Tài liệu Nuôi dạy con trong năm đầu - Pdf 79

LTS: "Đứa con đầu lòng bạn mong đợi bấy lâu, đã cất tiếng khóc chào đời. Tuy chìm ngập
trong hạnh phúc lần đầu làm cha, làm mẹ, các bạn sẽ lo lắng vì sinh mệnh nhỏ bé, non nớt kia
hoàn toàn phụ thuộc vào bạn. Bạn phải đối mặt với nhiệm vụ nặng nề chưa từng có, lắm khi
không biết xoay xở ra sao. Tập sách 'Phương pháp nuôi dạy con trong năm đầu' sẽ giúp bạn
thực thi bổn phận cao quý của mình. Sách do Mai Linh biên dịch, được Nhà xuất bản Văn hóa
dân tộc ấn hành năm 2001".
Lời nói đầu: Đối với trẻ nhỏ, năm đầu tiên là giai đoạn phát triển nhanh nhất và biến hóa nhiều
nhất, với những tiềm năng phi thường về cảm nhận và tìm hiểu thế giới xung quanh… Biết
được thời cơ này, bạn nên tạo môi trường tốt nhất, tạo điều kiện tốt nhất cho sự khôn lớn, thông
minh của đứa con đều được phát huy tới mức tối đa, để trẻ được lớn lên một cách khoa học,
làm cho mọi khả năng tiềm năng về các mặt của đứa con đều được phát huy tới mức tối đa, để
trẻ được lớn lên một cách khỏe mạnh và trở thành những nhân tài ưu tú của đất nước.
Phần 1: Sự phát triển, sinh trưởng của trẻ
Những đặc trưng của bé sơ sinh
Trẻ từ khi sinh đến 28 ngày là thời kỳ sơ sinh, chúng ta cũng thường nói là “đầy tháng”. Đây là
giai đoạn đầu tiên trẻ rời khỏi cơ thể mẹ để vào đời. Từ đây trở đi, trẻ phải “phấn đấu” cho sự
sinh tồn của mình. Dấu hiệu trẻ khỏe mạnh là nước da tươi tắn, tứ chi hoạt động linh hoạt, tiếng
khóc vang. Tất nhiên, trẻ khóc cũng vẫn chỉ là khóc không nước mắt. Bởi vì, gần được 4 tuần
trẻ mới có nước mắt.
Trẻ mới sinh, cái cổ nhỏ bé non nớt không thể đỡ nổi cái đầu nặng nề. Do đó, mấy ngày đầu
nên bảo vệ đầu của bé ở tư thế như trước khi sinh: đầu gục về phía trước, cằm dựa vào ngực,
tay nắm lại thu về phía trong, hai đầu gối co gập thu vào bụng. Khi bạn xoa đầu trẻ sẽ thấy cái
thóp trước phía trên trán và thóp sau tương đối nhỏ, nằm ở chỗ hõm như lòng thìa sau gáy thoi
thóp đều đều.
Ba tháng đầu sau khi sinh, thóp mới khép lại. Thóp trước to nằm ngang ở trên trán cần thời gian
từ 12 đến 18 tháng mới đóng kín hoàn toàn. Giữa thóp và sức khỏe của trẻ có mối quan hệ mật
thiết: đóng quá sớm sẽ khiến cho đại não của trẻ mất đi không gian phát dục cần có, dẫn đến
giảm trí tuệ. Đóng muộn thì chứng tỏ trở ngại hoàn thiện xương sọ hoặc có bệnh toàn thân. Khi
tre tiêu chảy mất nước nghiêm trọng, thóp sẽ lõm xuống; khi trẻ mắc bệnh viêm não hoặc các
bệnh trung ương thần kinh khác thì thóp lại phồng lên vì áp lực trong hộp sọ tăng. Nếu xuất
hiện những tình huống này, phải kịp thời mời bác sĩ chuyên khoa tới chẩn đoán.

sơ sinh vẫn chưa phát triển hoàn chỉnh, nhịp đập tương đối nhỏ, công năng của toàn bộ hệ
thống tim mạch cũng tương đối yếu ớt. Muốn duy trì tuần hoàn máu bình thường ắt phải tăng
thêm số lần nhịp đập của tim để bổ sung. Nhịp tim bình quân mỗi phút của trẻ khoảng trên dưới
140 lần, khi khóc thì đập nhanh hơn nữa. Đồng thời, sự phân bố máu trong toàn thân tre sơ sinh
không đều, đa phần tập trung ở khu vực nội tạng tương đối gần tim, khiến cho ôn độ của tứ chi
tương đối thấp. Do đó, trẻ sơ sinh về mùa lạnh, đầu ngón chân, ngón tay và môi tái nhợt là
thường, không phải là sự biểu hiện tim không tốt
4. Trọng lượng của bé khi sinh có ý nghĩa gì?
Thông thường, sau khi đỡ trẻ ra đời, người hộ sinh thường cân xem trẻ nặng bao nhiêu để so
sánh, đánh giá với một tiêu chí quan trọng về tình hình phát dục của trẻ sơ sinh. Các bà mẹ trẻ
thường tự hào về số cân nặng quá mức của con mình khi mới sinh. Kỳ thực, không phải trẻ sơ
sinh càng nặng cân càng tốt.
Trẻ sơ sinh nặng trong khoảng 2,5-4,5 kg là bình thường. Những trẻ này thường phát dục tốt
trong cơ thể mẹ, da dẻ hồng hào, tiếng khóc vang, nói chung mau lớn, không cần chăm sóc đặc
biệt.
Trẻ sơ sinh không đủ 2,5 kg gọi là trẻ nhẹ cân, thường do chưa đủ tháng, nhất là những trẻ chưa
đủ 37 tuần, phát dục chưa đầy đủ trong cơ thể mẹ. Loại này trọng lượng càng thấp, phát dục
càng khó khăn, năng lực thích ứng càng kém, càng phải có phương sách chăm sóc đặc biệt mới
nuôi sống được.
Trẻ sơ sinh nặng trên 4,5 kg trở lên là “trẻ khổng lồ”. Nếu bố cao lớn, trong thời gian mang thai
mẹ tẩm bổ nhiều, ngoại hình của trẻ bình thường thì không cần thiết phải xử lý đặc biệt, chỉ khi
đẻ hơi khó khăn thôi. Nhưng một số trẻ mắc bệnh tiểu đường tuy cân rất nặng mà thể chất lại
suy nhược, phải có phương pháp chăm sóc đặc biệt.
Điều cần nói rõ thêm là, khi trẻ xuất viện về nhà, cả nhà đều rất vui mừng, nào ngờ qua hai
ngày lại sụt cân so với hôm mới đẻ. Tại sao vậy? Bởi vì, sau khi sinh, trẻ đái và ra phân su, sự
hô hấp của da và phổi lại làm mất một phần nước, trong trẻ ăn rất ít, dẫn đến thể trọng dần dần
sút khoảng 6%-9%. Trường hợp này gọi là sút cân sinh lý, thuộc loại hiện tượng bình thường.
Sau 4-5 ngày, nhịp và lượng ăn của trẻ tăng lên, thể trọng sẽ tăng mỗi ngày 20-30 g, đến ngày
thứ 10 sẽ khôi phục bằng thể trọng sơ sinh. Nếu sớm nuôi dưỡng một cách hợp lý, khoa học thì
có thể giảm bớt mức độ sút cân sinh lý của trẻ. Tốc độ sút cân quá nhanh hoặc sự khôi phục

lên rất tình cảm. Khi trẻ nghe thấy tiếng động mạnh sẽ phản ứng sợ hãi, chớp mắt. Từ 2-3 tuần
trẻ có thể nghe được bất cứ loại âm thanh nào. Trẻ được 3-4 tuần đã có phản ứng với âm thanh
của người lớn, biểu hiện ở chỗ, sức chú ý của trẻ thường bị âm thanh của người lớn lôi cuốn.
Khi đang khóc, hễ nghe tiếng dỗ mềm mại, ngọt ngào của mẹ là nín ngay, tỏ ra chú ý lắng
nghe. Nhưng tiếng mẹ ngừng thì lại gào lên như cũ. Có đứa trẻ thích nghe âm thanh từ cái lúc
lắc hay cái chuông phát ra. Cũng có trẻ nghe thấy tiếng hát của người là thôi khóc. Sau hai
tháng, trẻ bắt đầu biết quay đầu tìm phương hướng của tiếng động, nghe thấy tiếng động lớn sẽ
phản ứng toàn thân, tựa hồ như rất sợ hãi.
7. Khứu giác và vị giác của bé có đặc điểm gì?
Bạn chớ coi thường thiên thần bé nhỏ của bạn mà cho rằng, nó chỉ có ăn với ngủ suốt ngày.
Thực ra, nó càn có rất nhiều năng lực. Ngoài năng lực biết nhìn, biết nghe ra, nó còn biết ngửi
mùi, nếm vị, biểu hiện tiềm lực trí tuệ rất lớn.
Khứu giác của trẻ xuất hiện tương đối sớm. Khi thị giác, thính giác, xúc giác của trẻ vẫn còn ở
giai đoạn phát dục thì khứu giác của nó đã chứng tỏ tương đối thành thục rồi. Lần đầu trẻ tiếp
xúc với mẹ nó đã ngửi thấy và nhớ mùi của mẹ. Khi bú trẻ có thể dựa vào khứu giác cảm nhận
được vú của mẹ đang đưa lại về phía nó, nó bèn tìm được đúng đầu vú. Khi bé ngửi thấy mùi
có tính kích thích tương đối mạnh thì có hiện tượng hô hấp không bình thường với biểu hiện
nét mặt không yên. Trẻ 4 tháng tuổi có thể phân biệt được mùi thơm, thối. Do đó, khi bạn cho
bé ăn thêm cần phải chú ý điều hòa mùi vị, (tránh các loại cay) để tạo cho bé thói quen ăn ngon
miệng, kích thích tiêu hóa giúp trẻ mau lớn khỏe mạnh.
Vị giác của trẻ sơ sinh rất nhạy bén, có thể phân biệt chua, ngọt, cay đắng. Trong đó trẻ rất
thích vị ngọt. Ăn, uống các thức có vị ngọt xong, trẻ thường tóp tép cái miệng nhỏ xíu xinh
xinh như thể luyến tiếc vị ngọt đã hết. Trẻ ghét nhất vị đắng, cay, thứ đến vị chua. Do đó, khi
nếm phải vị chua nó thường nhăn mặt. Khi uống thuốc đắng, dứt khoát trẻ đùn ra khỏi miệng và
khóc mãi không thôi. Sau 4 tháng tuổi vị giác của trẻ phát triển thêm một bước, có thể phân biệt
được mặn nhạt. 8 tháng tuổi, vị giác của bé càng nhạy bén, thích hay ghét thức ăn gì ngày càng
rõ, thường biểu hiện kén chọn thức ăn ưa thích. Mặc dù mẹ có muốn cho nó ăn thức ăn gì đó,
nhưng nếu là thứ nó không thích, thì nhất định bé sẽ nhè ra. Bạn rất nên chú ý đặc điểm này của
bé.
8. Khả năng xúc giác của bé

tay bạn giữ nách cho trẻ đứng lên, dùng tay ấm che vào gót chân nó, nó sẽ kiễng chân phải,
chân trái lên như người đi bộ, trông rất buồn cười.
Bạn chớ có xem nhẹ những cái tưởng như trò chơi vụn vặt này. Năng lực trí tuệ của con bạn sẽ
phát triển trên cơ sở đó đấy! Nếu những phản ứng ấy của con bạn không nhạy bén, thì bạn phải
kịp thời hỏi bác sĩ chuyên khoa để sớm phát hiện vấn đề.
10. Tại sao bé sơ sinh ngủ nhiều?
Trẻ sơ sinh, sự phát triển của vỏ não vẫn chưa thành thục, công năng của hệ thống thần kinh
trung ương phát dục chưa hoàn thiện. Để ứng phó với mọi kích thích bên ngoài, trẻ cần phải bỏ
ra một tinh lực tương đối lớn, đại não rất dễ dàng mệt mỏi. Cho nên, nó cần phải ngủ để bù đắp.
Ngủ nhiều chính là nhu cầu cho sự phát triển sinh trưởng của trẻ. Cơ thể người có một loại kích
thích tố chỉ huy sự sinh trưởng, khi ngủ nó tiết ra khá nhiều. Lúc thức thì giảm bớt. Do đó, trẻ
mới sinh, càng ngủ nhiều sự sinh trưởng, phát dục càng tốt.
Nhịp với sự lớn lên của trẻ, thời gian ngủ sẽ giảm dần, khi ấy bạn tha hồ mà chơi đùa với “thiên
thần tí hon” của bạn.
11. Mỗi tháng bé cao thêm được bao nhiêu?
Năm đầu tiên sau khi sinh, là thời kỳ sinh trưởng phát dục nhanh nhất trong cả cuộc đời của
con người. Chiều cao của trẻ phản ánh tình hình tăng trưởng về xương cốt của nó, và ở một
mức độ tương đối, phản ánh sự phát dục và tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Do đó, cơ quan y tế
và bảo vệ sức khỏe thường lấy chiều cao và thể trọng của trẻ làm tiêu chí quan trọng để đánh
giá tình hình sinh trưởng phát dục của trẻ em. Vậy thì, mỗi tháng trẻ tăng chiều cao bao nhiêu là
bình thường?
Trong tình hình bình thường, trẻ sơ sinh, bình quân chiều cao là 50 cm. Từ 1-6 tháng sau tăng
tương đối nhanh, bình quân mỗi tháng cao thêm 2,5 cm. Từ 7-12 tháng, mỗi tháng bình quân
tăng 1,5 cm. Trẻ một tuổi cao khoảng 75 cm, gấp rưỡi khi mới sinh.
Muốn nắm vững tình hình phát dục của trẻ, bạn nên chú ý đo chiều cao cho trẻ. Cách đo như
sau: Trước tiên để trẻ nằm ngửa trên bàn làm việc hoặc tấm phản cứng, đầu chấm sát tường.
Sau đó, túm thẳng hai chân, gót chân vuông góc với mặt bàn. Lấy miếng bìa cứng hoặc quyển
sách dày chặn sát ngón chân trẻ. Khoảng cách giữa mặt tường với bìa sách chính là chiều cao
của trẻ. Mỗi tháng nên đo chiều cao cho trẻ một lần và đối chiếu với biểu đồ dưới đây:
Các bậc cha mẹ trẻ cần hiểu rõ: Trong biểu đồ trên chỉ là trị số bình quân chiều cao của trẻ, và

không gian, xúc tiến sự phát triển hữu hiệu về năng lực trí tuệ.
Sự phát triển cơ năng vận động của trẻ có quy luật gồm 3 đặc điểm sau:
1. Từ động tác toàn khối đến động tác phân hóa. Nếu bạn để ý một chút sẽ phát hiện, khi mới
sinh mỗi lần trẻ khóc thì chân tay, toàn thân động đậy lung tung, về sau mới phân hóa ra động
tác phần mặt. Khi trẻ đầy tháng, nếu đắp cho chiếc khăn lên mặt, toàn thân bé sẽ động đậy phản
ứng, nhưng khi bé được 8 tháng tuổi, bạn lại đắp chiếc khăn lên mặt bé thì bé đã biết dùng tay
kéo chiếc khăn khỏi mặt, còn các bộ phận khác vẫn “án binh bất động”.
2. Phần trên cơ thể có động tác trước, phần dưới cơ thể tác động sau. Mới sinh ra trẻ đã biết mở
mắt nhìn, trên dưới một tháng có thể khống chế vận động nhãn cầu, bắt đầu nhoẻn cười và có
thể chuyển chầm chậm theo ánh sáng, 4 tháng có thể cất đầu lên, 6 tháng có thể nắm vật thể, 10
tháng có thể điều khiển đùi và chân, tiếp đó đứng dậy và đi. Như vậy có thể thấy, công năng
phần đầu xuất hiện sớm nhất. Công năng tay phát dục tốt trước khi biết đi; chi dưới, sau khi trẻ
biết đứng thẳng dần dần mới bắt đầu phát dục.
3. Động tác cơ bắp lớn phát triển trước, động tác cơ bắp nhỏ phát triển sau. Trước tiên là động
tác cơ bắp lớn phần đầu, thân, hai cánh tay, phần đùi, sau đó mới biết sử dụng động tác cơ bắp
nhỏ ngón tay.
Do đó, các bậc cha mẹ trẻ cần căn cứ vào những đặc điểm phát triển cơ năng vận động của trẻ
để hướng dẫn trẻ làm một số động tác tương ứng tuần tự, tiệm tiến, đặng thúc đẩy sự phát triển
năng lực trí tuệ của trẻ.
14. Tiêu chí đánh giá sự phát triển động tác của bé
Sự thay đổi của trẻ rất nhanh. Nhịp với sự phát triển về đại não và cơ bắp, từ những động tác
phản xạ vô ý thức khi mới sinh dần dần đã có năng lực ngẩng đầu, ưỡn ngực, ngồi, đứng, đi…
Chắc bạn rất vui mừng với từng chút tiến bộ của con trẻ và cũng rất múôn biết sự phát triển
động tác của trẻ ra sao. Người viết xin thỏa mãn một chút lòng hiếu kỳ của bạn: Trong trường
hợp bình thường khi được một tháng đầu của bé có thể động đậy. Hai tháng, đầu có thể chuyển
động bình thường, khi nằm sấp đã có thể hơi nhấc được đầu lên. Khi bạn dùng tay nâng bụng
bé khi nằm sấp thì đầu bé không gục xuống, có thể giữ đầu và mình trên một đường thẳng.
Được 3 tháng, khi nằm sấp trẻ đã có thể ngóc cả đầu và hai vai lên. Trẻ 4 tháng đã tự lật
nghiêng người, sắp lật được mình. Trong đó một số trẻ phát dục nhanh đã lẫy được, khi nằm
ngửa có thể ngóc đầu vuông góc với vai, khi bế trong bọc đầu dựng thẳng, đứng vững hơn. 5

sinh khóc thì chân tay và toàn thân rung động, sau đó mới dần phân hóa thành động tác của
mặt. Khi bé 1 tháng, nếu bạn che cái khăn mặt lên mặt của bé thì bé toàn thân động đậy để phản
ứng lại; nhưng khi 8 tháng tuổi, nếu bạn làm tương tự, thì sẽ thấy rằng bé chỉ đơn giản dùng tay
kéo cái khăn ra khỏi mặt, còn các bộ phận khác của cơ thể không hề động đậy.
Động tác phía trên xuất hiện trước, sau mới đến động tác phía dưới. Khi bé sinh ra đã biết mở
mắt nhìn, trong khoảng 1 tháng tuổi bé đã khống chế được sự di chuyển của mắt, bắt đầu mỉm
cười, và có khả năng dõi nhìn theo ánh sáng một cách chầm chậm. Khi 4 tháng tuổi bé có thể
biết nâng đầu, 6 tháng tuổi có thể khống chế được đùi và cẳng chân, tiếp đến biết đứng lên và
đi. Như vậy cho thấy chức năng đầu của bé được xuất hiện trước tiên; chức năng của tay thì
được phát triển trước lúc biết đi; chi dưới dần dần bắt đầu phát triển sau khi bé có thể đứng
thẳng và tập đi.
Phát triển động tác cơ bắp to trước, sau đó phát triển động tác cơ bắp nhỏ. Bé đầu tiên biết làm
các động tác cơ bắp to như đầu, thân, hai bả vai và đùi, sau đó mới biết sử dụng động tác cơ
bắp của ngón chân.
Do đó, cha mẹ trẻ nên căn cứ vào những đặc điểm phát triển cơ năng vận động của trẻ, biết chủ
động hướng dẫn con mình những động tác tương ứng, để thúc đẩy sự phát triển trí năng của bé.
Về vấn đề này, chúng tôi sẽ tập trung giới thiệu theo các chuyên đề.
16. Từ tư thế của bé ta có thể nhận biết được sự phát triển của hệ thống vận động có bình
thường không?
Trẻ nhỏ chỉ biết khóc, không biết nói. Làm thế nào biết được hệ thống vận động của trẻ phát
dục có bình thường không? Trước hết, bạn phải nắm được căn cứ tư thế khác nhau của trẻ để
phân biệt, tiện cho việc kịp thời phát hiện vấn đề, nếu cần thì điều trị ngay.
Trẻ vừa sinh ra, vì chịu ảnh hưởng cuộc sống trong tử cung của mẹ, khi nằm ngửa, tứ chi phải
giữ ở tư thế cong gập. Nếu chỉ có một bên gối tay gập vào, bên tay kia buông thõng, thì chứng
tỏ bên tay buông thõng đó có vấn đề. Nếu hai chi dưới không co lên, chỉ thẳng đơ dơ, rất có khả
năng trẻ có bệnh ở não. Tất nhiên loại trừ những đứa trẻ khi đẻ ngôi ngược, cánh tay và chân ra
trước.
Nhịp với tháng tuổi tăng, tứ chi của trẻ dần giãn ra, trẻ được 3 tháng, đặt nằm sấp, nếu khớp gối
không duỗi thẳng ra, thì cần xem xét kỹ, có thể có vấn đề khác thường.
Khi 7 tháng, những trẻ khỏe mạnh đều phải biết ngồi. Nếu con bạn không biết ngồi, khi bạn

tập bé nằm sấp, mới đầu dạy bé tập lẫy thời gian không nên dài mà tuỳ theo năng lực tăng tiến
của bé dần dần tăng thêm thời gian và số lần rèn tập. Mỗi khi bé hoàn thành một cách thuận lợi
động tác, nên bế bé lên hôn một cái, đùa với bé một chút để động viên bé.
20. Sự phát triển động tác của tay và cách luyện tập
Trong thời kỳ đầu, sự phát triển động tác tay của trẻ là cực kỳ quan trọng. Tay của trẻ biết “nói
chuyện” trước miệng, là cơ quan quan trọng để trẻ nhận biết thế giới xung quanh. Nhanh trí và
khéo tay cùng phối hợp và bổ sung cho nhau. Động tác tay thành thục, khéo léo, trong chừng
mực nhất định sẽ thúc đẩy sự phát triển năng lực trí tuệ của trẻ.
Muốn huấn luyện đôi tay nhỏ bé của trẻ, trước tiên bạn phải tìm hiểu quy luật phát triển động
tác tay của trẻ, sau đó rèn tập theo từng tháng tuổi.
Trẻ sơ sinh, do bản năng thường nắm chặt hai bàn tay, nếu ta gỡ ra, bé liền nắm tay lại ngay.
Trong tháng đầu này, bạn có thể dùng ngón tay sờ sờ, xoa nhè nhẹ ngón tay của bé để kích
thích các cảm giác phần da tay của bé. Thế là bạn đã bắt đầu luyện tập tay cho bé rồi.
Tháng thứ hai, bé nắm tay lỏng hơn, có lúc bé duỗi hẳn những ngón tay ra, nhưng đó chỉ là
động tác vô thức thôi. Bạn có thể tiếp tục xoa bóp nhẹ nhàng từ đầu ngón đến bàn tay của bé.
Sau đó, mềm mại bẻ ra, gập vào từng ngón tay của bé. Cũng có thể tập cho bé xòe ngón tay ra,
nắm ngón tay trỏ của bạn. Rồi bạn lại rút ngón tay ra, lại đặt vào, làm đi làm lại mấy lần như
vậy.
Tháng thứ ba, thứ tư, bé thích sờ mó mọi thứ mà bé sờ được. Ban đầu chỉ là một số động tác sờ
mó vô thức với các vật ở quanh bé. Bởi vì, lúc này mắt và tay bé chưa phối hợp được với nhau.
Dần dần bé sẽ liên kết được động tác tay với mắt. Đương nhiên, lúc này bé chưa có kỹ năng
cầm, tay thường đưa ra quá vật thể, nắm vật cũng chưa vững, vẫn chưa thể dùng đầu ngón tay,
mà dùng cả bàn tay gập xuống để cầm rất vụng về. Thời kỳ này, bạn nên chuẩn bị một ít đồ
chơi để cầm nắm, kích thích trẻ đưa tay ra lấy.
Tháng thứ năm, thứ sáu, động tác tay và mắt của bé căn bản đã phối hợp được, có thể tùy ý
nắm bắt đồ vật ở xung quanh, nhưng vẫn không phải bằng động tác ngón tay. Cuối cùng, ngón
tay cái và bốn ngón khác cũng tách rời nhau để nắm vật. Lúc này, bạn có thể luyện cho trẻ lấy
đồ chơi trên bàn có mục đích, bằng cách lắc và gõ. Bạn cũng có thể chuẩn bị một số đồ chơi
bằng nhựa hoặc cao su mềm, mỏng có tính đàn hồi, để trẻ tùy ý nắn bóp, tự luyện ngón tay. Khi
cho bé uống nước qua vòi bình hoặc ca, cốc có nắp kín bạn có thể tập cho bé bưng hai tay, cùng

sự sinh trưởng của não có chướng ngại, cần phải đặc biệt chú ý khám xét theo dõi.
Trẻ 5 tháng tuổi đã biết làm rất nhiều động tác. Có thể cầm vật thể, cầm bằng hai tay, khi tắm
thích dùng tay vỗ nước… Lúc này, bạn nên quan sát kỹ, xem hai tay trẻ đều có hoạt động
không. Nếu chỉ có một tay hoàn thành những động tác trên, thì đó là dự báo não phát triển thiên
lệch một bên.
Trẻ 6 tháng, đã phải biết thò tay kéo bỏ khăn mặt phủ lên mặt. Nếu bạn giữ chặt một tay, trẻ sẽ
dùng tay kia kéo bỏ khăn mặt. Nếu thấy trẻ không biết làm như vậy, chứng tỏ một bên não có
vấn đề, bạn cần đưa trẻ đến bác sĩ chuyên khoa khám ngay.
Cần phải nói thêm rằng, động tác tay của trẻ chẳng những có quan hệ thiết yếu với sự sinh
trưởng của não, mà còn có liên quan đến sự phát triển của các bộ phận khác. Ví dụ, khi mắt của
trẻ phát triển không tốt, tất nhiên sẽ dẫn tới công năng của tay chậm phát triển. Việc huấn luyện
cũng rất quan trọng với sự sinh trưởng của công năng tay. Có một số cha mẹ cứ bắt chước các
cụ thời xưa, quấn tã cho con theo kiểu bó tròn như con nhộng tằm, khiến chân tay trẻ không
động đậy được. Điều đó, cực kỳ bất lợi cho sự phát triển thân thể và tâm lý của trẻ.
23. Trẻ biết bò có ý nghĩa gì?
Biết bò, chứng tỏ con bạn đã có thể di chuyển thân thể, nắm vững phạm vi hoạt động của mình,
không cần ai giúp đỡ. Hơn nữa, bò lại là vận động có tính toàn thân, làm tăng tốc độ tuần hoàn
máu, thúc đẩy phát dục về cơ và xương, phòng ngừa cong cột sống, là bước cơ sở của động tác
đứng và đi. Hãy nhìn xem! Con bạn giống như một chú mèo con đáng yêu, vươn dài cái eo, bò
lên phía trước làm cho cơ của tứ chi dần dần phát triển, cơ eo dần dần săn khỏe, cơ bụng mềm
nhão cũng được cải thiện, thật là mạnh mẽ biết bao! Đồng thời, trong khi bò, trẻ ngẩng đầu,
ưỡn ngực, nhấc chân nhấc tay, không những rèn luyện công năng của hệ hô hấp, hệ tiêu hóa mà
còn khiến cho trẻ mở rộng diện tiếp xúc và phạm vi nhận thức, có lợi cho việc rèn luyện tư duy
và ký ức, thúc đẩy sự phát triển bình thường của não. Nếu bạn rèn tập thích hợp sớm một chút
cho trẻ thì có thể xúc tiến phát triển động tác bò của trẻ và có thể rút ngắn quá trình phát triển
mọi cảm giác và trí tuệ. Hiện nay có một số bậc cha mẹ thiếu nhận thức về tầm quan trọng đối
với động tác bò của trẻ, thường vin vào cớ nhà cửa chật hẹp, không có chỗ bò, để tước đi giai
đoạn bò của trẻ, dẫn đến tình trạng trẻ từ ngồi, đứng lên rồi đi, đâu có biết điều đó rất bất lợi
cho sự sinh trưởng, phát dục của trẻ. Bạn hãy cố gắng hết mức giúp đỡ cho con bạn, không nên
giam nó trong chiếc giường cũi hoặc xe đẩy quá chật hẹp.

trẻ đứng giây lát và chỉ giây lát thôi. Sau 7 tháng, giai đoạn huấn luyện bò, trên thực tế là bài
học chuẩn bị cho động tác đứng rồi.
Bạn đã vịn cho trẻ đứng tương đối vững rồi, có thể cho trẻ đứng vịn lan can, đang ngồi vịn lan
can đứng dậy. Khi dạy trẻ đứng bạn nhớ để hai đùi trẻ cách nhau, để giảm thấp trọng tâm, giúp
trẻ đứng vững vàng hơn. Như vậy, đến trên dưới 10 tháng tuổi là con bạn có thể đứng vững
vàng một mình.
26. Khi nào bắt đầu dạy bé tập đi?
Lúc nào trẻ biết đi? Đây là vấn đề mỗi người làm cha, làm mẹ đều quan tâm. Với nhiều bậc cha
mẹ, trẻ con biết đi sớm là dấu hiệu phát dục tốt nhất. Họ nóng lòng sốt ruột khi thấy con mới
chập chững vài bước đi đầu tiên, họ thường có tâm lý mong con sớm biết đi vì thế mà hay gò
ép trẻ “đốt cháy giai đoạn”. Việc làm nóng vội đó, không những làm cho con trẻ sợ sệt, mỏi
mệt, không muốn tập đi mà có khi hai bắp chân trẻ bị biến dạng, đưa đến sự tổn thất lớn.
Thực ra, biết đi sớm chỉ là dấu hiệu của sức cơ bắp. Chỉ chứng tỏ cơ năng vận động của một số
trẻ nào đó phát triển tương đối sớm mà thôi, chứ không phải sự phát triển thành thục của trí lực.
Nhìn chung, những trẻ mập, mùa đông mặc nhiều quần áo nặng nề biết đi tương đối muộn một
chút vì cặp giò non nớt của nó chưa đủ sức trụ vững áp lực lớn của cơ thể? Kết quả nghiên cứu
khoa học đã chứng tỏ 90% bàn chân bẹt là do chân phải chịu sức nặng quá tải dẫn tới. Khi điều
kiện thể lực ở trẻ chưa đầy đủ mà ép trẻ tập đi quá sớm sẽ làm cho đôi chân trẻ “quá tải”, tổn
thương đến dây chằng, và cơ bắp, tạo thành bàn chân bẹt. Bàn chân bẹt không những làm cho
trẻ đi đứng chậm chạp vụng về, mà sức chịu lực lại kém, đi đường xa dễ mệt mỏi, khi đứng
cũng sẽ kéo cơ đùi xuống dẫn tới đau nhức, sẽ ảnh hưởng không tốt đến đời sống và công tác
sau này. Đồng thời, lúc này do trong xương cốt của trẻ chứa tương đối nhiều nước và chất hữu
cơ, nên mềm yếu, dễ biến dạng. Tập đi quá sớm, đùi chịu sức nặng quá, dễ dàng vì tác dụng
của trọng lực thì du không thiếu canxi chân của trẻ cũng rất dễ bị cong hoặc khoèo. Bởi vậy,
nếu trẻ chưa muốn đi thì không nên ép trẻ tập, bằng không sẽ đưa đến hậu quả không tốt. Trên
thực tế, trong thời gian từ 10-18 tháng trẻ mới bắt đầu đi là vẫn thuộc phạm vi bình thường. Cụ
thể ở từng đứa trẻ, hễ trẻ cảm thấy có thể đi được sẽ phát tín hiệu để bạn biết. Do đó, về
phương diện này, tốt nhất là bạn hãy kiên tâm chờ đợi.
Khi trẻ mới tập đi bao giờ cũng phải nhờ tay cha mẹ, xe tập đi, vật chống đỡ để đi. Lúc bé có
thể bỏ “gậy” đứng một mình, bạn cũng đừng vội ép bé đi một mình mà vẫn cần phải để bé

tế bào thần kinh não vẫn nhỏ. Trọng lượng não của trẻ sơ sinh bằng khoảng 255 não người lớn.
Sau một năm, tăng gấp đôi. Hơn nữa, không chỉ tăng trọng lượng não, mà công năng của não
ngày một thành thục.
Sự thay đổi này không đơn thuần biểu hiện ở sự lớn nhỏ của xương sọ. Có một số bệnh như
“não đọng nước” có thể làm cho vòng đầu tăng quá nhanh, nhưng dung lượng não lại bị “nước
đọng” chèn ép chỉ còn vị trí rất hẹp. Đứa trẻ nào bị bệnh này, không những không thông minh
mà còn đần độn.
Ngoài ra, một số trẻ mắc bệnh còi xương, phải “đội” cái đầu to tướng hình vuông, nhưng dung
lượng não chưa chắc đã lớn nên cũng không thông minh hơn trẻ khác. Do vậy, nói “đầu to
thông minh” là không có cơ sở khoa học.
Người viết bài này xin được phép nhắc nhở các bậc cha mẹ, nhất là các cha mẹ cần chú ý theo
dõi vòng đầu của trẻ. Nếu thấy vòng đầu của trẻ vượt quá trị số bình thường (quá lớn hoặc quá
nhỏ) đều phải kịp thời tìm bác sĩ chuyên khoa giỏi khám và điều trị cho trẻ.
29. Làm thế nào để phát hiện sớm bé có khiếm khuyết về trí não?
Làm thế nào để phát hiện trẻ sớm có khuyết tật về trí não? Chỉ cần bạn quan sát kỹ, nếu thấy có
các biểu hiện sau thì cần phải lưu ý ngay:
Ba tháng tuổi rồi mà khi trêu ghẹo bé không biết cười.
Năm tháng tuổi, nhìn thấy bố, mẹ bé không có phản ứng gì, không cất đầu lên được, nghe tiếng
động không phản ứng, không thích đồ chơi, thờ ơ đối với môi trường xung quanh.
Sáu tháng, bé vẫn không biết lẫy, vịn cho ngồi vẫn không ngồi được, vẫn giữ thói quen xem tay
của mình.
Tám tháng, bé vẫn không biết chuyển đổi đồ chơi từ tay nọ sang tay kia, không phát được đơn
âm tiết.
Mười tháng, mà với bé động tác tay và mắt vẫn không ăn khớp.
Một tuổi bé vẫn xểu nhiều dãi, nhìn thấy người quen không cười, chưa biết giang tay ra cho bế.
Những trẻ suốt ngày buồn buồn, muốn ngủ, không quấy khóc, không ăn uống, quá yên lặng, khi
khóc thường khóc thét lên, tiếng khóc không thay đổi cung bậc.
Trẻ có những biểu hiện nói trên thường là do năng lực trí tuệ có khiếm khuyết.
Ngoài ra, còn một số trẻ, biểu hiện bên ngoài có những dị dạng như: khoảng cách giữa hai mắt
quá rộng, sống mũi tẹt hẳn xuống, khoé mắt xếch ngược, lưỡi thè ngoài miệng, đầu nhỏ…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status