH đã bộc lộ nhiều
hạn chế, bất cập nên việc đánh giá đúng thực trạng và tìm ra được những giải pháp
hồn thiện công tác quản lý thu BHXH, nhất là quản lý thu BHXH bắt buộc là một vấn
đề vô cùng bức thiết. Chính những vấn đề nêu trên đã đặt ra sự cấp thiết cho việc
nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn, tác giả đã chọn đề tài “ Các giải pháp tăng
cường công tác quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái
Nguyên” làm nội dung nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thu BHXH
bắt buộc.
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2015 – 2018.
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa
bàn huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên.
3. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm: phương pháp thống
kê; phương pháp điều tra thu thập số liệu; phương pháp đối chiếu hệ thống văn bản
pháp quy; phương pháp phân tích so sánh định lượng, định tính để đánh giá thực trạng,
tổng hợp và suy luận biện chứng đề xuất giải pháp. Bên cạnh đó, luận văn cịn sử dụng
một số phương pháp kết hợp khác để giải quyết các vấn đề liên quan đến q trình
buộc nói chung và trên địa bàn huyện Đồng Hỷ nói riêng trong thời gian tới.
7. Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được cấu trúc với 3 chương nội dung chính sau:
3
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội
bắt buộc trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN
LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
1.1 Cơ sở lý luận về công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.1.1 Khái niệm, vai trò và bản chất của Bảo hiểm xã hội
1.1.1.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm và BHXH đã hình thành rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài
người và đã được nhiều nhà khoa học đề cập, nghiên cứu một cách sâu sắc dưới nhiều
góc độ và khía cạnh khác nhau. BHXH đã xuất hiện và phát triển cùng với quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại. Trên thế giới, BHXH đã có mầm mống từ thế
kỉ 13. Đến thế kỉ 19, xuất hiện đạo luật đầu tiên về BHXH ở Đức. Sản xuất công
nghiệp phát triển đã làm cho đội ngũ những NLĐ làm thuê ngày càng đông đảo, đồng
thời cũng làm cho các rủi ro trong lao động tăng theo. Để bảo vệ mình, những NLĐ đã
đấu tranh buộc giới chủ phải cam kết bồi thường và bảo đảm an toàn thu nhập cho họ.
trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay cịn có nhiều khái niệm về BHXH,
chưa có khái niệm thống nhất. Bởi lẽ, BHXH là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn
khoa học khác nhau như kinh tế, xã hội, pháp lý...
Công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về BHXH như
sau: “BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thơng qua
một loạt các biện pháp cơng cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã
hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y
tế và trợ cấp cho các gia đình đơng con”. Khái niệm này đã phản ánh được sự kết hợp
hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội.
Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014 thì : “BHXH là sự
bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất
thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi
lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH bắt buộc” [4].
Như vậy, có thể hiểu BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập
cho NLĐ, khi họ gặp phải biến cố, rủi ro về sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc
làm, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi
6
các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm
đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân NLĐ và những người ruột thịt của NLĐ trực
tiếp phải ni dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. BHXH về thực chất là một
phương thức phân phối lại thu nhập bằng các kĩ thuật nghiệp vụ, nhằm góp phần cân
bằng thu nhập bị mất hoặc giảm từ hoạt động nghề nghiệp bằng khoản trợ cấp từ
BHXH [3].
BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà
sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động
phát triển tới một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và
đấu tranh này gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất làm giảm năng suất và chất lượng
của sản phẩm. Do vậy, nhà nước đã đứng ra làm trung gian điều hòa mâu thuẩn này
bằng cách bắt buộc người chủ sử dụng lao động và người lao động mỗi bên đều phải
đóng góp một phần tiền vào quỹ BHXH để trợ cấp cho người lao động để họ ổn định
cuộc sống, yên tâm cơng tác. Từ khi có bảo hiểm xã hội mâu thuẫn giữa người chủ sử
dụng lao động và người lao động đã được điều hòa. Người chủ sử dụng lao động
khơng phải lo lắng người lao động biểu tình. Từ đó người lao động sẽ yên tâm làm
việc với năng suất chất lượng cao hơn. Tạo ra nhiều của cải vật chất hơn cho người
chủ sử dụng lao động, chính vì vậy mà lợi nhuận ngày một nhiều hơn.
- Vai trị đối với Nhà nước: Bảo hiểm xã hội ln mang lại những vai trò to lớn. Vai
trò đầu tiên đối với xã hội là việc tạo ra cơ chế chia sẻ rủi ro, nâng cao tính cộng đồng,
xã hội, củng cố truyền thống đồn kết, gắn bó giữa các thành viên trong xã hội. BHXH
là công cụ phân phối, sử dụng nguồn quỹ dự phòng hiệu quả nhất cho việc giảm thiểu
hậu quả rủi ro, tạo động lực phát triển kinh tế xã hội.
1.1.1.3 Bản chất của bảo hiểm xã hội bắt buộc
- BHXH bắt buộc mang tính xã hội, tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc. Tính xã hội,
tính nhân đạo và nhân văn trong các chế độ BHXH quy định bản chất của BHXH bắt
buộc, đó là sự bảo vệ của xã hội nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội
do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất
nghiệp, thương tật, tuổi già và chết [2].
BHXH là chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước. Đây là một loại hoạt động dịch vụ
cơng, mang tính xã hội, lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động. Quỹ để thực hiện
chế độ BHXH là do người lao động, người sử dụng lao động đóng góp và Nhà nước hỗ
trợ, đấy chính là tính chất xã hội trong kết cấu nguồn lập quỹ. Tính xã hội cịn được
thể hiện thơng qua các chế độ BHXH được hưởng.
8
- BHXH bắt buộc là một công cụ để quản lý xã hội, là sự bảo đảm của Nhà nước để ổn
định đời sống cho người tham gia BHXH và an toàn xã hội, thúc đẩy sản xuất phát
- Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, bao gồm người lao động, người sử dụng
lao động và Nhà nước là nguồn hình thành cơ bản của quỹ BHXH. Ngồi nguồn thu
của quỹ BHXH, cịn có các nguồn khác như lợi nhuận từ đầu tư phần nhàn rỗi tương
đối của quỹ BHXH; khoản nộp phạt của các doanh nghiệp/đơn vị chậm nộp BHXH
theo quy định của pháp luật và các nguồn thu hợp pháp khác. Quỹ BHXH dùng để chi
trả các trợ cấp BHXH và chi phí cho các hoạt động của bộ máy BHXH.
- Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ BHXH
cũng do luật định. Nhà nước quản lý và bảo hộ các hoạt động của BHXH. BHXH còn
chịu sự giám sát chặt chẽ của người lao động (thông qua tổ chức cơng đồn) và người
sử dụng lao động (thông qua tổ chức của giới chủ) theo cơ chế ba bên. Đây cũng là đặc
trưng rất riêng có của BHXH. Tất cả những khía cạnh đã nêu trên, một lần nữa cho
thấy, BHXH được lập ra là để tác động vào thu nhập theo lao động của người lao động
tham gia BHXH. Nói cách khác, BHXH là hệ thống bảo đảm khoản thu nhập thay thế
cho người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất
việc làm, nhằm bảo đảm thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu cho họ.
1.1.2 Công tác thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.1.2.1 Khái niệm thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thu bảo hiểm là một nghiệp vụ tài chính nhằm huy động một số tiền nhất định vào
một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho những thành viên tham gia
không may bị thiệt hại, rủi ro đó gây ra. Thu bảo hiểm thực hiện trên nguyên tắc là có
tham gia đóng góp bảo hiểm thì mới được hưởng quyền lợi, khơng đóng góp thì khơng
được hưởng quyền lợi [3].
Khi đã tham gia, tất cả các đối tượng tự nguyện hay bắt buộc đều phải tuân thủ những
quy định của Nhà nước về mức đóng, thời gian đóng và điều kiện hưởng chế độ
BHXH. Thu BHXH luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nước bằng hệ thống pháp
luật. Vì vậy ta có thể hiểu: Thu BHXH là việc nhà nước dùng quyền lực của mình bắt
buộc các đối tượng phải đóng BHXH theo mức phí qui định hoặc cho phép một số đối
tượng tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu
quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; quản lý sổ bảo hiểm xã
hội, thẻ bảo hiểm y tế quy định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc như sau [5]:
a. NLĐ tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:
(1) Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn,
11
HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến
dưới 12 tháng, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa đơn vị với người đại diện theo pháp luật
của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
(2) Người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng (thực
hiện từ 01/01/2018);
(3) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và
viên chức;
(4) Công nhân quốc phịng, cơng nhân cơng an, người làm cơng tác khác trong tổ chức
cơ yếu (trường hợp BHXH Bộ Quốc phịng, BHXH Cơng an nhân dân bàn giao cho
BHXH các tỉnh);
(5) Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
(6) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH bắt
buộc vào quỹ hưu trí và tử tuất (thực hiện từ 01/01/2016);
(7) Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật NLĐ Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
(8) Người hưởng chế độ phu nhân hoặc phu quân tại cơ quan đại diện Việt Nam ở
nước ngoài quy định tại Khoản 4 Điều 123 Luật BHXH.
b. Đơn vị tham gia BHXH bắt buộc cho NLĐ, bao gồm:
- Cơ quan của Đảng, Nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước ở Trung ương, cấp
tỉnh, huyện đến cấp xã và đơn vị thuộc lực lượng vũ trang.
- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị, đơn vị sự
ràng buộc chặt chẽ từ trên xuống dưới, đảm bảo an toàn tuyệt đối về tài chính, đảm
bảo độ chính xác trong ghi chép kết quả đóng BHXH của từng cơ quan đơn vị cũng
như của từng NLĐ. Hơn nữa, hoạt động thu BHXH là hoạt động liên quan đến quyền
lợi và nghĩa vụ của cả một đời người và có tính kế thừa, số thu BHXH một phần dựa
trên số lượng người tham BHXH để tạo lập lên quỹ BHXH, cho nên nghiệp vụ của
cơng tác thu BHXH có một vai trị hết sức quan trọng và rất cần thiết trong thực hiện
13
chính sách BHXH. Bởi đây là khâu đầu tiên giúp cho chính sách BHXH thực hiện được
các chức năng cũng như bản chất của mình.
- Hoạt động của cơng tác thu BHXH ở hiện tại ảnh hưởng trực tiếp đến cơng tác chi và
q trình thực hiện chính sách BHXH trong tương lai. Do BHXH cũng như các loại
hình bảo hiểm khác đều dựa trên cơ sở nguyên tắc có đóng có hưởng BHXH đã đặt ra
yêu cầu quy định đối với công tác thu nộp BHXH. Nếu không thu được BHXH thì quỹ
BHXH khơng có nguồn để chi trả cho các chế độ BHXH cho NLĐ. Vậy hoạt động thu
BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi và q trình thực hiện chính sách BHXH.
Do đó, thực hiện cơng tác thu BHXH đóng một vai trị quyết định, then chốt trong quá
trình đảm bảo ổn định cho cuộc sống của NLĐ cũng như các đơn vị DN được hoạt
động bình thường.
1.1.2.4 Nguyên tắc thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Thu dựa trên các văn bản pháp luật: Hoạt động thu BHXH có phạm vi hoạt động
và quy mô rộng lớn, liên quan nhiều mặt đến các hoạt động kinh tế - xã hội của đất
nước, ảnh hưởng đến lợi ích của số đơng NLĐ trong cộng đồng xã hội. Do vậy để
hoạt động thu BHXH đạt hiệu quả cao thì nguyên tắc đầu tiên của thu BHXH là
phải đảm bảo thực hiện đúng theo các văn bản pháp luật quy định từ đối tượng thu,
số tiền thu, phương thức thu, lập kế hoạch thu lẫn công tác tổ chức và kiểm tra
giám sát thu BHXH…
- Thu đúng đối tượng, thu đủ số lượng và đảm bảo đúng thời gian quy định: Muốn
thực hiện được nguyên tắc này cần phải nắm chắc được các nguồn thu BHXH. Để nắm
chi trả và quản lý nguồn quỹ từ đầu tư tăng trưởng. Khi nói đến quản lý thu BHXH là
nói đến một loạt quan hệ, bao gồm quan hệ giữa Nhà nước, đơn vị SDLĐ, NLĐ và cơ
quan BHXH. Trong mối quan hệ trên đây, thì NLĐ, đơn vị SDLĐ là đối tượng quản
lý; Nhà nước giao cho cơ quan BHXH chủ thể quản lý; Nhà nước là chủ thể duy nhất
điều tiết và quản lý BHXH, vì các bên tham gia có lợi ích khác nhau thậm chí trái
ngược nhau (NLĐ muốn đóng ít nhưng lại muốn được thụ hưởng nhiều, ĐƠN VỊ
SDLĐ muốn đóng BHXH càng ít càng tốt để giảm chi phí sản suất nâng cao lợi
nhuận). Nhà nước với hai tư cách là chủ thể quản lý, thông qua cơ quan lập pháp
(Quốc hội) đề ra Luật BHXH, thông qua Chính phủ đề ra các quy định về BHXH. Để
quản lý thu BHXH bắt buộc đảm bảo theo đúng các quy định của Nhà nước, cơ quan
BHXH xây dựng biện pháp, kế hoạch, tổ chức các thao tác nghiệp vụ, phối hợp chặt
chẽ với các cơ quan hữu trách và hình thành hệ thống chuyên thu từ Trung ương đến
cấp huyện, thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, khép kín [2].
15
Như vậy, trong quản lý thu BHXH, mối quan hệ ba bên là NLĐ, đơn vị SDLĐ và cơ
quan BHXH được xác lập quyền và trách nhiệm của mỗi bên phải tuân thủ, thực hiện
nghiêm túc. Mặt khác để thu đúng, đủ, kịp thời, khơng để thốt thốt tiền thu, địi hỏi
cơ quản BHXH phải có phương pháp và biện pháp hỗ trợ. Thu BHXH là một khái
niệm phức hợp bao gồm các định hướng, chủ trương, phương pháp và biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo, khuyến khích đẩy mạnh cơng tác thu BHXH và
quản lý thu BHXH là một quá trình chủ thể quản lý tác động đến đốitượng quản lý
trong hoạt động dự báo, xây dựng chỉ tiêu kế hoạch, tổ chức thực hiện điều chỉnh và
kiểm tra kết quả đạt được.
Như vậy có thể hiểu: “Quản lý thu BHXH là quá trình tác động các cơ quan BHXH
đối với mọi tổ chức cá nhân có liên quan đến thu BHXH theo một quy trình từ xác định
đối tượng thu, mức thu, phương thức thu, lập kế hoạch thu đến tổ chức thực hiện kế
hoạch và kiểm tra đánh giá việc thực hiện thu BHXH nhằm đạt được mục tiêu thu
đúng, thu đu, thu kịp thời tiền BHXH của đối tượng tham gia BHXH vào quỹ BHXH
Thương mại cơng nghiệp Việt Nam…). Tất cả các chế độ chính sách đối với mọi đối
tượng phải được áp dụng và điều chỉnh một cách thống nhất trong toàn ngành để đảm
bảo đầy đủ quyền lợi cho NLĐ, đảm bảo công bằng, công khai, dân chủ.
Đây là nguyên tắc cao nhất trong quản lý thu BHXH bắt buộc cũng như trong hoạt
động BHXH nói chung. Bởi lẽ, chỉ có như vậy mới thực hiện được vai trị và mục đích
của thu BHXH bắt buộc, tạo ra được một nguồn lực to lớn để thực hiện các chế độ cho
NLĐ và cung cấp nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Trong quản lý thu BHXH bắt buộc, mục tiêu quan trọng và phải luôn hướng tới
là mục tiêu công bằng, cơng khai và dân chủ. Vì vậy, để đạt được mục tiêu này phải
xây dựng một cơ chế dựa trên một hệ thống tiêu thức phản ánh đầy đủ các nội dung
cần quản lý. Hệ thống đó phải được xây dựng một cách công khai, dân chủ, được mọi
người, mọi đơn vị tham gia thảo luận và thống nhất trước khi tổ chức thực hiện. Hệ
thống đó cũng phải được bổ sung, sửa đổi hoàn chỉnh từng bước trong quá trình tổ
chức, thực hiện để phù hợp với thực tiễn hoạt động của từng đơn vị tổ chức, cá nhân
và điều kiện, hoàn cảnh của đất nước.
- Nguyên tắc hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần: Quỹ ốm đau và thai sản, quỹ
17