Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Cây cà chua (Lycopersicum esculentum Mill) thuộc họ cà Solanaceae là
cây rau ăn quả có giá trị, cho thu hoạch nhanh thích hợp với nhiều loại đất,
đợc trồng ở hầu hết các nớc trên thế giới. Về sản lợng, cà chua chiếm 1/6
tổng sản lợng rau hàng năm trên thế giới và luôn đứng ở vị trí số 1. Cà chua
có thể sử dụng ở dạng tơi, nấu nớng, làm salát hoặc chế biến làm dạng dự
trữ. Sản phẩm chế biến của cà chua cũng có nhiều loại: nớc cà chua, cà chua
muối, dạng cô đặc ketchup hoặc nớc sốt cà chuaTuy thành phần dinh
dỡng của cà chua không cao (trong 100g ăn đợc chứa 0,6g protít; 4,2g gluxit;
12 mg Ca; 26g P; 1,4g Fe; 2 mg caroten; 0,06 mg vitamin B1; 40 mg vitamin
C; 0,5 mg vitamin PP) nhng lại có tác dụng về mặt y học, bởi cà chua có vị
ngọt, tính mát, giữ nhiệt, chống hại huyết, kháng khuẩn, nhuận tràng, giúp tiêu
hoá tốt tinh bột; nớc ép cà chua kích thích gan, tốt cho dạ dày [18]. Cà chua
là loại quả có khả năng chống lão hoá mạnh nhất vì có chứa hàm lợng cao
Licopen- một hợp chất chống lão hoá không bị mất khi nấu chín [1].
Ngoài giá trị dinh dỡng, giá trị tiêu dùng, cây cà chua là một cây trồng có
giá trị kinh tế cao không chỉ mang lại lợi ích cho ngời trồng mà còn có hiệu
quả về mặt xã hội cho mỗi quốc gia. Sản phẩm quả cà chua vừa đáp ứng yêu
cầu tiêu dùng trong nớc vừa trở thành hàng hoá xuất khẩu có giá trị. ở Mỹ
bình quân thu nhập trên một ha trồng trọt là 4610 USD đối với cà chua, các
cây rau khác là 2537 USD, lúa nớc 1027 USD, cây lúa mỳ chỉ có 174 USD.
Khu vực đồng bằng sông Hồng ở nớc ta sản xuất cà chua cho thu nhập bình
quân 42,0 68,4 triệu đồng/ha/vụ với mức lãi thuần 15 -26 triệu đồng cao gấp
nhiều lần so với trồng lúa. Trồng cà chua thu hút 1100 1200 công lao động/1
ha/1 vụ trong khi trồng lúa chỉ cần có 230 -250 công lao động. Phát triển mạnh
sản xuất cây trồng nông nghiệp hàng hoá nói chung, cà chua nói riêng là một
hớng trong giải pháp giải quyết sự d thừa lao động ở các vùng nông thôn
hiện nay [19]. Chính vì vậy mở rộng diện tích gieo trồng cà chua, đẩy mạnh
nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất
lợng và sản l
phòng trừ bọ phấn nh: các biện pháp vật lý và kỹ thuật canh tác, biện pháp
chọn giống kháng bệnh xoăn lá, biện pháp sử dụng thiên địch, biện pháp sử
dụng thuốc BVTV và quản lý dịch hại tổng hợp (IPM).
ở nớc ta có một số tác giả nghiên cứu phòng trừ bọ phấn nh Nguyễn Thơ
[20], Vũ Triệu Mân Nguyễn Kim Oanh (1998) [13] và Nguyễn Văn Viên
3
(1999) [26]... . Kết quả một số thuốc hoá học đã đợc khuyến cáo phòng trừ
bọ phấn có hiệu quả nh: Monitor, Pegasus, DDT, Wofatox, Bi58, Sherpa,
Nuvacron, Applaud, Padan, Fastac, Trebon[ 26], [13], [20].
Tuy nhiên trong thực tế sản xuất rau hiện nay, biện pháp phòng trừ sâu hại
nói chung và bọ phấn nói riêng chủ yếu vẫn dựa vào thuốc hoá học nhng lại
không tuân thủ nguyên tắc 4 đúng: thời gian, chủng loại, số lần phun, và nồng
độ sử dụng cao hơn rất nhiều so với khuyến cáo, đồng thời không đảm bảo thời
gian cách ly. Biện pháp hoá học đã bọc lộ mặt trái của nó là làm cho côn trùng
kháng thuốc, càng làm tăng số lần sử dụng thuốc gây ô nhiễm sản phẩm, ô
nhiễm môi trờng ảnh hởng tới sức khoẻ ngời tiêu dùng [15].
Cho đến nay việc nghiên cứu sâu về đặc điểm sinh vật học và các biện pháp
phòng trừ tổng hợp đối với bọ phấn ở Việt nam cũng nh nhiều nớc khác còn
hạn chế. Chính vì vậy để góp phần xây dựng quy trình phòng trừ tổng hợp bọ
phấn hại cà chua đem lại sản phẩm an toàn cho ngời tiêu dùng, giảm thiểu ô
nhiễm cho môi trờng sinh thái, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên
cứu đặc điểm sinh vật học và khả năng phòng trừ bọ phấn Bemisia tabaci
Genn. (Homptera: Aleyrodidae) hại cà chua vùng Gia Lâm Hà Nội.
2. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
- Tìm hiểu đợc đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và ảnh hởng của một số
yếu tố sinh thái đến bọ phấn Bemisia tabaci Genn. để tìm ra biện pháp phòng
trừ bọ phấn có hiệu quả.
- Sự thành công của đề tài còn có ý nghĩa thực tiễn giúp ngời nông dân, ngời
sản xuất nắm đợc phơng pháp phòng trừ bọ phấn đạt hiệu quả kinh tế và môi
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài
nớc.
2..1.Tình hình nghiên cứu ngoài nớc.
2.1.1. Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới.
Cà chua là một trong những cây rau quan trọng có giá trị kinh tế cao đợc
trồng phổ biến và sử dụng rộng rãi khắp thế giới.
5
Hàng năm trên thế giới cà chua đợc trồng khoảng 3,5 4 triệu ha, trong
đó khoảng 80 -85% trồng với mục đích thơng mại. Trung Quốc là nớc có diện
tích trồng cà chua lớn nhất thế giới với tổng diện tích khoảng 753 nghìn ha, sau
đó là ấn Độ 356 nghìn ha, Ai Cập 180 nghìn ha, Mỹ khoảng 170 nghìn ha [18].
Thực sự thơng mại cà chua trên thế giới không phải là cà chua ăn tơi mà là cà
chua chế biến, chủ yếu ở vùng Địa Trung Hải, Nam và Trung Mỹ. Diện tích trồng
cà chua trên thế giới ngày càng đợc mở rộng và sản lợng không ngừng tăng lên.
Theo số liệu của tổ chức lơng thực thế giới (FAO) diện tích cà chua thế
giới tăng từ 3,29 triệu ha năm 1996 lên 39,99 ha năm 2002 và sản lợng cà chua
cũng tăng từ 91,94 triệu tấn năm 1996 lên 107,97 triệu tấn năm 2002, năng suất
bình quân đạt 27,00 tấn/ha năm 2002. Tuy nhiên trồng cà chua đạt năng suất cao
phải kể đến những nớc Tây Âu nh: Hà Lan 4285,7 tạ/ha, Na Uy 3566,7 tạ/ha;
Bỉ 3333,3 tạ/ha; Thụ y Điển 3278,7 tạ/ha. Năng suất bình quân của thế giới
khoảng 238 tạ/ha. ở châu á cây cà chua chiếm vị trí rất quan trọng, chiếm 36%
diện tích trồng cà chua trên thế giới với 1,2 triệu ha cây trồng năm 1998 (FAO-
1998) [50]. Tuy nhiên những nớc châu á sản lợng chỉ chiếm 26% sản lợng cà
héo xanh vi khuẩn và bọ phấn trắng Bemisia tabaci là đối tợng côn trùng đợc
phòng trừ số một trên cà chua [50].
2.1.2.Tình hình nghiên cứu về bọ phấn trên thế giới..
Bọ phấn Bemisia tabaci (Gennadius, 1889) thuộc họ rầy phấn (Aleyrodidae)
bộ Homoptera. Theo John (2001) [59] từ thế kỷ 19 bọ phấn đã đợc tìm thấy trên
khoai lang , thuốc lá ở Florida nhng cha đợc chú ý nh một loài dịch hại.
2.1.3. Một số đặc điểm hình thái của bọ phấn Bemisia tabaci.
* Pha trứng:
Theo Simon (1994)[83] thì trứng bọ phấn hình bầu dục, có cuống ngắn
dính vào bề mặt lá cây, kích thớc trứng dài khoảng 0,2 mm. Màu sắc của trứng
thay đổi từ màu trắng kem sang màu vàng nhạt rồi đến nâu do sự thay đổi của
noãn hoàng. Vỏ trứng đợc bao bọc bởi một lớp keo gelatin mỏng.
Đặc điểm hình thái của trứng khó giúp để nhận biết giữa các loài bọ rầy.
* Pha sâu non.
Nghiên cứu về đặc điểm hình thái của bọ phấn Simmon(1984)[83] cho biết:
Sâu non bọ phấn màu vàng nhạt, hình ô van, tuổi đẫy sức có kích thớc từ
0,7 0,9 mm. Có thể chia sâu non làm 3 tuổi:
+ Tuổi 1: Kích thớc khoảng 0,27 x 0,15 mm. Sâu non mới nở bò rất chậm
chạp ra xung quanh. Thời gian phát dục của tuổi 1 từ 2-4 ngày.
7
+ Tuổi 2: Kích thớc khoảng 0,36-0,22 mm. Thời gian phát dục của tuổi 2
từ 2-3 ngày.
+ Tuổi 3: Kích thớc khoảng 0,7- 0,4 mm. Thời gian phát dục 2 -3 ngày.
Về hình thái cả 3 tuổi của sâu non đều tơng tự nhau, ngoại trừ khác nhau về kích
thớc. Tổng thời gian phát dục của pha sâu non khoảng từ 5 -9 ngày [ 83].
* Pha nhộng:
Sự hoá nhộng xảy ra ở ngay trên lá.
Nhộng của bọ phấn thuộc loại nhộng giả, hình bầu dục không đều, màu
Kết quả nghiên cứu của John (2001) [59]: trởng thành bọ phấn thờng đẻ
trứng ở mặt dới của lá non và lá bánh tẻ thành từng cụm 4 6 quả, cuống trứng
đợc đính vào lá theo chiều vuông góc với mặt phẳng của lá. Mỗi con trởng
thành cái đẻ 150 quả trứng, kéo dài từ 5 9 ngày.
Bọ phấn non mới nở bò chậm chạp, từ tuổi 2 trở đi chúng sống cố định 1
chỗ và tiếp tục chích hút dịch cây. Thời gian phát dục, khả năng sống sót của các
pha, khả năng đẻ trứng, tuổi thọ của trởng thành bọ phấn phụ thuộc chặt chẽ vào
ký chủ, ẩm độ và nhiệt độ.
Theo Anhkisu (2001) [32] thời gian phát dục của bọ phấn (từ khi đẻ ra đến
khi nở) là 10,1 ngày; 11,6 ngày ở các ngỡng nhiệt độ 20
o
C, 25
o
C tơng ứng với
tỷ lệ nở của trứng là 76,7%- 87%.
ở Mỹ Natwick và Zalom (1984) [69] đã nghiên cứu bọ phấn thấy thời gian
phát dục của pha sâu non và nhộng khoảng 4 7 ngày, tổng thời gian phát triển
trớc vũ hoá là 15 18 ngày ở trên cây khoai lang trong điều kiện nhiệt độ 25- 30
o
C. Thời gian này sẽ tăng lên khi nhiệt độ giảm đi và ngợc lại. Khung nhiệt độ
thích hợp cho bọ phấn sinh trởng và phát triển từ 10 32
o
C.
Tại Hàn Quốc Ahn Ki Su (2001) [32] theo dõi thời gian phát dục các pha
của bọ phấn Bemisia tabaci trên các cây ký chủ khác nhau ở các ngỡng nhiệt độ
khác nhau cho biết:
Tuổi thọ trởng thành bọ phấn là 23,6 ngày tại 20
o
C và 14 ngày tại 30
o
100 quả trứng đựoc đẻ từ 1 trởng thành cái, cá biệt 1 cá thể cái có thể đẻ đợc tới
300 quả trứng [59].
Theo Gerling và cộng sự (1996)[50] bọ phấn Bemisia tabaci hoàn thành 1
lứa khoảng 20 -30 ngày ở điều kiện thích hợp, trung bình có khoảng 11- 15 lứa/
năm.
Bọ phấn thích hợp và phát triển mạnh ở điều kiện khô và nóng. Ma nhiều
làm giảm mật độ bọ phấn. Bọ phấn không khoẻ chỉ có thể dịch chuyển những
khoảng ngắn để tìm những bộ phận non của cây. Tuy nhiên nếu điều kiện thhời
tiết thay đổi bất lợi chúng có thể di c hàng triệu con với khoảng cách dài hơn.
Chúng thờng chích hút và bay vào buổi sáng, buổi chiều mát, để tránh ánh sáng
mặt trời, chúng núp vào mặt dới của lá.
Diễn biến mật độ bọ phấn trong năm tuỳ theo điều kiện sinh thái của từng
vùng. [51].
Theo Murugan (2001) [67] đã đặt bẫy dính theo dõi mật độ bọ phấn trên
cánh đồng bông ở Coimbatace (ấn Độ) cho thấy: từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau
lợng ma thấp, nhiệt độ cao, cờng độ ánh sáng lớn với ẩm độ trung bình tạo
điều kiện cho bọ phấn sinh sôi nảy nở nhanh chóng nên mật độ bọ phấn cao, từ
10
tháng 5 đến tháng 8 ma nhiều nên mật độ bọ phấn thấp đỉnh cao của mật độ bọ
phấn khoảng tháng 11 đến tháng giêng năm sau.
ở Tây ban Nha mật độ bọ phấn trên cánh đồng cà chua có 2 đỉnh cao: thứ
nhất vào tháng 7 8, thứ 2 vào tháng giêng và tháng 2 năm sau (Ramos ,2001)
[71].
Nh vậy sự tăng hay giảm của mật độ bọ phấn ở mỗi vùng phụ thuộc vào nhiệt độ
và ẩm độ, lợng ma, cây trồng vùng đó.
* Phân loại
Theo Moand và Halsey (1978) [64] giống bọ rầy gồm 37 loài hầu hết có
nguồn gốc từ châu á, trong đó có bọ phấn Bemisia tabaci Genn. có nguồn gốc từ
ấn Độ và đợc mô tả dới nhiều tên gọi trớc khi sự biến đổi hình thái đợc công
từ 28-92% năng suất ở Địa Trung Hải [68]. Sau đó bệnh xoăn vàng lá cà chua
cùng sự lan truyền của nó bởi bọ phấn lần lợt đợc báo cáo khắp nơi trên thế giới:
ấn Độ năm 1948 (Vasude và Samjai 1948), ở Mỹ thập kỷ 60 (Casta 1969, Debrot
và cộng sự, 1963), Địa Trung Hải 1960 (Cohen và cộng sự 1964, 1966), Xu Đăng
1965 (Yassin và cộng sự 1965), Campuchia (Rowell và cộng sự 1989), Indonesia
(AVRDC 1985), Nhật Bản thập kỷ 80 (Kobatake và cộng sự 1981, Osaki và cộng
sự 1978, 1981), Đài Loan (AVRDC 1987, Green và cộng sự 1987), Philippin
1971 (Retuerma 1971), Thái Lan thập kỷ 80 (Giatgang 1980, Thongsit và cộng sự
1986, Chardrasi Kul 1986)(dẫn theo Green S.K. và Kallô G. ). Cho đến nay hơn
100 nớc ở hầu hết các châu lục đã công bố về mối nguy hại do bọ phấn gây ra
[73]. Dới sự trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật hiện đại, sự truyền virus của bọ
phấn Bemissia sp gây bệnh xoăn vàng là trên cà chua và nhiều cây trồng khác
cùng hàng loạt các vấn đề liên quan ngày càng đợc sáng tỏ. Đồng thời bọ phấn
trở thành một đối tợng gây hại nguy hiểm cần phải đợc phòng trừ trong quản lý
dịch hại tổng hợp trên các cây trồng đặc biệt là nhóm cây họ cà.
Bọ phấn Bemisia tabaci có phổ ký chủ rất rộng. Theo Coudiet và cộng sự
(1985) [45] trên thế giới có tới 500 loài cây là ký chủ của bọ phấn, trong đó ở
Florida có tới 50 loài nh khoai lang, da chuột, da thơm, da hấu, bí ngô, cà
tím, ớt, cà chua, xà lách, suplơ xanh Bọ phấn thích hợp sống ở trên cây trồng
này hay cây trồng khác tuỳ theo vùng sinh thái. ở
Florida bọ phấn thích sinh sống
trên khoai lang, da chuột, bí ngồi hơn là trên suplơ xanh, cà rốt [59]. ở Đài Loan
thì thứ tự đó là cà tím, cà chua, khoai lang, da chuột, đậu xanh. Một số cây trồng
12
khác và cỏ dại là ký chủ phụ của bọ phấn Bemisia tabaci giúp bọ phấn sống sót
khi trên đồng ruộng không có những cây trồng là ký chủ chính tạo thành sự gối
lứa trên đồng ruộng. Đây là vấn đề rất quan trọng để xác định biện pháp phòng
trừ ở từng vùng sinh thái nhất định. Ví dụ: rau diếp dại, cà độc dợc (cỏ dại);
bông, đậu tơng, mớp lạc là những cây ký chủ phụ của bọ phấn trên cánh đồng
13
(Markham và cộng sự 1994) [63]. Trong số đó thì Germinivirus, là giống virus
quan trọng nhất gây bệnh cho cây trồng, là nguyên nhân cho sự mất năng suất của
cây trồng từ 20- 100% (Brown và Bird, 1992)[39]. Germinivirus hay gọi là
Begomovirus gây ra rất nhiều triệu chứng trên cây trồng bao gồm khảm vàng,
xoăn vàng, xoăn lá, lùn cây và xoăn lùn nhng ở trên cà chua thì triệu chứng
chính là xoăn vàng lá hay còn gọi là Tomato Yellow Leaf Curl virus (TYLCV).
Hiện nay tên gọi bệnh virus trên cà chua kèm theo triệu chứng trên. TYLCV
đã đợc ghi nhận trên thế giới . Tuy nhiên trên một số cây trồng ở Mỹ thì tên gọi
của bệnh do giống Germinivirus gây ra cùng với triệu chứng đợc mô tả ở một số
cây trồng khác nhau nh là: xoăn lá thuốc lá (TYLCV), lùn sọc da hấu (WCSV),
xoăn lá bầu bí (SLCV), khảm đốm đậu xanh (BGMV) (EPPO/CABI, 1996) [48].
Một công bố mới đây nhất do Valderrama A. (2002) [84] về triệu chứng mới của
virus xoăn vàng lá trên cà chua đợc tìm thấy ở Panama do bọ phấn Bemisia
tabaci truyền, đó là teo xoăn lá cà chua (ToLCV Pan).
Điều quan trọng là tất cả nguyên nhân của những dạng triệu chứng trên đều
đợc sự trợ giúp của kỹ thuật hiện đại (phản ứng chuỗi enzym, PCR) xác định
Germiniverus là do bọ phấn truyền (Nakhla và Maxwell,1998) [68].
Cây cà chua bị bệnh (TYLCV) có triệu chứng: Mép lá màu vàng sáng cong
lên hình thìa và nhỏ dần lại, giòn, dễ gãy, thân cành rụt lại thẳng đứng, cây sinh
trởng chậm, hoa quả dễ bị rụng, gây mất năng suất cho cà chua từ 64-90%[68] .
Theo Attahan T.S. và cộng tác viên (1986)[33], Green S K (1994) [55] thì
virus xoăn vàng lá (TYLCV) đợc truyền lan bằng bọ phấn Bemisia tabaci, theo
kiểu truyền bền vững, thời gian bọ phấn nạp virus 15 -20 phút, thời gian bọ phấn
truyền virus là 15 phút, triệu chứng xuất hiện trên cây con sau khi bọ phấn xâm
nhiễm từ 2 -5 tuần, virus truyền qua sâu non nhng virus không truyền qua trứng
bọ phấn. Theo Berlinger,M.J và Dahar R (1989) bọ phấn chích hút trên cây bệnh
sau 4 giờ mới đủ truyền sang cây khoẻ. Theo Butter và Rataul (1977) [41]bọ phấn
cái có khả năng truyền virus, và sự lan truyền virus tăng theo sự tăng của mật độ
bọ phấn, hay nói cách khác trên đồng ruộng tỷ lệ cây bị bệnh luôn liên quan chặt
Tuy nhiên sử dụng giống chống chịu để trừ bọ phấn nói riêng cũng nh phòng trừ
sâu bệnh hại nói chung không tránh khỏi tính bất cập của nó nh: đòi hỏi thời
gian dài và khó có thể quy tụ đợc tất cả các u điểm của các giống đang sử dụng
trong sản xuất cùng với tính chống chịu sâu bệnh hại.
*. Biện pháp vật lý, kỹ thuật trồng trọt.
Dựa vào xu tính ánh sáng của bọ phấn Bemisa tabaci, đã có những nghiên
cứu sử dụng bẫy dính màu vàng để phòng trừ bọ phấn.
15
Murigan M (2001)[69] quan sát trởng thành bọ phấn trên bẫy dính màu
vàng đặt trên những ruộng trồng các giống bông khác nhau tại ấn Độ trong 17
tuần (mùa đông) và 16 tuần (mùa hè) thấy bẫy dính màu vàng đã làm giảm mật
độ bọ phấn trên các ruộng trồng bông.
Việc phòng chống bệnh hại cà chua hạn chế khả năng gây bệnh thông qua
biện pháp canh tác đã đợc nghiên cứu tại Uỷ ban bảo vệ ccây trồng Famham
(vơng quốc Anh) thực hiện. Thí nghiệm đợc tiến hành trên nguyên lý trồng các
loại cây trồng trong một khu vực cùng với diện tích trồng cà chua (diện tích trồng
cà chua không lớn hơn 5000m2). Kết quả là cách này đã hạn chế đợc sự lây lan
của virus do bọ phấn không tiếp xúc trực tiếp với cà chua (Hilje,L, 2000)[56].
Để giảm bớt sự gây hại của bọ phấn Bemisia argentifolii cho cà chua từ
năm 1989-1991 Shuter, D và các cộng sự thuộc Trung tâm nghiên cứu và giáo dục
vùng vịnh Pradenton bang Florida (Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu biện pháp che
phủ đất bằng màng lynon có màu sắc khác nhau để hạn chế mật độ bọ phấn trên
cây cà chua. Màng màu vàng đợc kết hợp với yếu tố phun hoặc không phun dầu
đậu nành. Kết quả cho thấy: Với mật độ bọ phấn thấp, năng suất cà chua ở các
công thức cha có sự sai khác. Trong điều kiện mật độ bọ phấn cao, năng suất cà
chua cao nhất là ở công thức có che phủ lynon màu vàng. ở vụ thu, triệu chứng
bệnh virus xoăn lá xuất hiện muộn hơn, năng suất cà chua cao nhất ở công thức
che phủ lynon màu vàng (62,3 tấn/ha) tiếp đến là da cam (54,8 tấn/ha), rồi đến
màu ánh bạc (52,7 tấn/ha) kết hợp với việc phun dầu đậu nành. Công thức có mật
vấn đề rộng mở đòi hỏi sự quan tâm của các nhà khoa học nông nghiệp.
*. Biện pháp hóa học
Theo Dharmendar Singh (2003)[48] sử dụng thuốc hoá học phòng trừ bọ
phấn nhanh chóng và hữu hiệu nhất. Các loại thuốc hoá học để phòng trừ bọ phấn
ở mỗi vùng, mỗi nớc là rất khác nhau tuỳ theo điều kiện môi trờng, tập quán
canh tác của từng vùng.
Sharaf (1986) [48] phòng trừ bọ phấn Bemsia tabaci là công việc khó khăn
bởi vì bọ phấn có phổ ký chủ rộng tới 500 loài, các giai đoạn phát dục đều ở mặt
dới lá, trởng thành di động mạnh và có tính kháng thuốc trừ sâu mạnh.
Nakhla và cộng sự ở Ai Cập những năm 1981, 1990- 1991 nông dân
đã phun 8 10 lần /1 vụ cà chua mà vẫn mất năng suất khoảng 30-35.
Vào những năm 90 của thế kỷ 20 thì loại thuốc sử dụng trừ bọ phấn tỏ ra có
hiệu quả nhất là Applaud, Sumilarv, Pegasus, Admir, đặc biệt Admir trừ nhộng bọ
phấn tuổi 3 và tuổi 4 rất hiệu quả [68].
17
Tại Hàn Quốc Lee Young Su và cộng sự (2002) [61] đã sử dụng Sumilarv
và Neostomosus để trừ bọ phấn Bemisia tabaci trên khoai lang cho thấy: hiệu lực
của 2 loại thuốc này vẫn kéo dài cho đến 9 ngày sau khi phun thuốc là 92% và
99,3%. ở ấn Độ Dharmendar Singh (2003)[46] đã sử dụng 8 loại thuốc trừ sâu để
phun trừ bọ phấn Bemisia tabaci trên cà tím cho thấy: hiệu lực của thuốc vẫn kéo
dài sau khi phun thuốc 10 ngày đối với các công thức xử lý : Admir, Polytrin,
Profenfos.
Tuy nhiên những loại thuốc hoá học hiện nay sử dụng để trừ bọ phấn có
hiệu quả thì lại rất độc, phần lớn đã bị cấm sử dụng trên cây trồng có sản phẩm ăn
tơi nh cà chua. Mặt khác tính chống thuốc của bọ phấn đối với các loại thuốc
trừ sâu nh: Carbosulfan, Polytrin (Sherpa), Admire, Sumilarv, Nudrin,
Methamidophos, một số thuốc nhóm Pyrethoid (Cúc) ... đã xuất hiện, đặc biệt
trong sản xuất đại trà. Tính kháng thuốc trừ sâu của bọ phấn đẫ đợc các tác giả
phát hiện và nghiên cứu: Cardona C (2001) ở Colombia và Equado, Elkady H
trừ bọ phấn. Kết quả chỉ rõ mật độ trởng thành và các pha sâu non của bọ phấn
đã giảm hẳn trên bông khi sử dụng những hoá chất này. Sharaf và Allawy (1981)
[81] cũng báo cáo rằng sử dụng thuốc trừ sâu Permethrin, Supracid, Aetellic áp
dụng cùng với dầu khoáng phun cho cà chua trừ bọ phấn có tiềm năng lớn để
phòng trừ bọ phấn.
Theo Lannacone O J và cộng sự (1997) [60] dịch chiết từ cây xoan ấn Độ
(neem) và rễ cây dây mật (Rotenon) đã trừ đợc nhiều dịch hại của cà chua gồm
cả sâu non và trởng thành bọ phấn, sâu non và trởng thành của ruồi đục lá (leaf
miner) đồng thời bảo vệ đợc trởng thành của ong ký sinh ruồi đục lá. So sánh
giữa 2 loại thuốc thì dịch chiết từ cây xoan có hiệu lực trừ sâu cao hơn nhng giá
thành lại đắt hơn.
ở Venezuela Salasf (2001) [76] đã nghiên cứu về công hiệu của dịch chiết
từ củ tỏi để trừ bọ phấn trên cà chua cho thấy: Sử dụng dịch chiết từ củ tỏi ở liều
lợng 500 759 ml/ha có khả năng xua đuổi trởng thành của bọ phấn dẫn đến
làm giảm mật độ trứng và sâu non trên lá cà chua. Mật độ bọ phấn trên cà chua
khi phun dịch chiết từ củ tỏi thấp hơn so với phun nớc lã và Thiodan.
Một nghiên cứu khác của Salas J và cộng sự (2001) [75] đã thử nghiệm
dịch chiết từ hạt cây xoan ấn Độ gọi là Sukrina EC-75 cùng với Thiodan để trừ bọ
phấn và sâu đục quả cà chua kết quả cho thấy: Khi phun Sukrina thì mật độ bọ
19
phấn thấp hơn so với phun Thiodan và đối chứng, đồng thời mật độ sâu xanh giảm
xuống nh là phun Thiodan.
1.2.Tình hình nghiên cứu trong nớc
1.2.1. Tình hình sản xuất cà chua ở trong nớc
Những năm gần đây, nền kinh tế của nớc ta đang trên đà tăng trởng phát
triển mạnh, mức sống của ngời dân ngày một tăng dẫn đến nhu cầu về số lợng
chủng loại, chất lợng rau cũng tăng theo. Theo Trần Khắc Thi (2001) [19] mục
tiêu đặt ra của ngành đến 2005 và 2010 là phải đảm bảo lợng rau xanh cho 90
triệu ngời dân vào thời điểm đó với mức tiêu thụ là 83 kg rau cho một ngời trên
Long nh thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Sông Bé... sản lợng bình quân
vào khoảng 130.000 170.000 tấn. Mức tiêu thụ bình quân hàng năm ớc tính
khoảng 3 kg/ngời. Sản lợng hàng năm tăng khoảng 23% là do tăng diện tích
chứ không phải do tăng năng suất. Năng suất cà chua hiện nay ở nớc ta còn thấp
(16 tân/ha) chỉ đạt 62% so với năng suất cà chua của toàn thế giới (27 tấn/ha).
Một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho năng suất cà chua ở Việt nam
thấp là do cha làm tốt công tác phòng trừ sâu bệnh hại [1], [18], [19].
1.2.2. Tình hình sâu bệnh hại cà chua ở Việt Nam.
Kết quả điều tra côn trùng và bệnh cây (1967 1968) ở miền Bắc của Viện
Bảo vệ Thực vật đã xác định có 29 loài côn trùng hại cà chua thuộc 6 bộ và 6 họ,
trong đó đã tìm thấy bọ phấn Bemisia tabaci phá hại trên cà chua, đồng thời bệnh
virus xoăn lá cũng đợc tìm thấy trên cà chua và khoai tây [27].
Sau đó Bùi Văn ích và cộng sự, 1970 đã bớc đầu nghiên cứu nguyên nhân
bệnh xoăn lá cà chua là do virus lan truyền bệnh qua bọ phấn Bemisia tabaci [ ],
và phòng trừ có hiệu quả [19]. Nguyễn Thơ (1966 1984) đã kiểm tra bằng phản
ứng huyết thanh phát hiện thấy virus xoăn vàng lá do bọ phấn truyền gây bệnh
trên cà chua, khoai tây, thuốc lá, đậu tơng, dâu tằm, bầu, bí, ớt, cà bát, đậu côve...
thậm chí cả trên cây cỏ dại nh tầm bóp. Tỷ lệ cây bị bệnh virus xoăn vàng là trên
đồng ruộng khu vực Hà nội rất cao lên tới 100% cây bị bệnh, và có liên quan chặt
chẽ tới mật độ cao của bọ phấn Bemisia tabaci [19].
Theo kết quả điều tra côn trùng và bệnh cây ở các tỉnh miền Nam (1977
1978) [8], Phạm Văn Biên và cộng sự (2003) [ 3] cho biết loài bọ phấn hại trên cà
chua và thuốc lá, bông, cà tím, đậu đỗ, đậu bắp ở miền nam là loại Bemisia
myricae kwayna.
Báo cáo của Phạm Thị Nhất (1995) trong hội nghị quốc tế về quản lý dịch
hại tổng hợp trên cây rau cho biết loài bọ phấn gây hại chính trên rau ở Việt Nam
đó là: Bemisia tabaci hại phổ biến trên cây họ cà, cây họ đậu [13].
21
Kết quả điều tra của Viện Bảo vệ Thực vật về tình hình sử dụng thuốc trừ
triển thích hợp ở nhiệt độ 18 33
o
C, ẩm độ 80 90%. Bọ phấn xuất hiện quanh
năm trên đồng ruộng, và có các lứa gối nhau nên khó xác định đợc số lứa trong 1
năm. Một năm có hai đợt phát sinh rộ là vào đầu tháng 3 và tháng 5 [28].
Bọ phấn non và trởng thành chích hút nhựa cây, chủ yếu ở ngọn và các lá
còn non, làm cho lá có các đốm hoặc vàng có biến màu vàng, trờng hợp mật độ
22
cao gây hại nặng chỉ chỗ gân lá còn xanh.Một số lá có thể hoàn toàn bị nâu và
khô héo, cây chết. Trên lá và thân cây bị bọ phấn hại thờng có lớp mốc đen.
Ngoài tác hại trực tiếp bọ phấn là môi giới truyền virus gây bệnh xoăn lá
rất nguy hiểm cho cây trồng. Tỷ lệ bệnh xoăn lá trên ruộng tăng rõ rệt cùng với
mật độ phấn tăng [21], [24].
Các kết quả nghiên cứu của tổ nghiên cứu bệnh cà chua của Viện Bảo vệ
Thực vật (1970) cho thấy bọ phấn Bemisia tabaci truyền bệnh virus xoăn vàng lá
TYLCV cho cà chua, cứ 2 bọ phấn truyền thì tỷ lệ cây bệnh là 16,7%; 10 bọ phấn
truyền thì tỷ lệ cây bệnh là 100%. Trên đồng ruộng có 2 đỉnh cao về mật độ bbọ
phần là tháng 3 đến tháng 6 và tháng 9 đến tháng 11. Khi trời ma to, rét đậm thì
mật độ bọ phấn giảm [22].
Kết quả nghiên cứu của Trần Khánh Bửu (1973) [4] tại Trại thí nghiệm
Viện Bảo vệ Thực vật cho thấy cà chua vụ xuân hè gieo trồng muộn, bệnh virus
xoăn lá nặng chỉ thu hoạch đợc 26 kg quả/4000m
2
.
Vì vậy phòng trừ bọ phấn góp phần làm tăng năng suất, sản lọng cà chua.
Các kết quả nghiên cứu ở nớc ta hiện nay, chủ yếu sử dụng phòng trừ bằng thuốc
hoá học.
Nguyễn Văn Viên (1999) [26], Bùi Văn ích, Lê Trờng, Nguyễn Thơ (1969)
đã sử dụng Bi 58 diệt bọ phấn theo cách phun định kỳ và tới đã có hiệu quả.
+ Lọ đựng mẫu, ống nghiệm, bút lông, panh, kẹp, bình phun thuốc, bình xịt
nớc.
+ Lồng chụp cách ly.
+ Lồng mika (nuôi bọ phấn trởng thành thu trứng, xác định tuổi thọ của
trởng thành kích thớc 25 x 40 cm một đầu bịt vải tha.
+ Chậu trồng cây: Dùng trong thí nghiệm nuôi sinh học sâu non chậu nhựa
kích thớc cao 25 cm, đờng kính đáy trên 20 cm, đờng kính đáy dới 10 cm.
Dùng trong thí nghiệm khảo sát thuốc trong phòng: hộp nhựa cao 10 cm,
cạnh đáy trên 10 cm, đáy dới 10 cm
- Hộp petri đờng kính 15 cm, cao 2,5 cm
+ Bông thấm nớc, giấy giữ ẩm
+ Bẫy dính màu vàng, keo dính, băng dính
- Hoá chất BVTV: Dầu SKEN 99, Thuốc trừ sâu Pegasus.
- Giống cà chua PT18
+ Tính năng tác dụng của các loại thuốc:
24
Pegasus 250 SC (Diafenthiuron) theo Trần Quang Hùng, 2000 [ ] là loại
thuốc ức chế hô hấp của tế bào, thuốc có tác dụng tiếp xúc và vị độc, diệt trừ
trởng thành, ấu trùng và có tác dụng với pha trứng.Diafenthiuron đợc dùng
trừ côn trùng và nhện hại cây ăn quả, rau, chè, bông, hoa và cây cảnh.
Diafenthiuron đựoc chế biến thành dạng dung dịch huyền phù đặc, dạng bột
thấm nớc (250 SC, 500 SC, 50 WP). Thuốc rất ít độc đối với các loại k sinh
có ích, thuộc nhóm độc III.
Dầu SKEN 99 là một loại dầu khoáng dạng sinh học , có khả năng phòng
trừ bọ phấn, có độ an toàn cao đối với thiên địch và động vật máu nóng.
3.3.Nội dung:
3.3.1.Nuôi sinh học bọ phấn trong phòng thí nghiệm.
3.3.2.Điều tra biến động số lợng bọ phấn trên cà chua do một số yếu tố
sinh thái ảnh hởng và mối quan hệ giữa biến động của bọ phấn với tỷ lệ
các lá thứ 3 từ đỉnh trở xuống của các giống Pt 18, VF10 tại Viện nghiên cứu
Rau quả. Đếm số cây bị bệnh xoăn vàng lá virus với triệu chứng điển hình
(Tham khảo phơng pháp nhận dạng cây cà chua bị bệnh virus xoăn vàng lá
của Trung tâm nghiên cứu và phát triển Rau châu á - AVRDC) [35]. Chỉ tiêu
theo dõi :
+ Mật độ bọ phấn trung bình/ cây (con/cây).
+ Tỷ lệ cây bệnh trên từng giống (%).
+ Giai đoạn sinh trởng của cây ở mỗi kỳ điều tra.
2.4.1.2. Khoả sát hiệu lực của một số loại hoá chất BVTV ngoài đồng ruộng.
- Lặp lại thí nghiệm khảo sát thuốc ở trong phòng phần thử thuốc đối với bọ
phấn trởng thành.
- Thí nghiệm đợc tiến hành ở vụ cà chua xuân hè tại Viện nghiên cứu Rau
quả trên giống cà chua XH5.
- Bố trí thí nghiệm theo kiểu RCBD với 3 lần nhắc lại.
Các công thức thí nghiệm:
+ Công thức 1: Phun nớc lã.
+ Công thức 2: Phun dầu SKEN 1.
+ Công thức 3: Phun dầu SKEN 2.
+ Công thức 4: Phun Pegasus 50 EC 2.