BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG I HC LM NGHIP
========
MAI VN CHUYấN
Nghiên cứu hiện trạng, LàM C S XUT
giảI pháp bảo tồn Các LOài THUC NGàNH hạt
trần (GYMNOSPERMAE) Tại khu bảo tồn thiên
nhiên xuân liên, tØnh Thanh Ho¸”
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI - 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG I HC LM NGHIP
========
MAI VN CHUYấN
Nghiên cứu hiện trạng, LàM C S XUT
giảI pháp bảo tồn Các LOài THUC NGàNH hạt
trần (GYMNOSPERMAE) Tại khu bảo tồn thiên
Hayata), Dẻ tùng sọc trắng
(Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg.), Thông nàng (Dacrycarpus imbricartus
(Blume) de Laub)...., Các lồi cây này khơng chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà
cịn có giá trị kinh tế rất cao, các loại gỗ như Pơ mu, Sa mu dầu, ... gỗ bền, ít mối
mọt, có hoa vân và màu sắc rất đẹp nên rất được ưa dùng để làm các đồ thủ công
mỹ nghệ, làm các vật dụng trong gia đình, làm nhà.
Do gỗ tốt, có giá trị kinh tế, thẩm mỹ cao nên chúng đang là đối tượng bị chú
trọng khai thác. Theo kết quả điều tra đánh giá đa dạng sinh học, nhu cầu bảo tồn từ
năm 2000- 2009 của một số nhà khoa học và một số chương trình nghiên cứu của
Khu BTTN Xuân Liên, thì số lượng cá thể của các lồi khơng nhiều, chỉ có quần
thể Pơ mu (Fokienia hodginssi (Dunn) A. Henry & Thomas), Sa mộc dầu
(Cunninghamia konishii Hayata) là lồi có số lượng lớn hơn cả, với đường kính từ
1- 1,5 m, chúng tập trung phân bố từ độ cao 900 - 1500 m trên các sườn dông và
đỉnh núi [2], một số cá thể đã và đang bị chết tự nhiên còn một số cá thể khác vẫn
đang là đối tượng khai thác của người dân. Hơn nữa, dưới tán rừng ít gặp các cá thể
cây con của các loài tái sinh tự nhiên, đặc biệt là lồi cây Sa mộc dầu
(Cunninghamia konishii Hayata). Vì vậy việc nghiên cứu, đánh giá đầy đủ các loài
2
thuộc ngành hạt trần là vấn đề hết sức bức thiết, có ý nghĩa rất lớn trong việc phát
triển nguồn gen thực vật quý hiếm ở nước ta cũng như góp phần vào việc bảo tồn
tính đa dạng thực vật ở khu BTTN Xuân Liên.
Mặt khác, sau khi khu BTTN Xuân Liên được thành lập và đi vào hoạt
động, mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng tập thể, cán bộ khu bảo tồn mới chỉ dừng
lại ở công tác bảo vệ nguyên vẹn, hạn chế sự thất thoát tài nguyên ra khỏi khu bảo
tồn. Cho nên tài nguyên rừng và giá trị của các loài thực vật Hạt trần vẫn đang bị
thực vâ ̣t bâ ̣c cao, trong đó thực vâ ̣t ha ̣t trầ n chỉ chiế m có trên 600 loài, mô ̣t
con số đáng khiêm tố n [16], [37].
Cây hạt trần là những loài cây có nguồn gốc cổ xưa nhất, khoảng trên
300 triệu năm. Các vùng rừng cây hạt trần tự nhiên nổi tiếng thường được
nhắc tới ở Châu Âu với các loài Vân sam (Picea), Thơng (Pinus); Bắc Mỹ với
các lồi Thơng (Pinus), Cù tùng (Sequoia, Sequoiadendron) và Thiết sam
(Pseudotsuga); Đông Á như Trung Quốc và Nhật Bản với các loài Tùng bách
(Cupressus, Juniperus) và Liễu sam (Cryptomeria). Các loài cây hạt trần đã
đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế của một số nước như Thụy
Điển, Na Uy, Phần Lan, New Zealand... Lịch sử lâu dài của Trung Quốc cũng
đã ghi lại nguồn gốc các cây hạt trần cổ thụ hiện còn tồn tại đến ngày nay mà
có thể dựa vào nó để đoán tuổi của chúng. Chẳ ng hạn trên núi Thái Sơn (Sơn
Đông) có cây Tùng ngũ đại phu do Tần Thủy Hoàng phong tặng tên; cây
Bách Hán tướng quân ở thư viện Tùng Dương (Hà Nam), cây Bạch quả đời
Hán trên núi Thanh Thành (Tứ Xuyên); cây Bách nước liêu (còn gọi là Liêu
bách) trong công viên Trung Sơn (Bắc Kinh)... Đồng thời, nhiều nơi khác trên
thế giới cũng có một số cây cổ thụ nổi tiếng như cây Cù tùng (Sequoia) có tên
‘cụ già thế giới” ở California (Mỹ) đã trên 3000 năm tuổi, cây Tuyết tùng
(Cedrus deodata) trên đảo Ryukyu (Nhật Bản) qua máy đo đã 7200 năm tuổi.
Tại Li băng hiện còn một đám rừng gồm 400 cây Bách libăng (Cedrus) nổi
tiếng từ thời tiền sử, trong đó có 13 cây cổ địa có hàng nghìn năm tuổi [37].
4
Cây hạt trần là một trong những nhóm cây quan trọng nhất trên thế giới.
Các khu rừng cây Hạt trần rộng lớn của Bắc bán cầu là nơi lọc khí Cacbon, giúp
làm điều hòa khí hậu thế giới. Rất nhiều dãy núi trên thế giới gồm rừng các loài
cây hạt trần chiếm ưu thế đóng một vai trị quyết định đối với việc điều hòa nước
cho các hệ thống sông ngịi chính. Những trận lụt lội khủng khiếp gần đây ở các
sản phẩm khác, phá rừng làm bãi chăn thả gia súc, trồng trọt và làm nơi sinh sống
cho con người cùng với sự gia tăng tần suất của các đám cháy rừng. Tầm quan
trọng đối với thế giới của cây Hạt trần làm cho việc bảo tồn chúng trở nên có ý
nghĩa đặc biệt. Sự phức tạp trong các yếu tố đe doạ gặp phải địi hỏi cần có một loạt
các chiến lược được thực hành để bảo tồn và sử dụng bền vững các loài cây này.
Bảo tồn tại chỗ thông qua các cơ chế như hình thành các Vườn quốc gia và khu bảo
tồn thiên nhiên là một giải pháp tốt, có hiệu quả đối với những khu vực lớn cịn
rừng ngun sinh. Cơng tác bảo tồn địi hỏi sự cộng tác của mọi người từ các ngành
nghề và tổ chức khác nhau. Những nguời làm công tác này đều phụ thuộc vào việc
định danh chính xác loài cây mục tiêu hay các sinh vật khác có liên quan và vào các
thông tin cập nhật ở các mức độ địa phương, khu vực, quốc gia và quốc tế.
1.2. Tin
̀ h hin
̀ h nghiên cứu ta ̣i Việt Nam
Số lượng các loài cây hạt trần bản địa của nước ta ước tính khoảng 30 loài và
khoảng trên 20 lồi được nhập vào nước ta để trồng thử nghiệm, trồng rừng diện
rộng hoặc làm cây cảnh [37]. Mặc dù chỉ dưới 5% số loài cây hạt trần đã biết trên
thế giới được tìm thấy ở Việt Nam nhưng cây Hạt trần Việt Nam lại chiếm đến
27% số các chi và 5 trong số 8 họ đã biết. Tất cả các loài cây Hạt trần ở Việt Nam
đều có ý nghĩa lớn. Hai chi đơn loài Bách vàng (Xanthocyparis) và Thuỷ tùng
(Glyptostrobus) cũng là các chi đặc hữu của Việt Nam. Chi Bách vàng mới chỉ
được phát hiện vào năm 1999 trong khi chi Thuỷ tùng chỉ còn ở 2 quần thể nhỏ với
tổng số cây ít hơn 250 cây thuộc tỉnh Đắc Lắc. Loài này là đại diện cuối cùng cho
một dòng giống các loài cây cổ. Hoá thạch của những cây này đã được tìm thấy ở
6
những nơi cách rất xa như ở nước Anh. Năm 2001 một quần thể nhỏ gồm hơn 100
cây của chi đơn loài Bách tán đài loan (Taiwania cryptomerioides) được tìm thấy ở
Thơng ở Việt Nam là ví dụ cho cả hai hình thức này. Loài Thông lá dẹt (Pinus
krempfii) được coi là một loài cây cổ tàn dư cịn lại mà khơng có loài nào có quan
hệ gần gũi cịn sống sót, trong khi đó Thông ba lá (P. kesiya) là loài mới tiế n hóa
gầ n đây. Trong những điều kiện môi trường khắc nghiệt với tầng đất mỏng, nước
thoát nhanh và các thời kỳ mùa khô tương đối dài đòi hỏi các cây Hạt trần có khả
năng cạnh tranh được với các loài cây Hạt kín và hình thành thảm thực vật ưu thế.
Khí hậu của vùng này thường là khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đơng lạnh và
mùa hè nóng. Nhiều loài chỉ gặp ở vùng này như Bách vàng (Xanthocyparis
vietnamensis), Thiết sam giả (Pseudotsuga sinensis), Hoàng đàn (Cupressus
funebris) và Dẻ tùng sọc nâu (Amentotaxus hatuyensis). Các cây hạt trần khác như
Thơng pà cị (Pinus kwangtungensis), Thơng đỏ trung quốc (Taxus chinensis) và
Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia) còn thấy ở những đỉnh núi riêng biệt
khác nằm xa khu vực núi đá vơi chính của Đơng Bắc (ví dụ như ở Mộc Châu).
Những cây thuộc họ Thông (Pinaceae), thường là những loài cây có phân bố
chính ở Trung Quốc, được gặp nhiều nhất ở vùng Đông Bắc Việt Nam cho dù các
loài Dẻ tùng vân nam (Amentotaxus yunnanensis) và Thông tre lá ngắn
(Podocarpus pilgeri) có thể là phổ biến ở một số địa phương, nhìn chung quần thể
của tất cả các loài luôn rất nhỏ. Kế t quả nghiên cứu cho thấ y các loài thông Viê ̣t
Nam phân bố ở 4 vùng chính sau (hình 1.1)
8
Hình 1.1: Các vùng phân bố
2
1
chính của Thơng ở Việt Nam.
1: Đơng Bắc
sam Keteleeria), có thể tạo ra cảm tưởng rằng loài ít bị đe doạ hơn so với thực tế
vì việc khai thác quá mức và nạn phá rừng là những vấn đề của tất cả các nước ở
Đơng Nam Á, hiện tại trong vịng 5 năm qua mới chỉ tìm thấy được 1 cây cịn lại
trong tự nhiên. Các cây khác đều đã bị chặt lấy gỗ và bị đào rễ làm hương. Thuỷ
tùng (Glyptostrobus pensilis) là loài chỉ được biết ở hai khu bảo tồn nhỏ của tỉnh
Đắc Lắc. Phần lớn những cây còn lại (số này ít hơn 250 cây) đều đã bị ảnh
hưởng của lửa rừng. Hầu như toàn bộ sinh cảnh của loài trên đầm lầy đã bị
chuyển thành vườn cà phê và khơng thấy có cây tái sinh, hai loài này đang nằm
đứng trước sự tuyệt chủng. Tình trạng của một loạt các loài khác (như Bách tán
đài loan Taiwania cryptomerioides và Bách vàng Xanthocyparis vietnamensis)
có thể sẽ trở nên ở mức tương tự nếu khơng có những hành động bảo tồn toàn
diện được tiến hành. Trong vòng 15 năm qua có nhiều Vườn quốc gia và khu
bảo tồn đã được thiết lập ở Việt Nam. Một số nơi này có các quần thể cây hạt
trần bị đe doạ. Bên ngoài các khu vực này các qui định pháp luật được ban hành
nhằm ngăn chặn việc khai thác trái phép. Mặc dù vậy, việc khai thác tại địa
phương, cả hợp pháp và trái phép vẫn còn là vấn đề nan giải. Các loài có giá trị
kinh tế cao hay có cơng dụng đặc biệt thường là những loài có nguy cơ lớn. Vì
vậy, bảo tồn tại chỗ cần được bổ sung bởi bảo tồn chuyển vị và các chương trình
lâm sinh chung. Những chương trình này cần gồm cả kế hoạch về giáo dục cũng
như thu hái và bảo quản hạt giống, trồng phục hồi và làm giàu rừng trong và
xung quanh các khu bảo tồn. Các loài cây dẫn nhập có thể có vai trị trong việc
hỗ trợ cho bảo tồn tại chỗ. Như vậy đã có 2 loài cây hạt trần đang trên bờ vực
10
tuyệt chủng và việc ngăn chặn những loài cây khác tiếp tục nhập vào danh sách
này là mối quan tâm của tất cả mọi người.
Việc nghiên cứu hiện trạng các loài hạt trần ở Việt Nam trong các năm
qua đã được nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức trong nước và quốc tế quan
trưởng khá tốt [33]. Lê Đình Khả, Đồn Thị Bích cũng đã nghiên cứu nhân
giống từ hom loài Bách xanh (Calocedrus macrolepis) tại Ba Vì cho thấy hom
thu hái từ cây càng trẻ thì tỷ lệ ra rễ cao hơn cây già, chất điều hịa sinh trưởng
thích hợp nhất là IBA nồng độ 1,0%, thời gian ra rễ kéo dài 4 tháng [23].
Loài Phỉ ba mũi (Cephalotaxus manii) đã được tiến hành nghiên cứu nhân
giống bằng hom tại Vườn Quốc gia Ba Vì cho thấy có thể nhân giống bằng hom
(tỷ lệ ra rễ cao nhất đối với 1 công thức đạt tới 90,9%), đối với loài này với thời
gian ra rễ của hom giâm kéo rất dài (trên 5 tháng) và mức độ thành công (tỷ lệ ra
rễ của hom) phụ thuộc rất lớn vào vị trí lấy hom, tuổi cây mẹ lấy hom, loại chất
điều hòa sinh trưởng và nồng độ khi xử lý hom, đặc biệt tỷ lệ ra rễ cao hơn khi
hom được thu hái từ cây mẹ cịn trẻ và hom từ chồi thân có khả năng ra rễ tốt
nhất ngay cả khi khơng có xử lý chất điều hòa sinh trưởng [46].
Huỳnh Văn Kéo, Lương Viết Hùng, Trương Văn Lung đã nghiên cứu
giâm hom loài Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum) đã sử dụng IBA với các
nồng độ khác nhau làm chất điều hòa sinh trưởng cho thấy với lồi Hồng đàn
giả có khả năng nhân giống bằng hom và tỷ lệ ra rễ của hom thu hái từ cây
trưởng thành thấp hơn cây non [22].
Nguyễn Đức Cảnh, khi nghiên cứu khả năng nhân giống vơ tính (giâm
hom) Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis Farjon & Hiep) tại khu BTTN Bát
Đại Sơn, tỉnh Hà Giang cho biết sau 4 tháng giâm hom Bách vàng có khả năng
nhân giống từ các cây trưởng thành mọc trong tự nhiên. Khả năng ra rễ của hom
Bách vàng giảm theo kích thước đường kính của cây. Hai cấp đường kính chính
có số cá thể nhiều trong quần thể là từ 6-14 cm có tỷ lệ ra rễ 35% và 30-38 cm có
tỷ lệ ra rễ 11%. Kết quả giâm hom 26 dòng Bách vàng cũng như phân tích thí
12
nghiệm giâm hom cho 4 dịng ở độ tuổi có đường kính 7-15 cm đều cho thấy tỷ
lệ ra rễ biến động theo dòng, kể cả đối với các dòng có đường kính tương tự
Năm 1999, Viện Điều tra quy hoạch rừng phối hợp với Chi cục Kiểm lâm
Thanh Hóa tiếp tục tổ chức khảo sát đa dạng sinh học và kinh tế xã hội ở khu
vực này, kết quả nghiên cứu, đánh giá đa dạng sinh vật tại khu BTTN Xuân Liên
chỉ ra hệ thực vật Xuân Liên gồm 752 loài, 440 chi, 130 họ thuộc 3 ngành [50].
Gần đây nhất, năm 2008 chương trình điều tra, đánh giá sơ bộ phân bố 2 loài Pơ
mu (Fokienia hodginsii (Dunn) Henry et Thomas) và Sa mô ̣c dầu
(Cunninghamia konishii Hayata) với sự hỗ trợ của các chuyên gia thực vật thuộc
Trường Đại học Lâm nghiệp đã thu thập được mẫu vật của 7 loài thực vật hạt
trần lưu giữa tài phòng Khoa học - Kỹ thuật, khu BTTN Xuân Liên đó là.
- Bách xanh (Calocedrus macrolepis (Kurz) Benth.&Hook.)
- Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg).
- Sa mô ̣c dầu (Cunninghamia konishii Hayata).
- Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus (Blume) D. Laub).
- Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) Henry et Thomas).
- Kim giao núi đấ t (Nageia wallichiana (C.Presl) O.Kuntze).
- Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius D. Don).
Sau mười năm được thành lập, mặc dù có nhiều nỗ lực nhưng công tác quản
lý, nghiên cứu thực vật ở khu BTTN Xuân Liên mới chỉ dừng lại ở việc bảo vệ
nguyên vẹn tài nguyên rừng hiện có với các hoạt động chủ yếu: tham mưu cho cấp
uỷ, chính quyền địa phương thực hiện đầy đủ và hiệu quả các nội dung quản lý nhà
nước về rừng và đất lâm nghiệp theo Quyết định 245/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ; phối hợp với các ngành, các đoàn thể trên địa bàn triển khai đồng bộ các
giải pháp quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ an tồn diện tích rừng đặc dụng; thực hiện dự
án 661 với các hạng mục lâm sinh như bảo vệ rừng 15.000 ha, khoanh nuôi tái sinh
2.500 ha, trồng mới và chăm sóc rừng trồng 150 ha; xây dựng, hoàn thiện 32 hồ sơ
quản lý bảo vệ rừng theo tiểu khu, tổ chức giao cho cán bộ, kiểm lâm viên khu bảo
tồn tổ chức quản lý, theo dõi và nghiên cứu lâu dài [1],[2].
- Xác định vùng phân bố của các loài hạt trần.
+ Thiết lập các tuyến điều tra.
+ Thành phần các loài hạt trần phân bố trên các khu vực.
- Đă ̣c điểm phân bố của các loài hạt trần.
- Đă ̣c điểm sinh thái của các loài hạt trần.
- Đă ̣c điểm tái sinh và khả năng tái sinh tự nhiên của các lồi hạt trần hiện có.
- Xác định tính cạnh tranh của các lồi đối với từng loài hạt trần.
2.3.2. Xác định sự phân bố của các loài hạt trần (Gymnospermae) theo đai cao.1515
2.3.3. Xác định diện tích và trữ lượng của các lồi Hạt trần hiện có trong khu bảo tờ n.
2.3.4. Thử nghiệm khả năng nhân giống loài Pơ mu (Fokienia hodginssi
(Dunn) Henry et Thomas) và Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) bằ ng
phương pháp nhân giống vơ tính.
2.3.5. Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thuộc ngành hạt trần.16
2.4. Phương pháp nghiên cứu
16
2.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu
- Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn, đất đai, địa
hình, tài ngun rừng.
- Thơng tin, tư liệu về điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội: dân số, lao
động, thành phần dân tộc, tập quán canh tác.
- Những kết quả nghiên cứu, những văn bản có liên quan đến các loài
cây thuộc ngành Hạt trần ở Việt Nam
2.4.2. Phương pháp thu thập, điều tra, khảo sát thực địa
2.4.2.1.Phương pháp điều tra thu thập số liệu theo tuyến.
- Điều tra theo tuyến vạch sẵn trên bản đồ địa hình, tuyến cần được
lựa chọn dựa trên các đường mịn có sẵn để dễ tiếp cận khu vực hơn.
- Các tuyến điều tra có chiều dài khơng giống nhau được xác định đảm
- Tuyến số 10: Pù Nậm Mua - Đỉnh Hón Cà, chiều dài 2,707 km
- Tuyến số 11: Đỉnh Đại Bàng - Thác Đàn Bà, chiều dài 2,8 km
- Tuyến số 12: Thác Tà ản - Đỉnh Pù Gió, chiều dài 4,706 km
- Tuyến số 13: Đỉnh Pù Gió - Lán Hai O, chiều dài 1,100 km
- Tuyến số 14: Lán Hai O - Hón Yên, chiều dài 5,700 km
- Tuyến số 15: Lán Hai O - Ngã Ba suối Pựa, chiều dài 2,500 km.
c/ Các tuyến điều tra phụ
- Tuyến 9a: Hang Ong - Sườn Hang Ong, chiều dài 0,6 km
- Tuyến 9b: Sườn Hang Ong - ngã ba suối Tiên, chiều dài 0,845 km
2.4.2.2. Phương pháp điều tra thu thập số liệu trong điều tra lâm học.
a/ Điều tra cá thể tầng cây cao.
- Điều tra, thu thập tiêu bản đo tính tất cả các cá thể lồi hạt trần được
tìm thấy có đường kính ngang ngực (D1.3) lớn hơn hoặc bằng 6cm
- Đo D1.3 bằng thước kẹp kính
18
- Đo chiều cao vút ngọc (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) bằng
thước đo cao Blummleiss.
- Đo đường kính tán (Dt) bằng thước dây theo hai chiều Đông Tây - Nam
Bắc.
Đối với những cây khó tới gần (do địa hình hiểm trở) sử dụng phương
pháp mục trắc theo kinh nghiệm từ những cây đã đo.
b/ Điều tra, đo đếm cây tái sinh.
- Điều tra các loài hạt trần tái sinh tự nhiên theo tuyến.
- Điều tra các loài hạt trần tái sinh tự nhiên quanh gốc cây mẹ.
Thiết lập các ơ dạng bản kích thước 4m2 (2m x 2m) quanh gốc cây mẹ
theo bốn hướng, 04 ô trong tán, 04 ơ ngồi tán.
- Xác định 20 ơ nhỏ (quadrat) 2x2m dọc theo đường chéo của ô tiêu
- Xác định trữ lươ ̣ng loài theo cơng thức:
Trong đó:
Vi = Gi x Hivn x f
V: là trữ lươ ̣ng cây thứ i
Gi: tiế t diêṇ ngang của cây thứ i ta ̣i vi tri
̣ ́ 1,3m
Hivn: là chiề u cao vút ngo ̣n của cây thứ i.
f: chỉ số đô ̣ thon (f=0,45)
- Dùng phương pháp so sánh cặp đôi để đánh giá kết quả
Sử dụng các cấp đánh giá của Sách đỏ Việt Nam, 2007 (Phần II-Thực vật),
các tiêu chuẩn đánh giá của IUCN (2000), quy định của pháp luật Việt Nam tại
Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ và Quyết định
74/2008/QĐ-BNN ngày 20/6/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Danh
mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công
ước về bn bán quốc tế các lồi động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; của Quốc
tế tại Công ước về bn bán quốc tế các lồi động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
(CITES).
2.4.2.4. Phương pháp chuyên gia
20
Tham vấn các nhà lãnh đạo địa phương, các chuyên gia đầu ngành, các
nhà khoa học chuyên môn liên quan đến các vấn đề nghiên cứu ....
2.4.2.5. Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng và phương
pháp đánh giá nhanh nông thôn thông qua phiếu điều tra và phỏng vấn trực
tiếp người dân địa phương.
sâu bệnh hại.
- Hom sau khi cắt khỏi cây mẹ cho vào xô nước để giảm thoát hơi nước.
b/ Xử lý nền giâm hom
- Sử dụng cát mới cho vào bể để làm nền giâm hom.
- Dùng dung dịch Benlate có nồng độ 15% tưới vào nền giâm vào thời
gian trước khi cắm hom 8- 12 giờ để xử lý nấm bệnh của nền giâm.
c/ Xử lý hom giâm
- Hom sau khi cắt khỏi cây mẹ, tiến hành chọn và cắt lại lần hai. Khi cắt
không làm giập phần gốc của hom (nếu giập hom sẽ bị thối và chết), tỉa bớt
một ít lá ở phía trên rồi cho vào nước. Khi số lượng đủ lớn thì vớt ra để ráo
nước. Sau đó nhúng hom vào dung dịch xử lý nấm bệnh.
d/ Thuốc kích thích ra rễ: Sử dụng các loại thuốc dạng bột sau: ABT (Acid tri
odobenzoic, là chất kích thích ra rễ thương phẩm của Trung Quốc, tổng hợp pha trộn
giữa IAA và IBA), NAA (Acid naphtalen axetic) đối với Pơ mu và sử dụng thuốc
dạng bột TTG (Trung tâm giống cây rừng Trung ương, là sản phẩm thương phẩm có
nguồn gốc từ IBA - Indole -3-butyric acid 1% dạng bột) đối với Sa mộc dầu.
e/ Phương pháp giâm hom: Cắt hom có chiều dài 10- 15cm. Chấm phần
gốc của hom vào thuốc kích thích ra rễ rồi cắm vào nền cát sạch, sau khi cắm
hom dùng ni lông trong suốt phủ kín luống giâm.
Dùng hệ thống phun sương mù điều chỉnh lượng nước phun cho phù
hợp, luôn giữ chế độ cân bằng nước trong hom, làm cho hom không bị khô
hoặc không quá ướt. Nếu quá khô hoặc quá ướt hom sẽ bị chết.
22
Chương 3
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên
ở Nước CHDCND Lào qua huyện Thường Xuân về đến huyện Như Xuân, có
khá nhiều đỉnh cao nổi trội như đỉnh Pù Ta Leo (1.400 m), núi Bù Gió (1.563
m), Bù Hịn Hàn (1.208 m) và một ngọn núi khơng có tên cao đến 1.605 ở
phía nam Bản Vịn là đỉnh cao nhất trong khu bảo tồn thiên nhiên. Phần lớn
các dãy núi này đều được cấu tạo bằng đá Riolit, Granit với đỉnh nhọn, đường
dông sắc và sườn dốc hơn các dãy núi xung quanh [54].
Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên có các kiểu địa hình chính sau:
- Vùng núi trung bình: có độ cao 800-1700m. Phân bố giữa hai thung
lũng sông Khao và Nậm Boong. Đây là vùng bị chia cắt mạnh, độ dốc phổ
biến > 350. Xen vào giữa dãy núi là các thung lũng hẹp, sâu, dốc lòng theo
chiều nước chảy (gần như từ Tây sang Đơng). Tổng diện tích khoảng 4.000 ha
chiếm 15,2% tổng diện tích khu vực.
- Vùng núi thấp và đồi cao: dưới 800m, tập trung về phía Đơng (hạ lưu
sơng Khao và phía Nam giáp tỉnh Nghệ An. Độ cao, độ dốc địa hình có giảm,
mức độ chia cắt đỡ phức tạp hơn vùng trên. Độ dốc trung bình từ 20 0 - 250.
Vùng đồi núi cao địa hình thoải hơn, độ dốc bình quân từ 15 0 - 200, tổng diện
tích khoảng 17.000 ha chiếm 64,6 % tổng diện tích tự nhiên khu bảo tồn.
Ngồi 2 kiểu địa hình chính đã mơ tả ở trên, trong khu vực cịn phân bố
giải rác các kiểu địa hình có diện tích nhỏ, phân tán, xen kẽ với vùng đồi núi
trong vùng chiếm 20,2% tổng diện tích tự nhiên, đó là:
+ Địa hình núi đá vơi (Karst) khá hiểm trở, rất khó đi lại. Độ cao từ
700-1000m, độ dốc có thể lên tới 600 - 700, nhiều chỗ vách núi dựng đứng.