THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO, TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN DCPA - Pdf 76

THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO, TRỌNG YẾU TRONG
KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH
KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN DCPA
2.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN DCPA
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển công ty TNHH kiểm
toán và tư vấn DCPA
Công ty TNHH kiểm toán và tư vấn DCPA là một công ty quy mô nhỏ hoạt
động trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn, được thành lập ngày 26 tháng 10 năm
2005 theo giấy phép thành lập số 0102022913 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà
Nội cấp. Khi mới thành lập, công ty lấy tên là công ty TNHH tư vấn DCPA, đặt
trụ sở tại số nhà 243 đường Cầu Giấy, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà
Nội. Những thành viên sáng lập công ty là những người có nhiều kinh nghiệm
trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn, từng làm việc lâu năm tại các công ty kiểm
toán hàng đầu thế giới. Mặc dù được thành lập chỉ với 4 thành viên ban đầu,
công ty đã tổ chức hoạt động khá thành công, liên tục tăng doanh thu qua các
năm.
Vượt qua những khó khăn ban đầu, trong năm 2006, công ty liên tục mở
rông cả về quy mô hoạt động và dịch vụ cung cấp. Cuối năm 2006, công ty mở
thêm chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh và Hưng Yên nhằm tìm kiếm khách
hàng, mở rộng thị trường. Tháng 2 năm 2007, nhằm thể hiện rõ hơn lĩnh vực
hoạt động và tính chất của công ty, ban giám đốc công ty đã quyết định đổi tên
công ty thành công ty TNHH kiểm toán và tư vấn DCPA, tên giao dịch tiếng
Anh là DCPA Auditing and Consulting Company Limited company, đặt trụ sở
chính tại số nhà 82 đường Bạch Mai, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Hiện nay, số lượng nhân viên của công ty đã tăng đến 20 người, phần lớn là
những nhân viên có trình độ chuyên môn cao. Thành phần khách hàng của công ty
rất đa dạng,bao gồm các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà
nước, công ty cổ phần, công ty TNHH, dự án tài trợ bằng nguồn vốn ODA…
Không chỉ dừng lại ở đó, công ty TNHH kiểm toán và tư vấn DCPA vẫn
đang không ngừng phát triển, mở rộng thị trường, đa dạng hoá loại hình cung
cấp dịch vụ, nâng cao chất lượng hoạt động. Đặc biệt trong điều kiện Việt Nam

và chế độ khác nhau;
Thứ năm, trợ giúp công việc tuyển dụng nhân viên và đào tạo nhân viên
trước khi tiếp nhận công việc;
Thứ sáu, trợ giúp cài đặt phần mềm kế toán và đào tạo nhân viên thực hiện
công việc trên các phần mềm đã cài đặt.
) Dịch vụ tư vấn thuế
Thứ nhất, hoạch định chiến lược thuế, lập kế hoạch thuế;
Thứ hai, phân tích và xây dựng cơ cấu kinh doanh, kế hoạch kinh doanh
có hiệu quả cho mục đích thuế;
Thứ ba, soát xét tính tuân thủ pháp luật thuế của các doanh nghiêp;
Thứ tư, tính toán chi phí thuế đối với các nghiệp vụ và giao dịch phức
tạp, tư vấn giải pháp tiết kiệm chi phí thuế cho doanh nghiệp;
Thứ năm, lập kế hoạch tính toán và kê khai thuế giá trị gia tăng, thuế thu
nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà thầu nước ngoài cho các
doanh nghiệp;
Thứ sáu, tư vấn và trợ giúp doanh nghiệp khi doanh nghiệp gặp vướng
mắc trong quá trình quyết toán với cơ quan thuế
Thứ bảy, tổ chức hội thảo và đào tạo kiến thức về thuế;
Thứ tám, các dịch vụ tư vấn thuế khác.
) Dịch vụ tư vấn quản lý
Thứ nhất, hỗ trợ, huy đông vốn và các giao dịch tài chính;
Thứ hai, tư vấn hỗ trợ cơ cấu và tái cơ cấu doanh nghiệp;
Thứ ba, xác định giá trị doanh nghiệp;
Thứ tư, tư vấn lập phương án cổ phần hoá và phát hành cổ phiếu, trái phiếu
ra công chúng;
Thứ năm, trợ giúp phân tích đầu tư và lập kế hoạch kinh doanh;
Thứ sáu, soát xét và đánh giá việc xây dựng hệ thông kiểm soát nội bộ;
Thứ bảy, các dịch vụ đánh giá rủi ro và tư vấn kiểm soát liên quan đến môi
trường kinh doanh và hệ thống thông tin của doanh nghiệp.
2.1.3. Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty TNHH kiểm

Mặt khác, có thể thấy công ty đang dần đa dạng hoá các loại hình dịch vụ
cung cấp. Mặc dù doanh thu của công ty vẫn chủ yếu từ hoạt động cung cấp
dịch vụ kiểm toán, tuy nhiên có thể thấy dịch vụ kế toán và dịch vụ tư vấn cũng
đang dần mang lại nguồn lợi đáng kể cho doanh nghiệp.
2.1.4. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH
kiểm toán và tư vấn DCPA
Công ty TNHH kiểm toán và tư vấn DCPA là công ty hoạt động trong lĩnh
vực cung cấp dịch vụ bao gồm dịch vụ kế toán, dịch vụ kiểm toán và dịch vụ tư
vấn. Công ty tổ chức các bộ phận riêng biệt để thực hiện các dịch vụ này. Mỗi
bộ phận bao gồm một người phụ trách và các nhân viên thực hiện các công việc
theo yêu cầu.
2.1.5. Đặc điểm tổ chức quản lý tại công ty TNHH kiểm toán và tư vấn
DCPA
Công ty DCPA là công ty nhỏ với số lượng nhân viên không lớn. Tuy
nhiên, công ty có khả năng đáp ứng được yêu cầu của các khách hàng với số
lượng lớn, tính chất công việc phức tạp, đó là nhờ công ty xây dựng một hệ
thống quản lý, điều hành khoa học, được phân chia thành hai khối riêng biệt:
khối hành chính và khối chuyên môn
Giám đốc: chịu trách nhiệm chung về mọi mặt hoạt động của công ty.
Giám đốc công ty DCPA là người có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm
toán và tư vấn, từng làm việc lâu năm tại các công ty kiểm toán hàng đầu thế giới.
Giám đốc
Phó giám đốc phụ trách hành chính
Phó giám đốc phụ trách chuyên môn
Bộ phận hành chính
Bộ phận kế toán
Bộ phận CNTT
Bộ phận kiểm toán
Bộ phận tư vấn
Kiểm toán BCTC

bộ phận này có thể bổ sung nhân viên từ các bộ phận khác để hoàn thành tiến độ
công việc do các hợp đồng kiểm toán báo tài chính chiếm đa số trong các hợp
đông cung cấp dịch vụ của công ty.
Bộ phận kiểm toán xây dựng cơ bản gồm 3 nhân viên, thực hiện các hợp
đồng kiểm toán báo cáo đầu tư xây dựng hoàn thành theo quy định của công ty.
Bộ phận này bao gồm các kỹ sư xây dựng có kinh nghiệm và thường phải kết
hợp với các kiểm toán viên của bộ phận kiểm toán báo cáo tài chính để hình
thành nhóm kiểm toán.
Bộ phận tư vấn có số nhân viên không lớn, gồm hai bộ phận nhỏ là bộ phận
tư vấn thuế và tư vấn quản lý.
Bộ phận tư vấn thuế gồm hai nhân viên, thực hiện việc tư vấn về thuế và
luật cho các doanh nghiệp giúp doanh nghiệp áp dụng đúng luật thuế và có giải
pháp hữu hiệu về thuế.
Bộ phận tư vấn quản lý gồm hai nhân viên, thực hiện việc tư vấn cho
doanh nghiệp các giải pháp quản lý, kinh doanh có hiệu quả.
Nhân viên bộ phận tư vấn ngoài việc thực hiện chức năng tư vấn còn thực
hiện việc trợ giúp cho bộ phận kiểm toán theo yêu cầu của chủ nhiệm kiểm
toán.
2.1.6. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại công ty TNHH kiểm toán
và tư vấn DCPA
2.1.6.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán
Công ty TNHH kiểm toán và tư vấn DCPA là một công ty nhỏ, bộ máy
quản lý đơn giản đồng thời đây là một công ty hoạt động trong lĩnh vực cung
cấp dịch vụ nên bộ máy kế toán của công ty được tổ chức đơn giản, gọn nhẹ chỉ
gồm kế toán trưởng, kế toán thanh toán và thủ quỹ.
Kế toán trưởng
Thủ quỹ
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của công ty DCPA
Kế toán trưởng là người điều hành toàn bộ công tác kế toán tại công ty,
chịu trách nhiệm trước giám đốc và phó giám đốc phụ trách hành chính về các

Lưu trữ, bảo quản chứng từ kế toán
Sơ đồ 2.3: Quy trình lập và luân chuyển chứng từ kế toán
2.1.6.2.4. Đặc điểm tổ chức hệ thống sổ kế toán
Công ty TNHH kiểm toán và tư vấn DCPA tổ chức hệ thống sổ kế toán
theo hình thức chứng từ ghi sổ. Theo hình thức này, hệ thống sổ kế toán của
công ty bao gồm các loại sổ sau:
- Chứng từ ghi sổ
- Sổ cái
- Sổ chi tiết
Chứng từ gốc
Sổ quỹ
Chứng từ ghi sổ
Sổ (thẻ) kế toán chi tiết
Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
Sổ cái
Bảng tổng hợp chi tiết
Bảng cân đối số phát sinh
Báo cáo tài chính và báo cáo kế toán khác
Quy trình ghi sổ kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ được thể hiện trong
sơ đồ 2.4
Sơ đồ 2.4: Quy trình ghi sổ kế toán tại công ty DCPA
Ghi hàng ngày
Ghi cuối kỳ
Quan hệ đối chiếu
2.1.6.2.5. Đặc điểm tổ chức hệ thống báo cáo kế toán
Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn DCPA lập hệ thống báo cáo kế toán
theo đúng quy định của chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ, bao gồm:
• Bảng cân đối kế toán Mẫu số B01 – DNN
• Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B02 – DNN
• Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu số B03 - DNN

chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Phương pháp kiểm toán của DCPA tập trung vào
các vấn đề có mức rủi ro cao giúp các kiểm toán viên vừa tuân thủ các chuẩn
mực kiểm toán vừa vận dụng linh hoạt vào từng cuộc kiểm toán cụ thể.
Quy trình chung của một cuộc kiểm toán do công ty DCPA thực hiện gồm
6 giai đoạn như sơ đồ 2.5
2.1.7.1.1. Thực hiện các công việc trước kiểm toán
Trước khi chấp nhận một cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải thu thập
những thông tin sơ bộ về lĩnh vực hoạt động, loại hình doanh nghiệp, hình thức
sở hữu, tình hình hoạt động, tổ chức bộ máy quản lý của đơn vị, qua đó đánh giá
khả năng thu thập thông tin về tình hình kinh doanh của khách hàng từ đó đánh
giá khả năng chấp nhận cuộc kiểm toán.
Việc thu thập thông tin cần thiết về tình hình kinh doanh của khách hàng là
một quá trình tích luỹ liên tục, các thông tin này có thể thu được từ các nguồn
cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, bao gồm các nguồn sau:
• Kinh nghiệm thực tiễn về đơn vị và ngành nghề kinh doanh của đơn
vị trên báo cáo tổng kết, biên bản làm việc, báo chí;
• Hồ sơ kiểm toán năm trước;
• Trao đổi với giám đốc, kế toán trưởng hoặc cán bộ, nhân viên của
đơn vị được kiểm toán;
• Trao đổi với kiểm toán viên nội bộ và xem xét báo cáo kiểm toán nội
bộ của đơn vị được kiểm toán;
• Trao đổi với kiểm toán viên khác và với các nhà tư vấn đã cung cấp
dịch vụ cho đơn vị được kiểm toán hoặc hoạt động trong cùng lĩnh
vực với đơn vị được kiểm toán;
• Tham khảo các ấn phẩm liên quan đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị
được kiểm toán;
• Các văn bản pháp lý và các quy định có ảnh hưởng đến đơn vị được
kiểm toán;
• Các tài liệu do đơn vị được kiểm toán cung cấp (Nghị quyết và biên
bản các cuộc họp, tài liệu gửi cho các cổ đông hay cho cơ quan cấp

cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán như:
• Sắp xếp công việc và nhân lực hợp lý, đảm bảo sự phối hợp giữa các
kiểm toán viên;
• Giúp chủ nhiệm kiểm toán dễ dàng quản lý, giám sát cuộc kiểm
toán;
• Là bằng chứng chứng minh các thủ tục kiểm toán đã được thực hiện.
Kế hoạch kiểm toán cụ thể gồm 3 phần: trắc nghiệm phân tích, trắc nghiệm
công việc và trắc nghiệm trực tiếp số dư. Mỗi một trắc nghiệm được thiết kế
gồm 4 nội dung:
• Thủ tục kiểm toán cần được sử dụng: hướng dẫn chi tiết về quá trình
thu thập một loại bằng chứng kiểm toán ở một thời điểm nào đó
trong khi tiến hành kiểm toán.
• Quy mô mẫu chọn: kiểm toán viên cần tiến hành chọn mẫu theo
phương pháp khoa học để chọn được mẫu có tính đại diện, phản ánh
được đặc trưng cơ bản của tổng thể.
• Khoản mục được chọn: Khi quyết định được số lượng mẫu thì cần
phương pháp chọn mẫu.
• Thời gian thực hiện: Xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc các thủ
tục kiểm toán đã đề ra.
2.1.7.2.4. Thực hiện kiểm toán
Trong giai đoạn này, kiểm toán viên sẽ triển khai một cách tích cực và chủ
động kế hoạch kiểm toán nhằm đưa ra ý kiến xác thực về mức độ hợp lý và
trung thực của bảng khai tài chính trên cơ sở các bằng chứng kiểm toán đầy đủ
và tin cậy.
Trước hết, cần đánh giá độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ để quyết
định việc sử dụng các trắc nghiệm kiểm toán.
Nếu kiểm toán viên khẳng định không thể dựa vào hệ thống kiểm soát nội
bộ, công việc kiểm toán sẽ được triển khai với việc sử dụng một số lượng lớn
các trắc nghiệm độ vững chãi.
Nếu kiểm toán viên khẳng định có thể dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ,

• Phát triển mô hình: xác định các biến tài chính và quan hệ giữa chúng;
• Xem xét tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ:
• Ước tính giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ;
• Phân tích nguyên nhân chênh lệch
• Xem xét những phát hiện qua kiểm toán.
 Thủ tục kiểm tra chi tiết
Các phương pháp kỹ thuật được sử dụng trong thủ tục kiểm tra chi tiết bao
gồm: so sánh, tính toán, xác nhận, kiểm tra thực tế, quan sát, soát xét lại chứng
từ sổ sách.
Quá trình kiểm tra chi tiết bao gồm các bước cơ bản sau:
• Lập kế hoạch kiểm tra chi tiết: gồm các công việc: xác định mục tiêu của
các biện pháp kỹ thuật, lựa chọn các khoản mục trong tổng thể .
• Lựa chọn các khoản mục để kiểm tra chi tiết.
• Lựa chọn khoản mục chính: Thường là những khoản mục mà theo
đánh giá, kinh nghiệm và sự hiểu biết về tình hình kinh doanh của
khách hàng, kiểm toán viên thấy chúng là khoản mục không phát
sinh thông thường, không dự đoán trước được hay dễ có sai phạm.
• Thực hiện các biện pháp kỹ thuật kiểm tra chi tiết trên các khoản
mục đã lựa chọn.
• Đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết.
• Xử lý chênh lệch kiểm toán: chênh lệch kiểm toán nếu có cần được
điều tra tính chất và nguyên nhân, thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ
sung, báo cáo cho ban giám đốc. Với chênh lệch kiểm toán không được
sửa đổi, cần lập tóm tắt tính trọng yếu của những chênh lệch này và xét
khả năng ảnh hưởng của chúng đến báo cáo tài chính.
2.1.7.2.5. Kết luận và lập báo cáo kiểm toán
Kết thúc giai đoạn thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên phải tập hợp các sai
sót, đưa ra các bút toán điều chỉnh, đánh giá mức độ ảnh hưởng tới báo cáo tài
chính. Sau đó, kiểm toán viên sẽ tiến hành lập và phát hành báo cáo kiểm toán.
Trong báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên sẽ đưa ra kết luận về báo cáo tài

khách hàng trong quá trình thực công việc theo đúng phương châm Công ty là
người bạn đồng hành của doanh nghiệp. Ngoài ra, tại Công ty DCPA, việc đánh
giá nhân viên sau mỗi cuộc kiểm toán là một thủ tục bắt buộc. Thông qua đó,
mỗi nhân viên sẽ thu được các bài học kinh nghiệm thực tế rất hữu ích cho các
cuộc kiểm toán tiếp theo.
2.1.7.2. Đặc điểm tổ chức hệ thống hồ sơ kiểm toán tại công ty TNHH kiểm
toán và tư vấn DCPA
Hồ sơ kiểm toán bao gồm tất cả các tài liệu do kiểm toán viên lập, thu thập,
lưu trữ trong một cuộc kiểm toán. Hồ sơ kiểm toán là tài sản của công ty kiểm
toán. Hồ sơ kiểm toán gồm 2 loại: hồ sơ kiểm toán chung và hồ sơ kiểm toán
năm. Hồ sơ kiểm toán chung chứa đựng các thông tin chung về khách hàng liên
quan tới hai hay nhiều cuộc kiểm toán trong nhiều năm tài chính của một khách
hàng. Hồ sơ kiểm toán năm là hồ sơ kiểm toán chứa đựng các thông tin về
khách hàng chỉ liên quan tới cuộc kiểm toán một năm tài chính. Hồ sơ kiểm
toán tại công ty DCPA được lập rất khoa học, được lưu trữ bằng văn bản và
trong mạng máy tính nội bộ của công ty.
Hồ sơ kiểm toán chung thường bao gồm: quyết định thành lập, giấy phép
hoạt động, giấy phép kinh doanh, điều lệ doanh nghiệp, các văn bản pháp lý liên
quan đến hoạt động của doanh nghiệp như chính sách thuế, các tài liệu liên quan
đến nhân sự, thoả ước lao động, hợp đồng liên doanh, liên kết.
Hồ sơ kiểm toán năm thường bao gồm:
• Thông tin về người lập, kiểm tra hồ sơ kiểm toán;
• Các văn bản về tài chính, kế toán, thuế, báo cáo kiểm toán, thư quản
lý, báo cáo tài chính và các báo cáo khác;
• Hợp đồng kiểm toán, thư hẹn kiểm toán, phụ lục hợp đồng, bản
thanh lý hợp đồng; những bằng chứng về thay đổi hệ thống kế toán
và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng;
• Những bằng chứng và kết luận trong việc đánh giá rủi ro tiềm tàng,
rủi ro kiểm soát và những đánh giá khác;
• Những bằng chứng đánh giá của kiểm toán viên về những công việc

• 6000: Các tài liệu khác có liên quan.
Tuỳ theo từng công ty khách hàng, hồ sơ kiểm toán có thể thay đổi cho phù
hợp, đảm bảo tính khoa học, chặt chẽ.
2.1.7.3. Đặc điểm hệ thống kiểm soát chất lượng tại công ty TNHH kiểm toán
và tư vấn DCPA
2.1.7.3.1. Phân công trách nhiệm cho các nhân viên nghiệp vụ theo trình độ
chuyên môn
Mỗi cuộc kiểm toán do một số nhân viên chịu trách nhiệm thực hiện. Để
đảm bảo chất lượng cuộc kiểm toán, tuỳ thuộc vào quy mô, tính chất cuộc kiểm
toán mà một hay một số cấp bậc kể trên với trình độ chuyên môn phù hợp sẽ
tham gia. Trong mỗi nhóm kiểm toán có sự thống nhất cao về công việc và sự
tuân thủ hướng dẫn nghiệp vụ của cấp trên đối với cấp dưới.
Giám đốc kiểm toán là người có chuyên môn cao nhất, chịu trách nhiệm
cao nhất về chất lượng cuộc kiểm toán, là người soát xét cuối cùng nhằm đảm
bảo cuộc kiểm toán đã tuân thủ theo đúng yêu cầu chung của công ty DCPA.
Mọi cuộc kiểm toán của công ty DCPA đều có sự tham gia của ít nhất một giám
đốc kiểm toán tuỳ theo quy mô và tính chất phức tạp của công việc. Giám đốc
kiểm toán sẽ xem xét các vấn đề về tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, về tính độc
lập của nhóm kiểm toán và các quy định khác.
Chủ nhiệm kiểm toán cũng là người có chuyên môn cao, chịu trách nhiệm
đảm bảo chất lượng cuộc kiểm toán bằng cách trực tiếp hướng dẫn cuộc kiểm toán,
soát xét và thảo luận các vấn đề phát sinh trong cuộc kiểm toán.
Kiểm toán viên chính là người thực hiện các công việc chính của một cuộc
kiểm toán từ lập kế hoạch kiểm toán đến lập báo cáo kiểm toán. Thông thường,
kiểm toán viên chính là trưởng nhóm kiểm toán, chịu trách nhiệm phân công
công việc cho các trợ lý kiểm toán. Tại công ty DCPA, kiểm toán viên chính
phụ trách mọi cuộc kiểm toán đều là những kiểm toán viên được cấp chứng chỉ
hành nghề của bộ tài chính. Trong suốt cuộc kiểm toán, kiểm toán viên chính
chịu trách nhiệm hướng dẫn và soát xét công việc của trợ lý kiểm toán.
Trợ lý kiểm toán là những nhân viên có từ 1 đến 3 năm kinh nghiệm. Trong

• Khi cần thiết, có thể tham khảo ý kiến tư vấn của chuyên gia trong
công ty và bên ngoài;
• Duy trì các khách hàng hiện có và cân nhắc kỹ lưỡng việc chấp
nhận các khách hàng mới;
• Thường xuyên theo dõi việc thực hiện các chính sách đảm bảo chất
lượng của công ty;
• Các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng phải được phổ biến
tới tất cả các cán bộ, nhân viên của công ty giúp họ hiểu và thực
hiện các chính sách đó;
• Việc áp dụng các chính sách kiểm soát chất lượng cần linh hoạt, phù
hợp với đặc điểm riêng của từng công ty khách hàng.
2.2. THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO, TRỌNG YẾU TẠI CÔNG TY
TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN DCPA
2.2.1. Đặc điểm chung về quy trình đánh giá trọng yếu, rủi ro của công ty
DCPA
Chất lượng cuộc kiểm toán là vấn đề ban lãnh đạo công ty DCPA rất quan
tâm, tạo nên uy tín cho công ty. Để có một cuộc kiểm toán đạt chất lượng cao,
tất cả các giai đoạn của cuộc kiểm toán đều được chú trọng, đặc biệt là những
giai đoạn đòi hỏi nhiều kinh nghiệm của kiểm toán viên như giai đoạn đánh giá
rủi ro, xác định mức trọng yếu của cuộc kiểm toán, đều do quản lý cấp cao, có
nhiều năm kinh nghiệm của công ty thực hiện.
Mặc dù được cụ thể hoá thành nhiều giai đoạn nhưng nhìn chung quy trình
thực hiện kiểm toán của công ty DCPA tuân theo quy trình kiểm toán chung,
gồm 3 bước: chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán.
Việc đánh giá rủi ro được thực hiện trong cả 2 giai đoạn: chuẩn bị kiểm toán và
thực hiện kiểm toán
2.2.1.1. Đánh giá rủi ro, trọng yếu trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán tại công
ty DCPA
Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, kiểm toán viên cần thực hiện các công
việc:

b) Đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Khi quyết định chấp nhận hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên sẽ tiến hành
tìm hiểu kỹ hơn về khách hàng để đưa ra mức rủi ro cụ thể hơn nhằm lập kế
hoạch phù hợp để thu thập bằng chứng kiểm toán. Trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán, rủi ro kiểm toán được xác định bao gồm: xác định mức rủi ro mong
muốn cho toàn bộ báo cáo tài chính, đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát,
rủi ro phát hiện cho toàn bộ báo cáo tài chính. Rủi ro được đánh giá tại 1 trong 3
mức độ: thấp , trung bình, cao.
Mối quan hệ giữa các loại rủi ro kiểm toán có thể được minh họa qua công
thức sau:
DAR = IR x CR x DR
Trong đó
DAR : mức rủi ro kiểm toán mong muốn
IR: rủi ro tiềm tàng
CR: rủi ro kiểm soát
DR: rủi ro phát hiện
Do đó, rủi ro phát hiện được xác định sau khi xác định rủi ro mong muốn,
rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát bằng cách:

Trích đoạn Đánh giá rủi ro, trọng yếu trong giai đoạn thực hiện kiểm toán tại công ty DCPA Đánh giá trọng yếu, rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán khách hàng A
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status