THỰC HÀNH KIỂM TOÁN CHU TRÌNH MUA HÀNG THANH
TOÁN TRONG QUÁ TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI
CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN KẾ TOÁN VÀ KIỂM
TOÁN VIỆT NAM (AVA)
2.1. Tổng quan về công ty TNHH tư vấn Kế toán và Kiểm toán Việt
Nam (AVA).
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty.
2.1.1.1.Quá trình hình thành và các giai đoạn phát triển của công ty.
- Trong quá trình phát triển nền kinh tế đất nước,nhiều công ty, nhiều
doanh nghiệp đã ra đời đáp ứng được nhu cầu đa dạng của con người. Trong đó
lĩnh vực kiểm toán ngày càng phát triển và trở nên hết sức cần thiết trong nền
kinh tế. Hoà trong nhu cầu thiết yếu chung đó Công ty TNHH tư vấn kế toán và
kiểm toán Việt Nam (AVA) ra đời.
Tên công ty : Công ty TNHH tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam (AVA)
Tên giao dịch: VIET NAM AUDITING AND ACCOUNTING
CONSULTANCY COMPANY LIMITED.
Địa chỉ : Số 160 phố Phương Liệt - phường Phương Liệt - Quận Thanh Xuân
-thành phố Hà Nội.
Điện thoại : 04-8686248
Công ty TNHH tư vấn kế toán và kiểm toán VN (AVA) được thành lập ngày
10/10/2006 theo Giấy đăng ký kinh doanh số 0102028384 do Sở Kế hoạch và
Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp và sửa đổi bổ sung ngày 22/02/2007. AVA là
một trong những loại hình công ty TNHH có hai thành viên trở lên hoạt động
trong lĩnh vực kiểm toán, kế toán, tư vấn tài chính và thẩm định giá có đội ngũ
kiểm toán viên và cộng tác viên đông đảo, giàu kinh nghiệm.
Tuy mới chỉ thành lập được hơn một năm nhưng Công ty TNHH tư vấn
kế toán và kiểm toán VN đã đạt được một số thành tích rất nổi bật như sau:
Ngày 26/11/2007, theo Công văn số 302/VACPA của Hội Kiểm toán
viên hành nghề Việt Nam (VACPA) v/v công khai lần 1, AVA được công nhận
là một trong những công ty kiểm toán có đủ điều kiện kiểm toán năm 2007 –
2008.
- Tư vấn quản lý;
- Dịch vụ kế toán;
- Dịch vụ định giá tài sản;
- Dịch vụ bồi dưỡng cập nhật kiến thức tài chính, kế toán, kiểm toán;
- Các dịch vụ liên quan khác về tài chính, kế toán, thuế theo quy định của pháp
luật;
- Dịch vụ soát xét BCTC.
Từ khi thành lập đến nay,công ty đã cung cấp cho khách hàng nhiều loại
hình dịch vụ có giá trị cao như: dịch vụ kiểm toán, dịch vụ kế toán, dịch vụ tư
vấn, dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp và tư vấn cổ phần hoá, dịch vụ đào
tạo và hỗ trợ tuyển dụng, dịch vụ cung cấp thông tin và hỗ trợ hần mềm kế
toán.p
2.1.1.3.Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty vài năm gần đây.
Công ty đang hoạt động với tổng số vốn điều lệ: 3.000.000.000 đồng (Ba
tỷ đồng Việt Nam).
Bảng 2.1: DANH SÁCH THÀNH VIÊN GÓP VỐN
Kết quả kinh doanh của công ty trong năm vừa qua
Tuy công ty mới chỉ thành lập được hơn một năm nhưng trong năm đầu thành
lập công ty đã đạt được những kết quả rất khả quan. Điều đó thể hiện qua kết
quả kinh doanh trong ba quý của năm 2007 cụ thể như sau:
Bảng 2.2 :BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
Quý Doanh thu Giá vốn
Quý I/2007 1.844 1.816
Quý II/2007 2.305 2.270
Quý III/2007 1.383 1.362
Tổng 5.532 5.448
2.1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty.
2.1.2.1. Đội ngũ nhân viên.
Để hoạt động thành công và có hiệu quả công ty luôn coi trọng vấn đề
trình độ và kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên. Hiện nay AVA có 14 kiểm toán
trước pháp luật về mọi hoạt động của công ty. Điều hành toàn bộ hoạt động của
công ty như : sử dụng có hiệu quả toàn bộ vốn tự có của công ty trong hoạt
động cung cấp dịch vụ.
*Phó giám đốc : là người được giám đốc uỷ quyền chỉ đạo và điều hành
các bộ phận công việc được uỷ quyền.
*Phòng tài vụ kế toán : có nhiệm vụ quản lý toàn bộ vốn, tài sản của công
ty, tổ chức kiểm tra thực hiện chính sách kế toán - tài chính, thống kê kịp thời
chính xác tình hình tài sản và nguồn vốn giúp giám đốc kiểm tra thường xuyên
toàn bộ hoạt động cung cấp dịch vụ của công ty. Cập nhật sổ sách, chứng từ,
hoá đơn có liên quan đến các hoạt động của công ty.
* Các phòng nghiệp vụ 1,2,3,4,5: trực tiếp thực hiện việc cung cấp các
dịch vụ tư vấn kế toán,kiểm toán và thẩm định giá…
- Phòng nghiệp vụ 1 : Thực hiện
Dịch vụ kế toán:
+ Tư vấn lựa chọn hình thức sổ và bộ máy kế toán.
+ Tư vấn lập báo cáo tài chính cho doanh nghiệp.
+ Làm thuê kế toán
Dịch vụ tư vấn:
+ Kho dữ liệu các văn bản pháp quy của Việt Nam.
+ Kho dữ liệu các văn bản thuế nói riêng.
- Phòng nghiệp vụ 2: thực hiện
Xác định cơ cấu chiến lược kinh doanh:
+ Tư vấn thiết lập hệ thống kiếm soát nội bộ hiệu quả cho doanh nghiệp,
xây dựng quy chế tài chính cho doanh nghiệp.
+ Tư vấn quản lý tiết kiệm chi phí của doanh nghiệp.
+ Tư vấn quản lý tiền lương và nhân sự.
+ Tư vấn lập dự án khả thi cho các doanh nghiệp trong giai đoạn đầu, tư
vấn đầu tư, lựa chọn phương án kinh doanh cho doanh nghiệp.
- Phòng nghiệp vụ 3: thực hiện
Thực hiện kiểm toán
tác kế toán tập trung. Theo hình thức tổ chức này thì toàn bộ công việc kế toán
được thực hiện tập trung tại phòng kế toán của công ty. Bộ máy kế toán của
công ty bao gồm 2 người được phân công như sau :
+ Kế toán trưởng (kiêm phó giám đốc) : giúp giám đốc công tác tổ chúc
chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác kế toán, tài chính thông tin kinh tế trong toàn
công ty theo cơ chế quản lý mới và theo đúng pháp lệnh kế toán thống kê, điều
lệ tổ chức kế toán nhà nước và điều lệ kế toán trưởng hiện hành. Ngoài ra kế
toán trưởng còn hướng dẫn, kiểm tra việc chỉ đạo hạch toán, lập kế hoạch tài
chính, chịu trách nhiệm trước giám đốc và ban lãnh đạo về công tác kế toán tài
chính tại công ty.
+Kế toán tổng hợp : tiến hành ghi sổ tổng hợp, lập các báo cáo chi tiết và
tổng hợp báo cáo của các chi nhánh gửi lên thành báo cáo công ty. Ngoài ra kế
toán tổng hợp cũng là người kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ của chứng từ, cũng như
việc ghi chép sổ sách kế toán. Do bộ máy kế toán của công ty còn nhỏ gọn chỉ
có 2 người nên kế toán tổng hợp cũng kiêm trách nhiệm của các nhân viên kế
toán như : kế toán tiền mặt, tiền gửi, tài sản cố định, kế toán thanh toán…
2.1.3. Đặc điểm công tác kiểm toán tại công ty.
2.1.3.1.Các dịch vụ cung cấp.
Công ty cung cấp nhiều loại hình dịch vụ và đều có kết quả cao. Nhưng
dịch vụ kiểm toán là một trong những dịch vụ mang lại hiệu quả lớn nhất cho
công ty.Bao gồm các dịch vụ kiểm toán có giá trị cao như sau :
o Kiểm toán các Báo cáo tài chính
o Kiểm toán hoạt động các dự án
o Kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình xây dựng
o Kiểm toán xác định vốn góp liên doanh
o Kiểm toán tuân thủ
o Kiểm toán hoạt động
o Kiểm toán theo thủ tục như cam kết
2.1.3.2.Khách hàng của công ty.
Hiện nay công ty đang thực hiện cung cấp các dịch vụ chuyên ngành
đất tại 203 Minh Khai của TCT Thực
phẩm Miền Bắc
- Xác định giá trị doanh nghiệp để góp vốn cổ phần Công ty Cổ phần Đức
Hoàng
- Xác định giá trj quyền sử dụng đất 8130m
2
tại phố Mạc Thị Bưởi của
Công ty Thực phẩm Hà Nội
- Thẩm định Giá trị dự án đầu tư của Công ty Môi trường đô thị Hà Nội.
2.1.3.3.Quy trình kiểm toán tại công ty.
Kiểm toán là một hoạt động có chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về
thực trạng tài chính. Các yếu tố của xác minh và bày tỏ ý kiến là kiểm toán cân
đối, đối chiếu lôgic, đối chiếu trực tiếp, kiểm kê, thực hiện và điều tra…Các yếu
tố này cần được kết hợp với nhau theo một trình tự kho phù hợp với đối tượng
cụ thể ở một khách thể xác định.
Do trình tự của bản thân công tác kiểm toán khác nhau song trong mọi
trường hợp, tổ chức kiểm toán đều phải được thực hiện theo một quy trình
chung với ba bước cơ bản:
Bước 1: Chuẩn bị kiểm toán
Bước 2: Thực hành kiểm toán
Bước 3: Kết thúc kiểm toán
Để thực hiện quy trình kiểm toán với 3 bước nêu trên, khái niệm “Cuộc
kiểm toán” phải bao hàm đầy đủ các yếu tố sau:
a.Đối tượng kiểm toán
b.Mục tiêu và phạm vi kiểm toán
c.Chủ thể kiểm toán
d.Khách thể kiểm toán
e.Phương pháp áp dụng trong kiểm toán và cơ sở pháp lý thực hiện kiểm toán
f.Thời hạn kiểm toán
* Chuẩn bị kiểm toán
tiêu, phạm vi kiểm toán nói chung. Đây là vấn đề hệ trọng, đặc biệt với kiểm
toán tài chính nên đã được ghi trong 10 chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận
phổ biến.
Cùng với việc chỉ định con người, cần chuẩn bị các thiết bị và điều kiện
vật chất khác kèm theo: phương tiện tính toán và kiểm tra thích ứng với đặc
điểm tổ chức kế toán, phương tiện kiểm kê thích ứng với từng loại vật tư, đá
quý…
*Thu thập thông tin
Trong thu thập thông tin công ty thường tận dụng tối đa nguồn tài liệu đã
có song khi cần thiết vẫn phải có những biện pháp điều tra bổ sung.
Các nguồn tài liệu đã có thường bao gồm:
- Các nghị quyết có liên quan đến hoạt động của đơn vị được kiểm toán.
- Các văn bản có liên quan đến đối tượng và khách thể kiểm toán.
- Các kế hoạch, dự toán, dự báo có liên quan.
- Các báo cáo kiểm toán lần trước, các biên bản kiểm kê hoặc biên bản xử
lý các vụ xảy ra trong kỳ kiểm toán.
- Các tài liệu có liên quan.
- Trong nhiều trường hợp, nguồn thông tin đã có chưa đủ cần tiến hành
khảo sát, điều tra bổ sung, song cũng ở mức khái quát phục vụ cho việc lập kế
hoạch kiểm toán.
*Lập kế hoạch kiểm toán
Dựa trên bản hợp đồng đã được ký kết, phù hợp với hệ thống chuẩn mực
kiểm toán Việt Nam hiện hành và chuẩn mực kiểm toán Quốc tế được thừa
nhận, tiến hành lập kế hoạch kiểm toán tổng thể, định hướng cho cuộc kiểm
toán (có được từ các thông tin chung về công ty), lập kế hoạch kiểm toán chi tiết
(có được từ thông tin của bản hợp đồng,chương trình kiểm toán chuẩn của công
ty), bố trí hệ thống nhân sự các cấp phù hợp với hợp đồng đã ký kết với khách
hàng (Ban giám đốc điều hành hợp đồng - Ban cố vấn thường trực - Công ty
liên kết - (nếu cần thiết) - Cộng tác viên (nếu cần thiết) - Nhóm kiểm toán).
Trong quá trính náy công ty sẽ gửi tới đơn vị các văn bản đề nghị chuẩn bị số
trong tất cả các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính với mục tiêu đưa ra các ý kiến
đánh giá, tư vấn hữu hiệu nhất cho khách hàng về báo cáo tài chính hàng năm.
* Kết thúc kiểm toán
Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán kiểm toán viên phải tiến hành hàng
loạt công việc cụ thể bao gồm: xem xét các khoản nợ ngoài dự kiến; xem xét
các sự kiến xảy ra sau ngày kết thúc niên độ; xem xét giả thuyết về tính liên tục
trong hoạt động của đơn vị; thu thập thư giải trình của Ban Giám đốc đơn vị;
tổng hợp kết quả kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán.
Nội dung và hình thức cụ thể của kết luận báo cáo kiểm toán rất đa dạng
tuỳ theo mục tiêu, phạm vi, loại hình kiểm toán. Tuy nhiên, về mặt khoa học
cũng cần khái quát các yêu cầu và nội dung cơ bản cảu kết luận và báo cáo hoặc
biên bản kiểm toán.
Kết luận kiểm toán là sự khái quát kết quả thực hiện các chức năng kiểm
toán trong từng cuộc kiểm toán cụ thể. Vì vậy, kết luận kiểm toán phải đảm bảo
yêu cầu cả về nội dung cũng như tính pháp lý.
Về nội dung, kết luận kiểm toán phải phù hợp, đầy đủ. Sự phù hợp của
kết luận kiểm toán là sự nhất quán giữa kết luận nêu ra với mục tiêu kiểm toán
(đã nêu trong kế hoạch hoặc hợp đồng hay lệnh kiểm toán). Sự đầy đủ của kết
luận bao hàm toàn bộ yêu cầu, phạm vi kiểm toán đã xác định và được điều
chỉnh (nếu có): mọi khía cạnh khác nhau về nội dung đã xác định trong yêu cầu
và mọi bộ phận thuộc phạm vi kiểm toán đã nêu trong kế hoạch kiểm toán hoặc
được điều chỉnh (nếu có) đều phải được bao hàm trong kết luận kiểm toán.
Tính pháp lý của kết luận kiểm toán trước hết đòi hỏi những bằng chứng
tương xứng theo yêu cầu của các quy chế, chuẩn mực và luật pháp. Đồng thời,
tính pháp lý này cũng đòi hỏi các kết luận phải chuẩn xác trong từ ngữ và văn
phạm. Chẳng hạn, kết luận kiểm toán không được dùng các cụm từ “nói chung
là…” “tương đối là…”.
Để bảo đảm các yêu cầu pháp lý, trong kiểm toán tài chính, kết luận kiểm
toán được quy định thành chuẩn mực với 4 loại ý kiến:
1. Ý kiến chấp nhận toàn bộ
2.2. Thực trạng kiểm toán chu trình mua hàng – thanh toán trong
kiểm toán báo cáo tài chính tại Công tyTNHH tư vấn Kế toán và
Kiểm toán Việt Nam (AVA).
2.2.1.Giới thiệu về khách hàng.
Việc đầu tiên trong tất cả các cuộc kiểm toán là công ty phải tiếp cận với
khách hàng. Để tiến hành kiểm toán Công ty AVA bắt đầu gửi thư chào hàng
đến cả những khách hàng thường xuyên của công ty và một số khách hàng mới.
Công ty sẽ giới thiệu đầy đủ các loại hình dịch vụ của mình với cam kết đảm
bảo chất lượng tốt nhất qua thư chào hàng. Công ty sẽ nhận được các thư mời
kiểm toán khi công ty khách hàng đã chấp nhận. Công việc kiểm toán sẽ được
xem xét khả năng chấp nhận khi Công ty AVA đã có những hiểu biết sơ bộ về
khách hàng.Khi đã quyết định sẽ kiểm toán cho khách hàng BGĐ hai bên sẽ gặp
gỡ trực tiếp cùng thoả thuận các điều khoản trong hợp đồng, đi đến thống nhất
và ký kết hợp đồng kiểm toán.
Trong quá trình thực tập tại Công ty AVA em đã được tham gia trực tiếp
kiểm toán chu trình mua hàng – thanh toán tại hai công ty A và B.
*Công ty A :
+ Công ty A là khách hàng năm đầu tiên của AVA.Công ty A là công ty
cổ phần được thành lập dưới hình thức chuyển từ doanh nghiệp nhà nước thành
công ty cổ phần theo Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 06 năm 2002
của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần và
Quyết định số 309/2003/QĐ-HĐQT ngày 29 tháng 11 năm 2002 của HĐQT
Tổng công ty hoá chất Việt Nam về kế hoạch cổ phần hoá doanh nghiệp năm
2003.Quyết định số 248/2003/QĐ-BCN ngày 31 tháng 12 năm 2003 của Bộ
trưởng bộ công nghiệp về việc chuyển chính thức công ty A thuộc Tổng công ty
Hoá chất Việt Nam thành Công ty cổ phần A. Công ty hoạt động sản xuất kinh
doanh theo Chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103006569 ngày 27 tháng 01
năm 2005 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp.
+ Trụ sở chính của công ty tại 233B - Nguyễn Trãi - Thanh Xuân - Hà
Nội.
Chính vì vậy trước khi tiến hành cuộc kiểm toán cụ thể công ty yêu cầu khách
hàng cung cấp các thông tin về tài chính như: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ…của năm tài chính cần
kiểm toán. Từ đó giúp cho KTV có cái nhìn tổng quát về công ty khách hàng và
có cơ sở đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát để xây dựng chương trình kiểm toán
cụ thể.
* Chọn nhóm kiểm toán
Sau khi đã có những hiểu biết sơ bộ về công ty khách hàng công ty
AVA sẽ chọn ra một nhóm kiểm toán bao gồm từ ba đến bốn người. Trong đó
có trưởng nhóm kiểm toán là một KTV giám sát trực tiếp công việc và thực hiện
một số phần hành kiểm toán cụ thể đồng thời là người quản lý và soát xét cuộc
kiểm toán. Ngoài ra bao gồm một kiểm toán viên và từ một đến hai trợ lý kiểm
toán.
2.2.2.2.Tìm hiểu hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Trong giai đoạn này KTV tiến hành thu thập các thông tin về ngành nghề
hoạt động kinh doanh của khách hàng. Tuỳ theo từng khách hàng cụ thể mà
KTV sẽ thu thập những lượng thông tin khác nhau. Cụ thể với những khách
hàng thường xuyên như công ty B đã giới thiệu ở trên, các thông tin đã được lưu
trong hồ sơ từ các cuộc kiểm toán năm trước, KTV chỉ cần bổ sung những
thông tin mới phát sinh từ phía khách hàng. Còn đối với khách hàng kiểm toán
lần đầu tiên như tại công ty A, KTV cần thu thập đầy đủ tất cả các thông tin từ
phía khách hàng.
Cụ thể các thông tin cần thu thập bao gồm: Giấy phép đăng ký hoạt động
kinh doanh, các hoạt động kinh doanh của công ty, chế độ kế toán áp dụng tại
doanh nghiệp và một số đánh giá sơ bộ về HTKSNB của công ty khách hàng.
2.2.2.3.Tìm hiểu về hệ thống kế toán và môi trường kiểm soát.