PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM
TOÁN BÁN HÀNG THU TIỀN CỦA KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI TỔNG
CÔNG TY SÔNG ĐÀ
1. Đánh giá công tác kiểm toán nội bộ nói chung và kiểm toán quy trình bán
hàng- thu tiền nói riêng tại Tổng công ty Sông Đà
1.1.Tổ chức và hoạt động kiểm toán nội bộ
Cùng với sự đổi mới và phát triển của nền kinh tế đất nước, hàng loạt các
Tổng công ty Nhà nước được thành lập và ngày càng hoạt động rộng khắp trên
các lĩnh vực. Xuất phát từ nhu cầu bảo đảm sự chính xác của các hồ sơ, số liệu,
sự tuân thủ các quy tắc, kiểm soát gian lận và sai sót, phục vụ nhu cầu quản trị
nội bộ doanh nghiệp đồng thời giúp các nhà quản lý đơn vị ra những quyết định
chính xác, kiểm toán nội bộ đã sớm hình thành và ngày càng phát triển khẳng
định vị trí và vai trò tích cực của mình trong đời sống kinh tế nói chung và đối
với các doanh nghiệp nói riêng. Với sự phát triển mạnh mẽ của ngành KTNB
trên thế giới, KTNB ở Việt Nam cũng đang dần trở thành một hoạt động quen
thuộc và đóng vai trò nhất định trong các công ty, Tổng công ty lớn và là một
yêu cầu thiết yếu mà Bộ tài chính đặt ra với các doanh nghiệp.
- Sau quyết định 832/TC/QĐ/CĐKT ngày 28 tháng 10 năm 1997 cùng
với sự ra đời của hàng loạt kiểm toán nội bộ tại các Tổng công ty, Tổng công
ty Sông Đà cũng thành lập phòng kiểm toán nội bộ. Đây là yêu cầu khách quan
cho việc đảm bảo chất lượng thông tin kinh tế, tài chính của bản thân Tổng
công ty. Sau 7 năm hoạt động kiểm toán nội bộ Tổng công ty Sông Đà đã
khẳng định được mình là một nhân tố không thể thiếu trong sự phát triển chung
của Tổng công ty.
Sau quyết định số 21, phòng kiểm toán nội bộ Tổng công ty Sông Đà đã
tách riêng thành Công ty kiểm toán và tư vấn dịch vụ kế toán với chức năng và
nhiệm vụ của mình đã thực hiện tốt nhiệm vụ do Tổng công ty giao.
Hàng năm tiến hành kiểm toán quyết toán các dự án đầu tư của các đơn vị
thành viên, các ban quản lý, ban điều hành của Tổng công ty. Trong quá trình
hoạt động kiểm toán nội bộ Tổng công ty Sông Đà đã góp phần quan trọng trong
việc giúp Ban giám đốc, Hội đồng quản trị nắm bắt rõ tình hình hoạt động sản
2
2
Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Giai đoạn này được tiến hành tương nhanh chóng và chi tiết. Việc phân
công lựa chọn nhân lực rất hợp lý, tất cả các KTV được thường xuyên thay nhau
thiết lập chương trình kiểm toán cụ thể đối với từng đơn vị thành viên. Điều này
giúp cho tất cả các KTV đều có thể tăng trình độ chuyên môn nghiệp vụ của
mình.
Kế hoạch kiểm toán được gửi cho đơn vị khá chi tiết về mặt thời gian, tạo
điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sẽ có sự chuẩn bị trước để công việc kiểm
toán không làm ảnh hưởng đến nhiều hoạt động của đơn vị. Tuy nhiên kế hoạch
này cần xác định thêm các bước công việc, quy định về trách nhiệm của KTV
trong khi tiến hành kiểm toán từng khoản mục của mình trong đề cương do
chính KTV thực hiện.
Do Công ty chủ yếu tiến hành kiểm toán các đơn vị thành viên trong Tổng
công ty mà công việc này được thực hiện thường niên do đó việc thu thập thông
tin cơ sở của đơn vị được kiểm toán cũng gặp nhiều thuận lợi. Việc thu thập
thông tin cơ sở về đơn vị thường lấy từ các file kiểm toán năm trước và KTV chỉ
xem xét đến những thay đổi, chính sách chế độ mới mà thôi, do vậy tiết kiệm
được thời gian, việc lập kế hoạch diễn ra nhanh chóng.
Trong giai này, nhóm KTV đã tiếp cận với cuộc kiểm toán qua các chương
trình kiểm toán khoản mục cụ thể và phân chia nhiệm vụ, thời gian. Kế hoạch kiểm
toán có sự thống nhất giữa các KTV phần hành chịu trách nhiệm đảm nhận một
phần hành nhất định, và được duyệt cuối cùng thông qua trưởng đoàn kiểm toán.
Tuy nhiên trong giai đoạn này ở Tổng công ty Sông Đà việc đánh giá hệ
thống kiểm soát nội bộ đã được tiến hành thông qua việc soát xét các tài liệu
nhưng việc miêu tả hệ thống kiểm soát còn chưa khoa học, sự đánh giá do vậy ít
nhiều mang tính chủ quan. Việc đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán chưa
thực sự được thực hiện một cách hoàn chỉnh do các KTV nội bộ chưa có đủ khả
năng cũng như chưa có đủ phương tiện, thiết bị để đánh giá một cách chính xác
của các chỉ tiêu như: giá vốn, tỷ lệ lãi gộp/ doanh thu, tỷ lệ giá vốn trên doanh
thu… Đối với khoản mục phải thu khách hàng đã tiến hành so sánh tỷ lệ phải
thu khách hàng/ doanh thu thuần để xem xét sự tương quan về biến động của hai
khoản mục này. Tuy nhiên cũng chưa tiến hành một số thủ tục phân tích với chất
lượng cao hơn. Việc phân tích sơ sài các khoản mục này có thể dẫn đến các
bước kiểm toán tiếp theo không thực sự chính xác. Đặc biệt là đối với khoản
4
4
mục phải thu khách hàng, việc tiến hành phân tích đơn giản không giúp cho
KTV nhận biết được khoản thu nào là trọng điểm và khách hàng nào là chủ yếu.
- Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ bán hàng và thu tiền:
Trong công việc này các KTV đã tiến hành chọn mẫu các nghiệp vụ phát
sinh và với mỗi mẫu được chọn sẽ tiến hành đối chiếu các số liệu để phát hiện ra
gian lận và sai sót. Một ưu điểm lớn nhất trong công việc này ở Công ty kiểm
toán đó là mỗi một công việc được tiến hành qua hai lần: một KTV tiến hành
kiểm tra chi tiết và ghi chép trên các giấy tờ làm việc; sau đó giấy tờ làm việc đó
sẽ được một KTV có trình độ nghiệp vụ cao hơn tiến hành soát xét, nếu có thiếu
sót KTV sẽ tiến hành điều chỉnh lại. Điều này sẽ hạn chế được một cách tối đa
các rủi ro kiểm toán.
+ Công việc chọn mẫu ở Công ty:
Trong quá trình tiến hành kiểm tra chi tiết việc xác định số mẫu kiểm tra
còn mang tính nhận định chủ quan, dựa vào khả năng xét đoán cũng như kinh
nghiệm của KTV. Việc xác định số mẫu chọn chủ yếu theo quy luật số lớn và
thực hiện kiểm toán đối với những mẫu có khả năng gian lận và sai sót nhiều
hơn, công ty chưa thực sự có một chương trình tính toán cụ thể. Điều này có thể
dẫn đến những sai sót nhỏ thường ít được phát hiện và nếu như vậy cũng có khả
năng ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính.
+ Việc gửi thư xác nhận:
Theo quy định của Tổng công ty Sông Đà cho các đơn vị thành viên,
hàng quý hoặc 6 tháng các đơn vị này phải tiến hành đối chiếu công nợ với
chi tiết, việc ghi chép của KTV chỉ trên một bảng kiểm tra chi tiết trong đó
không thực sự nêu rõ những nghiệp vụ sai sót gian lận do nguyên nhân nào và
nghiệp vụ nào chưa xác minh rõ nguyên nhân.
2. Sự cần thiết phải hoàn thiện.
2.1.Kiểm toán nội bộ tại Tổng công ty Sông Đà.
Ngày nay trên thế giới sự phát triển từng ngày của ngành kiểm toán nói
chung và KTNB nói riêng thể hiện ở sự thay đổi về bản chất và phạm vi hoạt
động kiểm toán. Sự ra đời của KTNB trong các tổ chức lúc ban đầu xuất phát
từ nhu cầu đảm bảo sự chính xác của các hồ sơ, số liệu, sự tuân thủ các quy
tắc, kiểm soát gian lận, sai sót. Qua thời gian, KTNB đã trở thành một công
6
6
việc có phạm vi ngày càng rộng lớn đối với các tổ chức thuộc tất cả các lĩnh
vực. KTNB do đó cũng gặt hái được rất nhiều thành tựu trong nghiên cứu
cũng như trong phương pháp tiếp cận.
KTNB được nhìn nhận như một nhiệm vụ không thể thiếu trong mọi
lĩnh vực của tổ chức. Sự mở rộng về loại hình hoạt động của KTNB đã được
các đơn vị thừa nhận. Điều đó thể hiện ở vị trí cao hơn trong tổ chức, ngân
sách hoạt động lớn hơn để phục vụ cho nhiều loại hình hoạt động khác nhau.
Trong hầu hết các công ty, chuyên viên kiểm toán và các nhân viên khác được
nhìn nhận như những cộng sự quan trọng trong hoạt động chung của công ty.
Tất cả thừa nhận trên chứng tỏ công việc của KTNB đang ngày càng mở rộng
và trở nên độc lập hơn.
Đứng trước tình hình trên, Kiểm toán nội bộ Tổng công ty Sông Đà
cũng phải có những thay đổi chiến lược để có thể đáp ứng được nhu cầu sử
dụng thông tin của Ban lãnh đạo Tổng công ty, phù hợp với xu thế phát triển
của thế giới. Theo đó kiểm toán nội bộ Tổng công ty Sông Đà đã có những
hướng phát triển rộng hơn mà điển hình là việc tách Phòng kiểm toán nội bộ
thành một Công ty hoạt động độc lập trực thuộc Tổng công ty, mở rộng lĩnh
vực hoạt động và tiến tới hoạt động mang tính chất độc lập hơn. Đồng thời