Gi¸o ¸n ®éi tuyÓn v¨n 8-§inh l÷ Quúnh Giang
CHUYÊN ĐỀ,CHẤT THÉP,CHẤT TÌNH TRONG THƠ HỒ CHÍ MINH
Câu hỏi: Nghĩ về tập thơ "NKTT" của HCM, nhà phê bình Hoài Thanh từng
viết: "Khi Bác nói trong thơ có thép, ta cũng cần tìm hiểu thế nào là thép ở trong
thơ.Có lẽ phải hiểu một cách rất linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện
thép, lên giọng thép mới có tinh thần thép". Anh (Chị) hiểu ý kiến trên như thế
nào ? Qua việc bình giảng bài thơ "Giải đi sớm" hãy làm sáng tỏ nhận xét trên.
HƯỚNG DẪN
I. Mở bài:
Nghĩ về tập thơ "NKTT" …thần thép". Lời nhận xét của Hoài thanh vừa khái quát được
nội dung cảm hứng của tập thơ "NKTT" vừa lột tả được tinh thần của của mỗi vần thơ
trong tập "NKTT". "Giải đi sớm" tiêu biểu cho tâm hồn cốt cách của HCM - một bài thơ
không nói chuyện thép, nên giọng thép mới có tinh thần thép.
II. Thân bài:
1. Xuất xứ bài thơ:
2. Giải thích ý kiến của bài thơ.
- Lời nhận xét của Hoài Thanh khẳng định Bác có nói trong thơ có thép, điều này chỉ xuất
hiện một lần duy nhất trong bài thơ "Cảm tưởng đọc thiên gia thi":
"Cổ thi thiên ái thiên nhiên nữ
Sơn, thuỷ, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong.
Hiện đại thi trung ưng hữu thiết
Thi gia dã yếu diệc xung phong"
=> HCM không hề phủ nhận những đề tài thiên nhiên, trong thơ Người chỉ nhận xét thơ
xưa quá thiên về thiên nhiên đẹp mà quên đi bao nhiêu điều khác, thơ hiện đại bên cạnh đề
tài thiên nhiên cần có thêm tinh thần thép.
- Nhà phê bình Hoài Thanh không chỉ đòi hỏi người đọc phải hiểu một cách linh hoạt uyển
chuyển chất thép trong thơ Bác tránh khiên cưỡng cứng nhắc, mà còn chỉ ra hai dạng biểu
hiện của chất thép trong thơ Bác:
+ Có khi chất thép được biểu hiện trực tiếp qua việc "nói giọng thép" "Lên giọng thép".
Trong tập nhật kí, bên cạnh bài thơ "Cảm tưởng đọc thiên gia thi" trực tiếp nói chuyện
thép, chỉ có vài bài thơ "lên giọng thép":
HCM trong hoàn cảnh thử thách nghiệt ngã.
Câu hỏi: Đọc tập thơ "Nhật kí trong tù " của Hồ Chí Minh, nhà thơ Hoàng Trung
Thông viết: "Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp
Anh đèn toả sáng mái đầu xanh
Vần thơ của Bác vẫn thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình"
Anh (chị) hiểu ý thơ trên như thế nào. Qua việc bình giảng bài thơ "Chiều tối" hoặc
"Giải đi sớm" hãy làm sáng tỏ bài thơ đó.
Gợi ý giải bài
I. Mở bài
Nhận xét về sáng tác của HCM trong tập "NKTT", bên cạnh ý kiến của Hoài Thanh về
những dạng biểu hiện tinh tế khác nhau của chất thép trong thơ Bác, nhà thơ Hoàng Trung
Thông cũng có một nhận xét vô cùng đặc sắc:
" Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp
ánh đèn toả rạng mái đầu xanh
Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngat tình"
ý kiến của nhà thơ HTT không chỉ gợi lên bát ngát tình, đọc những lớp ý nghĩa khác nhau,
mà còng được thể hiện qua chính thực tiễn sáng tác của HCM, tiêu biểu là bài thơ.
II. Thân bài
Trong ý thơ của mình, HCM đã dùng hình ảnh "trăm bài" như một hình ảnh biểu tượng để
chỉ hơn một trăm bài thơ trong tập "NKTT" của Bác. Đối với ông mỗi bài thơ trong tập
nhật ký đều là một "ý đẹp", đẹp cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật. Lời NX
này đã khẳng định giá trị lớn lao của từng ý thơ, từng tác phẩm trong tập Nhật ký.
Dòng thơ :" ánh đèn... xanh" vừa như một hình ảnh tả thực, miêu tả ánh sáng toả ra từ ngọn
đèn soi sáng mái đầu còn trẻ của nhà thơ khi đọc thơ Bác, vừa có thể hiểu như một hình
ảnh biểu tượng chỉ ánh sáng tinh thần toả ra từ tập "NKTT", soi sáng tâm hồn trí tuệ cho
những thế hệ sau, cho những người đầu xanh tuổi trẻ => ý thơ đã khẳng định giá trị của
ánh sáng tư tưởng, của những bài học nhân sinh toả ra từ tập nhật ký.
- Nếu Hoài Thanh chỉ khẳng định hai dạng biểu hiện cảu chất thép trong thơ Bác thì HTT
trí tuệ tình cảm soi đường chỉ lối cho những thế hệ sau, cho những người đầu xanh tuổi trẻ.
III. Kết luận:
Lời nhận xét của nhà thơ Hoàng Trung Thông vừa chỉ ra mối quan hệ độc đáo giữa chất
thép và chất tình trong thơ Bác vừa khẳng định giá trị lớn lao lâu dài của tập Nhật ký bằng
thơ. ý kiến này như một bổ xung độc đáo cho ý kiến giải cội nguồn làm nên sức hấp dẫn
lâu dài của tập nhật ký bằng thơ:
"Lại thương nỗi đoạ đầy thân Bác
Mười bốn trăng xê tái gông cùm
ôi chân yêu mắt mờ tóc bạc
Mà thơ bay cách hạc ung dung"
(Tố Hữu)