Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Căn cứ vào các nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp quy của Nhà
nước và của Bộ giáo dục - đào tạo
Nghị quyết kỳ họp lần 2, BCH Trung ương Đảng khóa VIII trong phần IV
"Những giải pháp chủ yếu" nêu ra: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục-
đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng
tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương
tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự
nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học...” [1, tr.41].
Luật giáo dục 2005 quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính
tích cực tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho
người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí
vươn lên…” (Khoản 2 Điều 5)[29].
Với môn sinh học Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định mục tiêu về kỹ năng:
"Phát triển kĩ năng học tập, đặc biệt là tự học: Biết thu thập và xử lí thông tin;
lập bảng biểu, sơ đồ, đồ thị... làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm; làm
báo cáo nhỏ, trình bày trước tổ, lớp..." [8, tr.6] .
Với đối tượng HS DT, trung tâm nghiên cứu giáo dục dân tộc chỉ rõ “Đẩy
mạnh đổi mới phương pháp dạy học, giúp HS biết cách tự học và hợp tác trong
tự học, tích cực chủ động, sáng tạo trong phát hiện và giải quyết vấn đề, tự
chiếm lĩnh tri thức mới, giúp HS tự đánh giá năng lực của bản thân” [44, tr.
25]
1.2. Xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn giáo dục:
Trong điều kiện của xã hội hiện đại, khi mà khoa học và công nghệ phát triển
rất mạnh mẽ, sự bùng nổ của cách mạng thông tin đã tác động, ảnh hưởng sâu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
3
* Phỏt hin tỡnh hỡnh thc tin kh nng t hc ca hc sinh dõn tc i vi
b mụn sinh hc qua cỏc s liu iu tra.
* Xỏc lp c s lớ lun v thc tin cựng cỏc gii phỏp i vi vic nõng
cao nng lc t hc cho hc sinh núi chung v HS trng PT DTNT núi riờng.
7. Gii hn nghiờn cu.
* i tng nghiờn cu i din: HS trng PT Dõn tc ni trỳ in
biờn v trng PT Vựng cao Vit Bc.
* Bi dng nng lc t hc cho hc sinh vi hỡnh thc lm vic vi SGK,
bi ging trờn lp v hot ng hc tp ngoi lp.
* Thụng qua vớ d phn II: Sinh hc t bo.
8. Nhim v nghiờn cu.
- Phỏt hin nhng khú khn c thự ca hc sinh trng PT Dõn tc ni trỳ
trong quỏ trỡnh hc tp b mụn sinh hc.
- Bi dng nng lc t hc, v cỏch thc bi dng nng lc t hc cho
hc sinh núi chung v hc sinh trng PT Dõn tc ni trỳ núi riờng.
- Thc nghim s phm kim tra, ỏnh giỏ tớnh kh thi ca gi thuyt ra.
9. Phng phỏp nghiờn cu.
9.1 Phng phỏp nghiờn cu lớ thuyt:
Nghiờn cu cỏc vn kin ca ng, cỏc vn bn phỏp quy ca Nh nc,
B GD-T, cỏc ti liu chuyờn mụn, SGK v cỏc ti liu khỏc phõn tớch
tng hp h thng nhng thụng tin cú liờn quan n ti.
9.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn giáo dục:
- Đối thoại với giáo viên sinh học và học sinh
- Sử dụng phiếu điều tra
9.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
- Địa điểm TN sư phạm: Giảng dạy TN một số giờ ở trường PT Vùng
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
5
Phần II: Kết quả nghiên cứu
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề tự
học và hướng dẫn tự học trong giáo dục nhà trường
Trong lch s phỏt trin giỏo dc, t chc quỏ trỡnh hc tp theo hng
tng cng tớnh t hc ca hc sinh l vn c quan tõm v nghiờn cu t
lõu. Về vấn đề tự học như vai trò của tự học, năng lực tự học của HS, cách
thức rèn luyện năng lực tự học cho HS nói chung và HS trường PT DTNT
nói riêng đã được nhiều tác giả nghiên cứu.
1.1.1. Trờn th gii.
- Ngay t c i, nhiu nh giỏo dc li lc nh Xụcrat ( 470-399 TCN),
Khng T (551 -479 TCN) ó tng núi n tm quan trng to ln ca vic
phỏt huy tớnh tớch cc, ch ng ca HS v núi n nhiu bin phỏp phỏt huy
tớnh tớch cc nhn thc.
- T th k 17 n th k 19 nhiu nh giỏo dc ln nh J.A Conmesky
(1592-1670); Jacques Rousseau(1712-1778); A.ixtecvec (1790-1866)
Trong cỏc cụng trỡnh nghiờn cu ca mỡnh v giỏo dc phỏt trin trớ tu u
c bit nhn mnh: Mun phỏt trin trớ tu bt buc ngi hc phi phỏt huy
tớnh tớch cc, c lp, sỏng to t mỡnh dnh ly tri thc. Mun vy phi
tng cng khuyn khớch ngi hc t khỏm phỏ, t tỡm tũi v suy ngh trong
quỏ trỡnh hc tp [14, tr.26-33].
- Phỏp, vo nm 1920 ó hỡnh thnh nhng "nh trng mi", t vn
phỏt trin nng lc trớ tu ca hc sinh, khuyn khớch cỏc hot ng do
chớnh hc sinh t qun.
- Nhiu tỏc gi Liờn Xụ (c) v xó hi ch ngha ụng u, ng trờn quan
im ca ch ngha duy vt bin chng, cỏc nh giỏo dc khụng nhng khng
vai trò c
ủa tự học, các kỹ năng tự học cần thiết đến các điều kiện để tổ chức
quá trình tự học đạt kết quả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Hoạt động tự học được các tác giả kết luận là nó phải được thực hiện
trong mối quan hệ tương tác hợp lý giữa các yếu tố, cá nhân người học, giá o
viên và các điều kiện hỗ trợ khác.
1.1.2. Trong nước.
Trong l
ịch sử phát triển của giáo dục ở Việt Nam, vấn đề tự học, tự bồi
dưỡng đã được chú ý từ rất lâu.
Thời kì phong kiến, tư tưởng Nho giáo là hệ tư tưởng thịnh hành nhất ở
nước ta, đã xuất hiện các lớp tự phát của các ông đồ tâm huyết với nghề dạy
học, song còn nhiều hạn chế.
Thời kì thực dân Pháp đô hộ, giáo dục nước ta rất chậm đổi mới. hoạt
động tự học không được nghiên cứu và phổ biến, nhưng thực tiễn giáo dục lại
xuất hiện nhu cầu tự học có tính tự giác rất cao ở nhiều tầng lớp xã hội.
Ở Miền Nam thời Mỹ - nguỵ, hoạt động tự học đã được chú ý nghiên cứu
bởi nhiều tác giả, trong đó phải kể đến Đinh Gia Trinh với quan niệm có 2 hình
thức học là học lấy và học ở nhà trường. Ông cho rằng: “Học lấy là tự mình
học lấy triết h
ọc, khoa học, văn chương, không cần theo sự giảng dẫn tuần tự
của một ông thầy … Người ta ai cũng cần học lấy dù cả những người đỗ đạt
cao” [44].
Hoạt động tự học thực sự được nghiên cứu nghiêm túc và triển khai từ khi
nền giáo dục cách mạng ra đời (1954) trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm
gương sáng về tình thần và phương pháp tự học đã dạy: "Về cách học, phải lấy
bin chng [40, tr 60-66].
Riờng lnh vc SH cú r t nhiu cụng trỡnh nghiờn cu v t hc in hỡnh nh
inh Quang Bỏo [3] [4] [5][6], . Nguyn c Thnh[43], Trn Bỏ Honh[16]
[17] v nhiu tỏc gi khỏc. Trong cỏc cụng trỡnh nghiờn c u ca mỡnh, tỏc gi
Trn Bỏ honh ó phõn tớch c s khoa hc, cỏch thit k bi hc sinh hc theo
phng phỏp tớch cc v k thut thc hin cỏc phng phỏp tớch cc nh KT
xỏc nh mc tiờu bi hc s dng cõu hi, phiu hc tp, k thut ỏnh giỏ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Trong đó ông nhấn mạnh Phát triển trí sáng tạo của học sinh, Ông chỉ rõ "Giáo
viên ph
ải biết hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tự mình khám phá kiến thức
mới, dạy cho học sinh không chỉ kiến thức mà cả phương pháp học, trong đó
cốt lõi là phương pháp tự học… Nếu rèn luyện cho người học có được kĩ năng,
phương pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào những
tình huống mới, biết phát hiện và tự lực giải quyết vấn đề đặt ra sẽ tạo cho họ
lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người. Làm được như vậy
thì kết quả học tập sẽ tăng gấp bội, HS sẽ có thể tiếp tục tự học khi vào đời, dễ
dàng thích ứng với cuộc sống xã hội"[17, tr.50].
Nhiều công trình, nhiều bài báo viết về tự học nói chung ở các lĩnh vực
như “Một số vấn đề cần thiết khi hướng dẫn HS tự học” - Thái Duy Tuyên;
“Dạy học phát huy năng lực cá nhân của học sinh”– Nguyễn Gia Cầu và nhiều
bài báo khác.
Một số luận án tiến sỹ của các tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh; Hoàng Thị
Lợi, Nguyễn Thị Tính … Nhiều luận văn thạc sỹ viết về những vấn đề có liên
quan đến tự học như luận văn của các tác giả Bùi Thúy Phượng, Vũ Phương
Thảo, Ngô thị Mai H ương. …Các tác giả đã nêu và phân tích cơ sở khoa học
của hoạt động tự học, cơ sở tâm lí học, giáo dục học, xã hội học… Các tác giả
thông, có một số ít viết về tự học đối với học sinh trường PTDTNT nhưng các
công trình này chủ yếu m ới phản ánh một cách khái quát việc tổ chức hoạt
động học tập cho học sinh dân tộc trong giờ lên lớp hoặc hoạt động ngoài giờ
lên lớp, chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào việc nghiên cứu các
biện pháp tổ chức tự học cho học sinh trường PTDTNT dưới góc độ môn Sinh học 10.
+ Để tổ chức, nâng cao năng lực tự học cho HS có hiệu quả, cần làm rõ cơ
sở lí luận và thực tiễn của các biện pháp, trên cơ s
ở đó xây dựng được các biện
pháp nâng cao năng lực tự học cho phù hợp nhằm phát huy tính tích cực, độc
lập sáng tạo, rèn luyện kĩ năng tự học và nâng cao chất lượng học tập bộ môn
của HS.
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
11
Chương 2
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao năng
lực tự học cho học sinh trường PTDTNT
2.1 Một số khái niệm công cụ
2.1.1 Tự học và tự học có hướng dẫn
*Khái niệm về tự học: Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh
hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng
dẫn trực tiếp của GV và sự quản lí trực tiếp của cơ sở giáo dục và đào tạo
[15, tr.458] . Cụ thể hơn Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng
các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả
cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả
động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khác
quan có ý chí tiến thủ, không ngại khó, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa
học) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh
vực đó thành sở hữu của mình[40,tr.59].
động học là tự mình thực hiện việc học.
- Tự học có nhiều mức độ: Là tự học hoàn toàn và tự học có người
hướng dẫn. Tự học có hướng dẫn là hình thức tự học để chiếm lĩnh tri thức
và hình thành kỹ năng tương ứng với sự hướng dẫn tổ chức chỉ đạo của
giáo viên thông qua tài liệu hướng dẫn tự học..
Như vậy tự học là tự mình thực hiện việc học, tự học không thể thiếu
trong hoạt động học, trong đó học sinh phải biết huy động hết khả năng
trí tuệ, tình cảm và ý trí của mình để lĩnh hội một cách sáng tạo tri thức kỹ
năng, và hoàn thiện nhân cách của mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Kết quả tự học cao hay thấp phụ thuộc vào năng lực tự học của mỗi cá
nhân và đặc biệt với học sinh phổ thông thì còn phải phụ thuộc rất lớn đến
sự hướng dẫn của giáo viên.
2.1.2.Năng lực tự học và sự hình thành năng lực tự học cho HS
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
13
* Năng lực: Đc im ca cỏ nhõn th hin mc thụng tho - tc l
cú th thc hin mt cỏch thnh thc v chc chn - mt hay mt s dng hot
ng no ú. Năng lực gn lin vi nhng phm cht v trớ nh, tớnh nhy
cm, trớ tu, tớnh cỏch ca cỏ nhõn. Năng lực cú th phỏt trin trờn c s nng
khiu (c im sinh lớ ca con ngi, trc ht l ca h thn kinh trung
ng), song khụng phi l bm sinh , m l kt qu phỏt trin ca xó hi v ca
con ngi (i sng xó hi, s giỏo dc v rốn luyn, hot ng ca cỏ nhõn)
[2]. Nng lc c hỡnh thnh v hon thin dn trờn c s rốn luyn cỏc k
nng.
* K nng: Giai on trung gian gia tri thc v k xo trong quỏ trỡnh
nm vng mt phng thc hnh ng. c im ũi hi s tp trung chỳ ý
cao, s kim soỏt cht ch ca th giỏc, hnh ng cha bao quỏt, cũn cú ng
tỏc tha. c hỡnh thnh do luyn tp hay do bt chc [2].
năng phân tích, tổng hợp, khái quát của học sinh còn phát triển chậm,
thiếu toàn diện.
-Học sinh dân tộc đa số chăm chỉ, chịu khó song phương pháp học tập
nói chung chưa khoa học, thường tiếp thu tri thức một cách thụ động bằng
các ghi nhớ, tái hiện. Cố gắng ghi nhớ toàn bộ lời giảng của giáo viên rồi cố
gắng lặp lại y nguyên, ngại đào sâu, suy nghĩ, tìm dấu hiệu bản chất của
nội dung vấn đề nghiên cứu ( học vẹt).
- Hình thức học tập của HS vẫn hay sử dụng là học thuộc lòng trong
vở ghi, các hình thức ôn tập mang tính tích cực ít được sử dụng, kỹ năng
xây dựng dàn ý tóm tắt bài học, kĩ năng xây dựng sơ đồ , lập bảng tóm tắt
của HS đa số ở mức yếu và hầu như chưa được hình thành.
- Sự nỗ lực của bản thân trong tự học chưa cao, khi gặp những khó
khăn trong học tập ( một bài tập khó, một vấn đề chưa hiểu ) hầu hết các
em bỏ qua, một số ít hỏi bạn hỏi thầy, còn một số nhỏ tự mình mày mò,
tiếp tục suy nghĩ, tìm tài liệu để giải quyết vấn đề.
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
15
- Môi trường tự học khác với HS phổ thông. Tự học của HS trường
PTDTNT được diễn ra trong môi trường học tập giáo dục tập trung, dưới
sự quản lý theo dõi, tổ chức điều khiển thống nhất ở những địa điểm nhất
định thường là trên giảng đường tại các lớp học.Việc tự học của mỗi HS tốt
hay không còn phụ thuộc ít nhiều vào việc tự học của các HS khác. Do vậy
việc tổ chức tự học cho HSDTNT phải có tổ chức hướng dẫn của giáo viên
và liên quan đến việc tổ chức, quản lý giờ tự học trong tập thể.
Như vậy với đặc điểm nhận thức, phương pháp học tập và những đặc
điểm về hoạt động tự học của HS trường PTDTNT như đã trình bày ở
trên, thì việc bồi dưỡng cho các em năng lực tự học nói chung và năng lực
tự học bộ môn sinh học nói riêng là vấn đề rất quan trọng, cần giúp cho
2.3.2 Cơ sở tâm, sinh lý học sư phạm
* Cơ sở tâm lí: Do đặc điểm tâm lí học lứa tuổi: ở HS PT (từ 15 - 18
tuổi), sự chú ý tập trung và độ bền cao hơn, khả năng ghi nhớ có tính khái
quát hơn, mang tính chọn lọc và có phê phán hơn HS cấp TH cơ sở. Phẩm
chất tư duy sáng tạo, khả năng tự điều chỉnh, tự đánh giá cũng bộc lộ rõ
hơn.
Về mức độ phát triển cần đạt được là học sinh làm chủ từng bước
các mối quan hệ xã hội của bản thân, phát triển nhân cách với tư cách là
chủ thể xã hội.[46]
Với những đặc điểm tâm lí trên rất thuận lợi cho việc dạy - tự học vì
dạy - tự học không phải là một phương pháp cụ thể nào đó mà nó bao gồm
nhiều tập hợp phương pháp. Hầu hết các phương pháp đều nhằm phát huy
tính tích cực học tập của HS và đều có đặc điểm chung là:
- Dạy học bằng việc tăng cường tổ chức các hoạt động cho HS.
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
- Tăng cường học tập cá nhân và hoạt động nhóm.
- Dạy HS tự đánh giá, tự điều chỉnh.
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
17
* Cơ sở sinh lý học
Mô hình dạy - tự học (hướng dẫn tự học) có cơ sở sinh học là: Học
thuyết về phản xạ có điều kiện chủ động của B.F.Skinner với hai thí
nghiệm nổi tiếng là: thí nghiệm dạy chim bồ câu tự tìm lấy thức ăn trong
các hạt có hình thù giống nhau nhưng mầu sắc khác nhau, và thí nghiệm
Dạy chuột đạp cần câu cơm[26].
Theo học thuyết này, bài học là vì lợi ích của chính người học; mục
đích học, nội dung học là do chính nhu cầu của người học. Chim bồ câu tự
tìm thấy thức ăn, chuột đạp từ cần câu cơm trong sơ đồ dạy học của
riêng, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
*Sử dụng phiếu phỏng vấn
Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn để khảo sát 13 giáo
viên
Sinh học đã và đang trực tiếp giảng dạy môn Sinh học, 300 em học sinh
ở trường PT Vùng Cao Việt Bắc và trường Dân tộc nội trú Điện Biên.
Chúng tôi đã thiết kế 3 phiếu khảo sát dành cho HS
Phiếu số 1: Khảo sát về những khó khăn thường gặp của HS trong
việc học tập sinh học(SH) ở trường PT dân tộc nội trú
Phiếu số 2: Khảo sát về việc tự học môn sinh học ở trường PT dân tộc nội
trú
Phiếu số 3: Khảo sát về cách thức thầy (cô) giáo bộ môn thường
hướng dẫn HS tự học trong trường PT dân tộc nội trú.
* Các phương pháp khác: Chúng tôi tiến hành dự giờ dạy, tham khảo bài
soạn của một số giáo viên dạy môn sinh học 10, tiến hành quan sát hoạt
động tự học của học sinh, gặp gỡ trao đổi với các giáo viên và học sinh về
vấn đề quan tâm.
2.4.2 Kết quả điều tra
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
19
Qua kết quả ở bảng [Phần phụ lục] kết quả điều tra có thể được tóm tắt như
sau:
*Về những khó khăn thường gặp của HS trong việc học tập sinh học ở
trường PT dân tộc nội trú
- HS trường PTDTNT thường gặp khó khăn khi phát biểu trước đám
đông vì ngại ngùng, thiếu tự tin, một số HS gặp khó khăn trong diễn đạt
bằng tiếng phổ thông (tiếng Việt) các kiến thức vốn đã hiểu (tức là tuy trong
óc thì hiểu mà lại khó khăn để nói, viết ra), Đặc biệt có 61% HS gặp khó
mà ghi nhớ kiến thức. Một số ít học kiến thức cơ bản của bài, chương và có
thực hiện đọc thêm tài liệu để mở rộng kiến thức có liên quan nhưng mức
độ còn ít. Có thể kết luận rằng xu hướng chung của HS về TH là để chuẩn
bị cho việc kiểm tra bài cũ của giáo viên để lấy điểm, một số để nắm vững
những kiến thức cơ bản chứ ít có nhu cầu mở rộng, hiểu sâu kiến thức.
- Về hoạt động của HS trong giờ lên lớp: Phần nhiều HS thụ động
nghe giảng, ít động não suy nghĩ, chỉ trả lời khi thầy yêu cầu và không
dám hỏi thầy khi có thắc mắc, ghi (chép lại ) theo nội dung đọc tóm tắt của
thầy, chỉ có một số nhỏ HS tích cực, chủ động trong quá trình học như sẵn
sàng trả lời câu hỏi của thầy nếu biết và thậm chí sẵn sàng hỏi lại thầy nếu
có thắc mắc.
- Về vấn đề thảo luận nhóm: Qua dự giờ và trao đổi với các em HS và
GV chúng tôi thấy: Khi giáo viên yêu cầu nghiên cứu SGK trao đổi nhóm
và thảo luận, một số nhỏ HS không làm gì chỉ nghe các bạn trong nhóm
làm và báo cáo, phần lớn các em có tham gia (để giáo viên không phê
bình) nhưng không nhiệt tình. Chỉ những HS học khá, hay phát biểu (
năng động) thì giữ vai trò chủ chốt trong giờ học khi GV sử dụng hình
thức trao đổi nhóm. Đa số các em biết bám sát yêu cầu của câu hỏi khi
thảo luận song khả năng diễn đạt ý kiến rõ ràng, ngắn gọn và khả năng
tranh luận đặc biệt là tranh luận để bảo vệ ý kiến của mình, của nhóm
mình còn hạn chế.
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
21
- Về ý thức môn học thì phần lớn các em chỉ coi học môn sinh học là
nhiệm vụ bắt buộc, không hứng thú, say mê môn học. Chỉ một phần nhỏ là
yêu thích và say mê nó.
* Về việc giáo viên bộ môn thường hướng dẫn HS tự học trong trường
PT dân tộc nội trú
+Tình hình hướng dẫn HS tự học qua giờ dạy:
- Trong một số tiết học giáo viên sử dụng phương pháp dạy học tích cực
thì giờ học đạt hiệu quả rất tốt, các em HS hào hứng sôi nổi chủ động tích
cực tham gia xây dựng bài giảng, trong các giờ học này vai trò của HS hầu
như được huy động tối đa( nghiên cứu SGK, tóm tắt kiến thức, trả lời câu
hỏi, tìm ví dụ minh họa, làm các bài tập sáng tạo, làm thí nghiệm và thậm
chí các em còn tự đặt câu hỏi cho GV, vận dụng các kiến thức vừa học để
giải thích các hiện tượng thực tế cũng như vận dụng trong đời sống của các
em). Xong số giờ đạt được như vậy không được nhiều chủ yếu là các giờ dự
thi giáo viên dạy giỏi, các giờ thao giảng và một số tiết học hàng ngày
nhưng chủ yếu với các lớp chọn hoặc các lớp học khá.
- Trong rất nhiều giờ dạy thì thấy rằng phần nhiều HS trong lớp còn
thụ động chủ yếu nghe cô giảng, HS khác phát biểu và ghi chép nội dung
kiến thức của bài, các em chỉ hiểu mang máng chưa nắm rõ bản chất. Đa
số GV vẫn lo không đủ thời gian cho giờ học ( lo cháy giáo án) vì vậy hoạt
động của giáo viên chiếm phần lớn thời lượng của tiết học ( Giảng bài, đặt
các câu hỏi và thậm chí phải tự trả lời câu hỏi), các em HS chủ yếu trả lời
những nội dung câu hỏi dễ, câu hỏi có đáp án sẵn trong SGK, có ít HS trả
lời được các câu hỏi mang tính phát hiện và nếu có thường phải mất nhiều
thời gian. Việc giải mã hình vẽ, sơ đồ, đồ thị chủ yếu do GV giải thích,
không có câu hỏi định hướng nghiên cứu cho HS.
- Việc hướng dẫn HS chuẩn bị bài ở nhà nhiều GV chưa thật quan tâm
mặc dù có thể nói rằng khâu này có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
23
hướng dẫn HS tự học có hiệu quả, nâng cao được tính chủ động, sáng tạo
trong quá trình học bài mới ở trên lớp. Hầu hết GV chỉ nhắc các em về học
bài cũ và chuẩn bị bài mới theo câu hỏi cuối SGK, chứ không hướng dẫn
sát cho thấy kĩ năng tự học như kĩ năng lập dàn ý, kỹ năng lập bảng tóm
tắt, kỹ năng phân tích hình vẽ, đồ thị, kĩ năng làm việc với SGK của HS đa
số còn yếu, cần được bồi dưỡng.
* Giáo viên đối với việc nâng cao năng lực tự học cho HS trường PT
DTNT: Giáo viên ở trường PT DTNT đã sử dụng một số biện pháp rèn
luyện kỹ năng tự học cho HS như: Hướng dẫn HS trả lời câu hỏi, Hướng
dẫn HS giải bài tập ... có một số giáo viên đã hướng dẫn HS biện pháp tự
học tích cực khác như: Hướng dẫn HS xây dựng đề cương, xây dựng sơ đồ
tóm tắt( GRAP), hướng dẫn HS phân tích đồ thị hình vẽ, tổ chức cho HS
thảo luận ...Tuy nhiên việc hướng dẫn chủ yếu là do giáo viên chuẩn bị sẵn
nội dung, giảng giải cho các em rồi yêu cầu HS làm lại.Việc phát huy tính
tích cực chưa thực sự được trú trọng .
*Việc tự học của HSDTNT hầu hết thời gian là tự học tập trung, do
vậy có sự ảnh hưởng rất lớn giữa các cá nhân cũng như chịu ảnh hưởng
của việc tổ chức quản lý giờ tự học của các giáo viên và của cả nhà trường.
2.4.3 Nguyên nhân của thực trạng nói trên.
Qua điều tra, phỏng vấn và tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng thực trạng
nói trên có thể do một số nguyên nhân sau :
* Về phía HS:
- Do các em đã quá quen với cách học từ cấp 2 theo lối bị động, chưa
có phương pháp tự học hiệu quả.
- Do có nhiều HS thiếu hụt về kiến thức, động vào đâu cũng thấy khó
thành ra chán nản với việc học và từ đó dẫn đến không quan tâm đến tự
học.
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
25
- Do đặc điểm tâm lý HSDT nhiều em còn tự ti, bảo thủ, hay bằng
lòng với những gì mình có, thiếu quyết tâm chưa kiên trì vượt khó, chưa