Tài liệu Luận văn tốt nghiệp: “Ngăn ngừa và xử lí nợ quá hạn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Hà Nội” - Pdf 83

Luận văn tốt nghiệp: “Ngăn ngừa và xử lí nợ
quá hạn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát
Triển Nông Thôn Hà Nội”

1
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một sản phẩm được hình thành và phát triển
cùng với sự phát triển của xã hội loài người, nhưng không giống với nhiều sản
phẩm khác, xét về bản chất các hành vi mà nó ứng xử, người ta coi NHTM như
là một sản phẩm xã hội một ngành công nghiệp dịch vụ với tính cộng đồng và
tính nhân văn rất cao, chằng chịt vô số các mối liên hệ v
ới đông đảo công
chúng, không chỉ trải rộng phạm vi toàn quốc gia mà còn lan tỏa trong phạm vi

quá trình làm chuyên đề. 3
CHƯƠNG I:
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NỢ QUÁ HẠN Ở
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I- Ngân hàng thương mại
Theo luật các tổ chức tín dụng “ Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức
kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền của
khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực
hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Như vậy NHTM là một trung gian tài chính quan trọng đứng giữa người đi vay
và người cho vay, thông qua đó kiếm lợi nhuậ
n cho mình. Điều đó được thể
hiện thông qua một số hoạt động cơ bản của ngân hàng:
- Huy động vốn: đây được coi là hoạt động đầu vào cho việc kinh doanh của
các NHTM. Nó đóng vai trò rất quan trọng đối với tất cả lĩnh vực trong nền
kinh tế thông qua việc cung cấp các điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiền nhàn
rỗi của dân cư vào tổ ch
ức kinh tế. Theo luật các tổ chức tín dụng, hoạt động
huy động vốn bao gồm việc nhận tiền gửi, phát hành các giấy tờ có giá, vay vốn
giữa các tổ chức tín dụng và vay vốn của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) dưới

doanh ngoại hối và vàng, nghịêp vụ uỷ thác và đại lý, tư vấn cùng các dịch vụ
khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật. 5
II- Tín dụng ngân hàng
1- Khái niệm: Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin
tưởng số vốn đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai. Có
thể định nghĩa một cách đầy đủ như sau: tín dụng là quan hệ chuyển nhượng
tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu
sang người sử dụng để sau một thờ
i gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị
lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
2- Vai trò của tín dụng ngân hàng:

- Thoả mãn nhu cầu của khách hàng thiếu vốn trên thị trường:
Trong nền kinh tế thị trường, vốn tự có của hầu hết các doanh nghiệp cũng như
nguồn vốn của các tổ chức xã hội, dân cư đều nhỏ hơn so với nhu cầu sử dụng
vốn. Do đó tín dụng ngân hàng trở thành một kênh cung cấp vốn tin cậy cho
các nhu cầu đó. Ngân hàng thực hiện nhiệm vụ
cho vay đối với mọi thành phần
kinh tế, trong một số trường hợp còn thực hiện cho vay đối với ngân sách nhà
nước thông qua việc mua trái phiếu, cổ phiếu
- Thúc đẩy và kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Việc thoả mãn một phần hay toàn bộ nhu cầu vốn của doanh nghiệp đã tạo điều
kiện giúp cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công ngh
ệ, đầu
tư xây dựng cơ bản…. từ đó góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh
phát triển. Đồng thời việc đưa ra quyết định cho vay cũng đồng nghĩa với việc
ngân hàng tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của

n vay đúng thời hạn đã thoả thuận:
Thực hiện vai trò trung gian của mình, ngân hàng vừa là người đi vay vừa là
người cho vay. Với tư cách là người đi vay, ở quan hệ này ngân hàng thực hiện
các hành vi giao dịch cho chính bản thân mình. Bởi vậy ngân hàng có trách
nhiệm trả tiền cho người gửi cả gốc và lãi. Với tư cách là người cho vay, ngân
hàng có quyền quyết định cho người khác vay và yêu cầu người đi vay trả cả
gốc lẫ
n lãi đúng thời hạn.
III- Nợ quá hạn
1- Khái niệm:
Hoạt động tín dụng luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của NHTM và
đem lại phẩn lớn thu nhập cho các NHTM. Do vậy một trong những phương
hướng hoạt động cơ bản của ngành ngân hàng trong giai đoạn hiện nay là nâng
cao chất lượng tín dụng, giảm tỷ lệ nợ quá hạn xuống thấp.Trong quan hệ tín
dụng việc phát sinh nợ quá hạn là điều không thể tránh khỏi. Nh
ưng nợ quá hạn

7
phát sinh vượt quá tỷ lệ cho phép sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán
của NHTM. Vậy thế nào là nợ quá hạn?
“Khi hết hạn trả nợ hoặc hết hạn cho vay, nếu khách hàng không có khả
năng trả nợ thì số nợ đến hạn phải chuyển sang nợ quá hạn và khách hàng
phải chịu lãi suất nợ quá hạn đối với số tiền trả chậm”.

Tổng số tiền quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn (%) = -------------------------- x 100
Tổng dư nợ

Công thức này phản ánh, nếu tỉ lệ NQH của ngân hàng ở mức cao thì chứng tỏ
hoạt động kinh doanh của ngân hàng chưa được hiệu quả,chất lượng tín dụng

- Nợ quá hạn của các khoản vay trung và dài hạ
n
*Căn cứ theo nguyên nhân phát sinh:
- Nợ quá hạn do nguyên nhân chủ quan
- Nợ quá hạn do nguyên nhân khách quan
3- Nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn(NQH):
a) Nguyên nhân khách quan:
- Nguyên nhân bao trùm là sự biến động về kinh tế: Việt Nam mới chuyển từ
nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, tuy có học hỏi được nhiều kinh
nghiệm của các nước đi trước song không thể tránh được hết những sai lầm của
các bước đi ban đầu. Hoạt độ
ng trong cơ chế thị trường, đặc biệt là trong giai
đoạn chuyển đổi này chứa đựng nhiều rủi ro tất yếu không tránh khỏi có những
doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, phá sản dẫn đến tình trạng NQH đối với ngân
hàng.
- Quy định phát triển của nền kinh tế mang tính chu kỳ: Lúc thịnh vượng kinh
tế phát triển mạnh, doanh nghiệp sẵn sàng có khả năng chi trả. Lúc suy thoái
thậm chí không trả được nợ quá h
ạn, gây ra tình trạng nợ quá hạn
- Sự điều khiển của bàn tay vô hình: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì
quy luật cạnh tranh diễn ra hết sức quyết liệt cộng với những thay đổi thường
xuyên về nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng làm cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp diễn ra hết sức khó khăn, có thể dẫn đến sự đình đốn,

9
phá sản của doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh
nghiệp.
- Môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, cơ chế chính sách thường xuyên thay
đổi, hệ thống pháp luật không đồng bộ: Đây là vấn đề tất yếu của một đất nước
đang trong quá trình kiến thiết và phát triển. Tuy nhiên điều này đôi khi cũng

10
thậm chí còn sử dụng cho những mục đích trái pháp luật. Hơn nữa, một số
khách hàng cố tình chây ì không thực hiện những cam kết trong hợp đồng tín
dụng. Do vậy đã phát sinh nợ quá hạn.
- Đối tác của khách hàng không trả được nợ: trong nền kinh tế thị trường, các
doanh nghiệp muốn phát triển được phải không ngừng mở rộng bạn hàng.
*Từ phía ngân hàng:
- Trình độ nghiệp vụ của cán bộ
tín dụng còn hạn chế: khi thẩm định dự án cho
vay vốn, cán bộ tín dụng yếu về nghiệp vụ, khả năng phân tích các báo cáo tài
chính kém kết hợp với việc thiếu thông tin về khách hàng nên chưa đánh giá
được đầy đủ về tính khả quan của dự án
- Việc chấp hành các nguyên tắc, thể lệ tín dụng quy trình xét duyệt chưa
nghiêm túc. Các cán bộ tín dụng không xem xét kĩ hồ sơ và điều tra kĩ về khách
hàng cũ
ng như việc đánh giá sai lệch về giá trị tài sản thế chấp đã làm cho nguy
cơ nợ quá hạn của ngân hàng tăng cao.
- Kiểm tra, giám sát vốn vay chưa chặt chẽ: Theo quy định tại khoản 1QĐ1627
thì tổ chức tín dụng có trách nhiệm giám sát quá trình vay vốn và trả nợ của
khách hàng. Trách nhiệm này thường gắn với cán bộ tín dụng trực tiếp thẩm
định việc cho vay.
- Định kỳ trả nợ chư
a thích hợp với vòng luân chuyển vốn: kỳ hạn trả nợ được
hiểu là một khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã được thoả thuận giữa tổ
chức tín dụng và khách hàng mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó khách hàng
phải trả một phần hoặc toàn bộ tiền vay cho tổ chức tín dụng. Do vậy, kỳ hạn
trả nợ phải được phải xác định d
ựa trên chu kỳ sản xuất, kế hoạch bán hàng và
doanh thu.
- Tư tưởng chạy theo thành tích, tăng dư nợ một cách không căn cứ vượt lên

u quả sử dụng vốn: NQH phát sinh đồng nghĩa với việc một phần
vốn kinh doanh của ngân hàng bị tồn đọng trong các khoản nợ này. Việc tồn
đọng này làm cho ngân hàng mất đi cơ hội làm ăn khác mà có thể đem lại lợi
nhuận cho ngân hàng. Nó làm giảm vòng quay vốn của ngân hàng. Nói cách
khác NQH phát sinh đã làm giảm doanh số cho vay của ngân hàng từ đó làm
giảm hiệu quả sử dụng vốn.
- Giảm lợ
i nhuận: thu nhập của ngân hàng chủ yếu phát sinh từ hoạt động cho
vay của ngân hàng. Đồng thời nguồn vốn của ngân hàng cũng chủ yếu từ nguồn
huy động phải trả chi phí huy động vốn. Do vậy, khoản vay không thu được

12
dẫn đến một bộ phận tài sản của ngân hàng bị đóng băng làm giảm thu nhập mà
vẫn phải trả chi phí huy động vốn. Kết quả là làm lợi nhuận của doanh nghiệp
giảm.
- Giảm khả năng thanh toán: các khoản NQH phát sinh làm thay đổi kế hoạch
cũng như nguồn thanh toán các khoản tiền đến hạn. Hơn nữa, tỷ lệ Nợ quá hạn/
Tổng dư n
ợ cao sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng.
Nếu khách hàng nắm bắt được dấu hiệu này sẽ ồ ạt đến rút tiền và ngân hàng
gặp khó khăn trong huy động vốn càng làm trầm trọng thêm tình trạng này.
- Giảm uy tín của ngân hàng: do hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng tiền của
người khác nên khi tỷ lệ NQH của ngân hàng cao tức là chất lượng tín dụng của
ngân hàng càng thấp có ảnh h
ưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng, sẽ
làm cho khách hàng không còn tin tưởng vào hiệu quả hoạt động kinh doanh
của ngân hàng dẫn đến việc làm giảm đáng kể các quan hệ giao dịch của ngân
hàng
- Nguy cơ phá sản: đây là ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của NQH đối với hoạt
động ngân hàng. Nếu NQH ở mức cao không sớm được hạn chế sẽ dẫn tới hàng

y các doanh nghiệp thường cố
gắng tìm cách trì hoãn nộp các báo cáo tài chính
- Quan hệ với ngân hàng giảm: khách hàng có thái độ trì hoãn, lưỡng lự khi
đưa cán bộ tín dụng xuống thăm cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Gia tăng bất thường hàng hóa tồn kho, khoản nợ thương mại, khoản nợ
phải thu: điều này nói lên hàng hoá của doanh nghiệp sản xuất ra tiêu thụ chậm
và phải cho nợ nhiều. Tình trạng này thường xuất hi
ện khi hàng hoá của doanh
nghiệp bị giảm sút về chất lượng hoặc không phù hợp với thị hiếu người tiêu
dùng gây ứ đọng hàng hoá làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
- Hoãn trả lãi vay ngân hàng chậm hơn thoả thuận đã quy định: Điều nói lên
khả năng thanh toán giảm hoặc có sự chây ỳ của doanh nghiệp đối với việc
thanh toán cho các ngân hàng.
- Thiên tai đị
ch hoạ xảy ra ở mức độ nghiêm trọng: cũng là một dấu hiệu cho
thấy khách hàng sẽ bị ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình đòi hỏi có thời gian để phục hồi, thậm chí không phục hồi được nếu
không có sự giúp đỡ của nhà nước.

14
6 - Các biện pháp phòng ngừa phát sinh Nợ quá hạn:

Các ngân hàng thương mại hiện nay rất quan tâm đến các biện pháp phòng
ngừa có thể áp dụng để hạn chế những thiệt hại trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình:
*Đối với các khoản cho vay mới cần:
- Nghiên cứu khách hàng:
Tìm hiểu nắm bắt khách hàng là một trong những yếu tố tạo nên thành công của
ngân hàng. Vì vậy trước khi thiết lập quan hệ tín dụng, ngân hàng phải nghiên

tư vấn cho doanh nghiệp hướng giải quyết, từng bước củng cố thu nhập tạo
nguồn thu trả ngân hàng. Ngoài ra ngân hàng có thể giúp khách hàng phân tích
tài chính và dự đoán xu hướng phát triển, thậm chí mời chuyên gia để cho lời
khuyên tư vấn
- Khuyến khích người vay hợp nhấ
t với người khá:
Để tăng năng lực tài chính giúp cho việc phục hồi sản xuất kinh doanh. Tuy
nhiên điều này chỉ được đề nghị sau khi nghiên cứu và định giá cẩn thận tốt các
yếu tố có ảnh hưởng.
- Yêu cầu giảm bớt kế hoạch mở rộng:
Nếu khách hàng đang có kế hoạch mở rộng thì ngân hàng nên khuyến khích
người vay loại bỏ ý định đó cho đến khi cả
i thiện tình hình tài chính do những
kế hoạch có thể chiếm vốn từ hoạt đồng sản xuất kinh doanh.
- Khuyến khích thu hồi các khoản phải thu chậm trả :
Điều này có thể thực hiện bằng việc thúc đẩy một sự gia tăng trong chương
trình thu ngân hoặc thêm nhân sự chuyên về lĩnh vực này. Nó cũng có thể bao
gồm một sự kiểm tra chính sách tín dụng của doanh nghiệp.
- Nhận thêm vật th
ế chấp:
Mặc dù người vay có thể nghi ngờ về biện pháp này nhưng nó có thể có lợi ích
cho cả 2 bên. Ngân hàng ít muốn đòi nợ và quả thực có thể ở vào vị trí tốt hơn
để xếp loại khoản vay dễ trả nợ hơn. Dĩ nhiên nó cũng sẽ có lợi cho ngân hàng
vì tình hình tài chính của nó sẽ được tăng lên.
- Cơ cấu lại khoản nợ: Ngân hàng có thể cơ cấu lại kho
ản cho vay bằng việc
kéo dài kỳ hạn và rút bớt mức chi trả hàng tháng hay thậm chí huỷ bỏ sự trả
vốn gốc trong một thời gian. Ngân hàng cũng có thể giới thiệu một người cho
vay dài hạn hơn hay cộng tác với một người cho vay khác và như vậy giảm bớt
rủi ro.

thì phần lãi càng khó có khả năng thanh toán cho ngân hàng. Vì vậy chế tài
chuyển nợ quá hạn với lãi suất cao càng làm khó khăn thêm cho khách hàng.
Trong trường hợp này, ngân hàng phải tiến hành điều tra, xác minh xem nguyên
nhân chính do đâu và thái độ của ngườ
i vay như thế nào? Nếu do các nguyên

17
nhân: thua lỗ do giá cả thị trường biến động mạnh ngoài dự kiến, sản lượng và
doanh thu đạt thấp, thiên tai địch hoạ….thì món vay cần phải xem xét ra hạn.
- Điều chỉnh kỳ hạn nợ: Đối với các khoản vay mà ngân hàng định kì trả nợ
không đúng chu kỳ kinh doanh, cho vay ngắn hạn các đối tượng trung và dài
hạn thì ngân hàng nên xem xét điều chỉnh kỳ hạn nợ cho phù hợp để tạo đi
ều
kiện cho khách hàng có thể trả nợ đúng hạn.
- Cấp phát thêm vốn để “nuôi nợ”: trong những giai đoạn khó khăn, một số
khách hàng không những không trả được nợ đáo hạn, xin gia hạn nợ mà còn có
nhu cầu vay thêm vốn để giải quyết khó khăn tài chính tạm thời như: sản phẩm
chưa tiêu thụ được nhưng vẫn phải tiếp tục mua vật tư, trả l
ương công nhân để
duy trì sản xuất bình thường, khắc phục sự cố kĩ thuật…. Trong những trường
hợp như vậy các ngân hàng thương mại cần phân tích, cân nhắc thận trọng để
tíêp thêm “sinh khí” cho khách hàng.
- Ngân hàng cần nắm giữ phần chủ động, thậm chí điều hành hoạt động kinh
doanh đến khi đảm bảo rằng khoản vay sẽ được chi trả: Điều này được thực
hiệ
n khi giám đốc đương nhiệm không có khả năng, có bằng chứng về tính gian
dối, và phương pháp này có vẻ là giải pháp hợp lý cho một tình huống xấu.
- Chuyển tín dụng ngân hàng thành vốn cổ phần của doanh nghiệp: Đây là biện
pháp : Với uy tín, kinh nghiệm của mình sự góp mặt của ngân hàng với tư cách
là cổ đông của doanh nghiệp sẽ thúc đẩy hoạt động của doanh nghiệp.

ợ không thoả thuận được với
nhau thì lại cần đến sự phán xử của người khác. CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG NỢ QUÁ HẠN TẠI NGÂN HÀNG
NÔNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
I)Giới thiệu về NHNo &PTNTTP Hà Nội:
1.Sự hình thành và phát triển:

Tháng 3/1998,hệ thống ngân hàng Việt Nam có sự chuyển đổi từ hệ thống ngân
hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp, Ngân hàng nông nghiệp thành

19
phố Hà Nội (NHNoHN) được thành lập trên cơ sở tách chuyển từ NHNN tại
thành phố Hà Nội và 12 huyện ngoại thành, ra đời sau nghị định 53/HĐBT ban
hành ngày 26/3/1988 và hai pháp lệnh 1990/NHNN có hiệu lực. Đây là một
ngân hàng thương mại quốc doanh, là ngân hàng thành viên và hạch toán phụ
thuộc của NHNoVN hoạt động trên địa bàn Hà Nội.
Tháng 9/1991,quốc hội khoá IX đã phân định lại địa giới hành chính các tỉnh-
thành phố,huyện ngoại thành của thủ
đô Hà Nội được tách chuyển về các tỉnh
khác nên qui mô và phạm vi hoạt động của NHNoHN bị thu hẹp. Đứng trước
tình hình đó kết hợp với định hướng mở rộng mạng lưới kinh doanh,NHNNo đã
chuyển hướng kinh doanh tập trung khai thác địa bàn nội thành Hà Nội bằng
cách thành lập thêm 8 ngân hàng quận nội thành nhằm khai thác hết nguồn vốn
còn đang nhàn rỗi trong dân cư, cho vay, cung cấp cac dịch vụ phát triển kinh tế
thủ
đô đồng thời làm nhiệm vụ của ngân hàng phục vụ người nghèo trên địa

đốc và gồm các phòng ban sau:

Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lí Phòng

Hành

chính

Phòng

Kế

toán
kiểm
soát

Phòng

Than
h tra
quốc
tế

Phòng

Ngân

quỹ Các

Chi
nhánh
cấp
hai
PHÓ GIÁM ĐỐC I PHÓ GIÁM ĐỐC II
GIÁM ĐỐC

21
2. 2 Chức năng , nhiệm vụ của các phòng ban
Banh lãnh đạo: gồm 1 Giám đốc và 2 Phó giám đốc. Giám đốc là người
trực tiếp điều hành mọi hoạt động của Ngân hàng, chịu trách nhiệm trước

22
- Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng, phân loại khách hàng và đề
xuất các chính sách ưu đãi tín dụng đối với khách hàng.
- Thẩm định và cho vay theo cấp uỷ quyền nhằm mở rộng hoạt động, đảm
bảo an toàn và hiệu quả.
- Tiếp nhận và thực hiện các chương trình, dự án thuộc nguồn vốn trong và
ngoài nước, trực tiếp làm dịch vụ uỷ thác nguồn vốn thuộc Chính Phủ, bộ,
ngành và các cá nhân, tổ
chức kinh tế trong và ngoài nước.
- Tổng hợp, báo cáo định kỳ và thường xuyên theo dõi, tư vấn cho Giám đốc
về những lĩnh vực do phòng phụ trách.
Phòng thanh toán quốc tế:
- Thực hiện công tác thanh toán ngoài nước của chi nhánh, nghiên cứu xây
dựng và áp dụng các kỹ thuật thanh toán hiện đại.
- Phòng chuyên thực hiện những nghiệp vụ: thanh toán xuất nhập khẩu, mở
L/C, chuyển tiền nước ngoài cho các cá nhân và các Doanh nghiệp, thanh
toán nhờ thu, thanh toán biên mậu với các nướ
c có chung biên giới, thanh
toán quốc tế thông qua mạng SWIFT và cho vay tài trợ xuất nhập khẩu…
- Tạo điều kiện cho việc thanh toán nhanh nhất, chính xác kịp thời đáp ứng
nhu cầu của khách hàng.
- áp dụng công nghệ thanh toán hiện đại
Phòng kế toán có nhiệm vụ:
- Ghi chép thống kê các giao dịch, hạch toán kế toán, thanh toán.
- Lập các báo cáo, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch tài chính, quyết toán kế
hoạch thu, chi tài chính.

23
- Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ tài liệu về hạch toán, kế toán, quyết toán và các
báo cáo theo quy định.

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc chi nhánh giao.
Phòng hành chính: nằm trong bộ máy giúp việc cho Giám đốc và phụ
c vụ
cho các phòng nghiệp vụ trong quá trình hoạt động kinh doanh, chịu sự lãnh
đạo trực tiếp của Giám đốc NHN
0
&PTNT Hà Nội. Phòng được hình thành
ngay từ khi NHN
0
&PTNT Hà Nội đi vào hoạt động và đã có những đóng
góp quan trọng trong việc trợ giúp ban lãnh đạo ra các quyết định đúng đắn
kịp thời phục vụ cho hoạt động kinh doanh.
- Xây dựng chương trình công tác bán hàng, hàng quý và đôn đocó các
phòng ban thực hiện theo chương trình đã được giám đốc phê duyệt.
- Lưu trữ các văn bản pháp luật có liên quan đến ngân hàng và văn bản định
chế của Ngân hàng Nông nghiệp.
- Trực tiếp quả
n lý con dấu của chi nhánh. Thực hiện công tác văn thư,
phương tiện giao thông, bảo vệ, xây dựng cơ bản, mua sắm văn phòng
phẩm…
- Thực hiện công tác thông tin tuyên truyền, quảng cáo tiếp thị theo chỉ thị
của Ban lãnh đạo.
- Chăm lo đời sống vật chất, văn hoá tinh thần cho cán bộ công nhân viên
trong ngân hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status