Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối trong công ty XNK xi măng - Pdf 84

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
LỜI NÓI ĐẦU
Trong khoảng 20 năm sau đổi mới đất nước ta đã đạt được nhiều thành
tựu quan trọng trong phát triển kinh tế theo đó là sự xuất hiện nhiều khu đô thị
mới , khu công nghiệp cũng như nhu cầu xây dựng dân dụng đường xá và nhà
cửa của tư nhân ngày càng tăng. Do đó thị trường cung cấp xi măng cho
ngành xây dựng trở nên rất sôi động và có nhiều cơ hội để phát triển và công
ty Xuất Nhập Khẩu xi măng Việt Nam( VINACIMEX) là một trong những
công ty cũng đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu và cung cấp
xi măng, vật liệu xây dựng cho nhu cầu xây dựng trong nước và bình ổn thị
trường mặc dù mới chỉ thành lập được 13 năm, nhưng công ty đã dần khẳng
định được vị trí và uy tín của mình trên thị trường.
Trong thời gian thực tập của em ở công ty. Em đã có cơ hội tìm hiểu và
năm bắt về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty. Sau đây em xin được
trình bày về kênh phân phối dọc ,tình hình kênh phân phối dọc của công ty và
một số giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối trong công ty XNK xi
măng.
Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp của em gồm 3 phần:
I. Một số vấn đề, lý luận cơ bản về kênh marketing dọc
II. Khái quát về công ty XNK xi măng Việt Nam và về thị trường xi măng
III. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối trong công ty XNK
xi măng
1
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
Mục lục
Chương I :Những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống kênh marketing dọc
I. hệ thống kênh marketing dọc là gì?

7. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên
8. Hoàn thiện hệ thống các chính sách vĩ mô của Nhà nước
9. Tăng hiệu lực của các cơ quan quản lý vĩ mô
II. Một số phương án để tổ chức hệ thống Marketing dọc
1. Hình thành hệ thống Marketing dọc dưới dạng hợp đồng
2.Tổ chức kênh liên kết dọc được quản lý
3. tổ chức kênh marketing liên kết dọc theo chế độ sản xuất và phân phối đầu
tư vốn vào nhau dưới dạng cổ phần
4.Tiến hành hội nhập dọc và ngựoc chiều
3
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
Chương I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG KÊNH
MARKETING DỌC
I. Hệ thống marketing dọc là gì?
1. Khái niệm.
Trong nền kinh tế ngày nay ,hầu hết nhưng người sản xuất đèu không bán
hàng hoá của mình trực tiếp cho người sử dụng cuối cùng mà qua các trung
gian marketing thực hiện các chức năng khác nhau như:người mua bán trung
gian ,đại lý trung gian hoặc nguời hỗ trợ .
Quyết định về marketing là một trong những quyết định quan trọng nhất
mà ban lãnh đạo phải thông qua .Các kênh mà công ty lựa chọn sẽ ảnh hưởng
ngay tức khấc đến các quyết định marketing khác .E.Raymond Corey:Hệ
thông phân phối là một nguồn lực then chốt bên ngoài phải mất nhiều năm
mới xây dựng được và không dễ gì thay đổi được .Nó có tầm quan trọng
không kém gì những nguồn lực then chốt trong nội bộ như con người và
phương tiện sản xuất ,nghiên cứu thiết kế và tiêu thụ .Nó là một cam két lớn
của công ty đối với các công ty độc lập chuyên về phân phối và đối với những
thị truường cụ thể mà họ phục vụ Nó cũng là một loạt cac kết về một loạt

được nhờ các cấp độ phân phối trong kênh có cùng một chủ sở hữu .Trong
kênh marketing dọc hợp đòng các nhiệm vụ và quan hệ kênh được thiết lâp
bằng những hợp đồng thoả thuận giữa các thành viên với nhau .Còn trong
kênh marketing dọc được quản lý sự lãnh đạo thuộc về một hoặc một vài
thành viên có sức mạnh nhất trong kênh .

2. Các loại hình marketing dọc
Các hệ thống marketing liên kết dọc là các mạng lưới được thiết lập gồm
các liên kết dọc và các phối hợp ngang .Chúng được quản lý như một hệ thống
hoàn chỉnh ,sau đây là sơ đồ mô tả các kênh liên kết dọc :
5
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
2.1. Kênh LKD tập đoàn
Kênh LKD tập đoàn là sự kết hợp của các giai đoạn sản xuất và phân
phối trong khuôn khổ một quyền sở hữu duy nhất .Việc nhất thẻ hoá dọc được
ưa thích đối vơí những công ty mong muốn có mức độ kiểm soát chặt chez
các kênh .Việc nhất thể hoá dọc có thẻ là nhất thể hoá dọc thuận hay
nghịch .Ví dụ ,người sản xuất có thể làm chủ các trung gian ở tiếp sau trong
kênh hoặc thậm chí cả các cửa hàng bán lẻ .Các kênh này là kết quả của sự mở
rộng một tổ chức theo chiều dọc ngược lên phía trên từ nhà bán lẻ hoặc xuôi
xuống phía dứơi từ nhà sản xuất
Người sở hữu và điều khiển các thành viên trong kênh có thẻ là nhà sản
xuất bán buôn hoặc bán lẻ .Khi người sản xuất sở hữu và điều khiển các tổ
chức bán buôn hoặc các nhà ban lẻ ,hệ thống kênh là kết quả của sự hoà nhập
Các kênh marketing liên
kết liên kết dọc
Kênh liên kết
dọc tập đo nà

,kênh này có thể đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô và giảm giá theo khối
lượng mua để cạnh tranh với các cửa hàng bán lẻ có quy mô lớn hoặc các tổ
chúc có mang lưới lớn .
Hợp tác xã những người bán lẻ :những người bán lẻ có thể chủ động tổ
chức ra một thực thể kinh doanh mới để thực hiện việc bán buôn và có thể là
cả sản xuất nữa .Trong kênh này thành viên bán lẻ không phải là từng nhà bán
7
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
lẻ nhỏ mà là một tập hợp các nhà bán lẻ nằm trong một tổ chức hợp tác .Các
thành viên sẽ mua hàng qua hợp tác xã ,lập kế hoạch phối hợp các hoạt
độngđịnh giá và cùng lên chuương trình quảng cáo .Lợi nhuận được chia cho
các thành viên theo tỷ lệ với khối lượng hàn hoá họ đã mua .Những người bán
lẻ không phải là xã viên cũng có thể mua hàng qua hợp tác xã nhưng không
được chia lợi nhuận .Kênh đặc quyền kinh tiêu :trong kênh này chứa đựng
quan hệ kinh doanh giữa người chủ quyền và người nhận đặc quyền ,người
chủ quyền sở hữu hàng hoá ,dịch vụ, nhãn hiệu ,uy tín hình ảnh ,kinh nghiệm
kinh doanh …họ ký hợp đồng với người nhận quyền,cho phép những người
này được quyền sở hữu những thứ mà người chủ quyền sở hữu tronh kinh
doanh trên một thị trường nhất định ,được dùng tên và nhãn hiệu sản phẩm
của người chủ quyền \trong kinh doanh trên một khu vực thị trường .
Hình thức hiện đại hơn của phân phối đặc quyền được hiểu là sự giao
quyền kinh doanh ,nó mang đặc điểm là một quan hệ kinh doanh chặt chẽ giữa
người chủ quyền và người nhận đặc quyền bao gồm không chỉ về sản phẩm
,dịch vụ ,nhãn hiệu thương hiệu thương mại hình ảnh mà còn là toàn bộ hoạt
động kinh doanh như chiến lược marketing ,bí quyết công nghệ ,quản lý giao
dịch ,hướng dãn hoạt động ,quản lý chất lượng ,các tiêu chuẩn và thông tin hai
chiều liên tục .Vi vậy ,nó đã đưa ra một phương pháp hoàn hảo trong phân
phối hàng hoá và dịch vụ đưa vào mối quan hệ liên tục theo hợp đồng giữa

trúc ,danh giới giữa kênh truyền thống và kênh LKD được quản lý là mức độ
hiệu quả quản lý giữa các thành viên của kênh .Sự hình thành và phát triển của
kênh LKD là một xu thế của thế giới .Có thể nói trên thị trường thế giới hiện
nay sự cạnh tranh không phải sảy rảơ các doanh nghiệp độc lập nữa mà là hệ
thống marketing liên kết theo chiều dọc hoàn chỉnh được điều hành theo
chương trình trung tâm để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất và ảnh hưởng đến
người mua lớn nhất .Tuy nhiên ở các nước đang phát triển do trình độ phát
9
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
triển kinh tế và các quan hệ thị trường chưa cao nên số lượng kênh LKD còn ít
và mức độ liên kết trong kênh còn nhiều hạn chế .
3. Sự khác biệt của hệ thống Marketing dọc với kênh cổ điển
Cùng với sự biến đổi và phát triển của nền kinh tế ,các kênh marketing
phát triển đa dạng và phức tạp từ kênh đơn đén kênh truyền thống sau đó là
các hệ thống marketing dọc,ngang và đa kênh .Trong đó kênh dọc là một loại
hình mới có nhiều sự khác biệt so với các kênh trươc đây ở một số vấn đề
sau :
III.1Yêu cầu bao phủ thị trường của hệ thống kênh
Do các đặc tính của sản phẩm ,môi trương marketing ảnh hưởng đến
bán hàng ,nhu cầu và kỳ vọng của khách hàng tiềm năng mà yêu cầu về mức
độ bao phủ thị trường trong phân phối sản phẩm sẽ thay đổi .Sự bao phủ thị
trường của hệ thống kênh phân phối được xem như một bảng biến thiên phân
phối rộng rãi ,phân phối chọn lọc đến phân phối đặc quyền
Khi đem so sánh mức độ bao phủ thị trường cỷa hệ thống các kênh cổ
điển và kênh marketing dọcta thấy có sự khác biệt .Các kênh marketing đơn
thực chất là các quan hệ buôn bán theo thương vụ .Trong quan hệ trao đổi đàm
phán cả hai bên mua và bán đều không nghĩ các quan hệ kinh doanh sẽ được
lặp lại.Do vậy,trong các trao đổi đơn không có liên kết bền vững giữa bên mua

Để kênh hoạt động tốt càn phải phân định rõ vai trò của từng thành viên
và giải quyết sung đột ,muốn vậy cần có sự lãnh đạo điều hành tốt nghĩa là có
một thành viên hay bộ máy có quyền lực phân chia hợp lý nhiệm vụ phân phối
trong kênh và giải quyết xung đột ,ở hệ thống kênh marketing thông thường
chưa có được điều này ,ngày nay có một hệ thông kênh marketing mới thực
11
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
hiện chức năng của kênh hiệu quả hơn đó là kênh marketing dọc .Hệ thống
kênh marketing dọc này đang tiến tới kiểm soát hành vi của kênh và loại trừ
các mâu thuẫn phát sinh do các thành viên độc lập của kênh theo đuổi những
muc tiêu của riêng mình . Mỗi loại kênh LKD có một guồng máy khác nhau
để thiết lập hoặc sử dụng quyền lãnh đạo trong kênh ,trong LKDtập đoàn sự
hợp tác và giải quyết sung đột đạt được nhờ cung có mọt chủ sở hữu ở nhiều
mức đọ của kênh .Trong LKD hợp đồng các nhiệm vụ và quan hệ kênh được
thiết lập bằng những hợp đồng thoả thuận giữa các thành viên với nhau .Trong
LKD được quản lý ,sự lãnh đạo thuộc một hoặc vài thành viên có sức mạnh
trong kênh ,nhờ vậy mức độ điều khiển kênh mong muốn của hệ thống
marketing dọc là rất lớn
3.2. Tổng chi phí phân phối
Quan điểm về tổng chi phí phânphối cho rằng kênh marketing cần được
xem xét như là một hệ thống tổng thể hợp thành bởi các hệ thống con phụ
thuộc lẫn nhau và mục tiêu của người điều hành kênh là cần phải tối ưu hoá
hoạt động của toàn bộ hệ thống ,nghĩa là hệ thống cần được thiết kế để tối
thiểu hoá chi phí khi những yếu tố khác không đổi .Mục đích của quan điểm
này là nhấn mạnh vào hoạt động của toàn bộ kênh chư không phải từng công
việc phân phối cụ thể . Trong kênh truyền thống các sản phẩm từ nơi sản xuất
đến nơi tiêu thụ phải qua quá nhiều trung gian mua bán lòng vòng ,ngoài ra
thêm vào đó là cơ sở vật chất phục vụ hoạt động vận tải chưa tốt ,quản lý và

có thể được trao đổi giữa hai thành viên kế cận hoặc không kế cận về khối
lượng chất lượng sản phẩm ,giá sản phẩm ,thời gian và địa điểm giao nhận
thanh toán ,cùng với nhiều kỹ thuật thông tin hiện đại đã cho phép các doanh
nghiệp dễ dàng tổ chức dòng thông tin một cách nhanh chóng và thuận tiện
khiến cho dòng chảy thông tin từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối
cùng ,thông tin về thị trường đều là thông tin hai chiều
13
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
4. Những điều kiện để tổ chức hệ thống marketing dọc
Qua nghiên cứu về kênh liên kết dọc ở phần trên việc phát triển kênh liên
kết dọc không chỉ phụ yhuộc vào ý muốn chủ quan của doanh nghiệp mà còn
phụ thuộc vào những điều kiện khách quan ,các hệ thống kênh liên kết dọc
không thể phát triển vượt quá trình độ của nền kinh tế và xã hội nói chung ,do
đó những điều kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể thiết lập kênh phân phối
dọc là:
Thị trường phát triển ở mức độ nhất định với quy mô thị trường tương
đối lớn đủ để khai thác có hiệu quả. Sự phát triển của thị trường gắn liền với
mức độ đô thị hoá. Những đô thị lớn tập trung đông dân cư sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho các hệ thống kênh LKD phát huy hiệu quả.
• Các doanh nghiệp phải có vốn kinh doanh được tích tụ đạt đến một mức độ
nhất định để trước hết có đủ năng lực, khả năng thành lập một hệ thống
kênh phân phối của riêng mình. Có như vậy sản phẩm của doanh nghiệp
mới có thể đến được vơí người tiêu dùng cuối cùng, thoả mãn nhu cầu của
họ trong sự quản lý tập trung thống nhất chắt chẽ của công ty. Ngoài ra,
với năng lực về vốn đủ lớn nên bên cạnh việc thiết lập hệ thống các cửa
hàng, đại lý, của riêng mình công ty còn có thể ký kết hợp đồng kinh tế với
chủ thể kinh doanh khác cho phép họ thực hiện hoạt động phân phối sản
phẩm của công ty ra thị trường. Nhờ vậy, khả năng bao phủ thị trường của

hơn, ít phức tạp hơn để phan chia cho các thành viên khác chuyên môn hoá
thực hiện. Đây là cơ sở của việc nâng cao hiệu quả hoạt độg của cả hệ
thống, hạn chế sự trùng lặp, tăng tính chuyên nghiệp trong từng hoạt động.
Một măt, mỗi thanh viên trong hệ thống phải năng vững được vị trí, công
việc của mình, mặt khác họ phải ý thức được mối quan hệ của họ với các
thành viên khác trong kênh. Do đó, mức độ chuyên môn hoá cao dẫn đến
tính chuyên nghiệp trong các hoạt động là điều kiện để doanh nghiệp có
15
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
thể thiết lập kênh LKD bên cạnh các điều kiện về quy mô và vốn kinh
doanh.
• Hệ thống luật pháp chi phối các hoạt động thị trường phải được thiết lập
tương đối hoàn chỉnh. đặc biệt cần hoàn thiện các điều luật về thương mại
chi phối hoạt động của các hệ thống kênh trên thị trường.
• Có chính sách khuyến khích phát triển các kênh LKD và hệ thống cơ chế
chính sách quản lý các kênh marketing về mặt vĩ mô có hiệu quả. Các
doanh nghiệp cần được trao quyền tự chủ kinh doanh đủ để tự họ phải lo
phát triển các kênh có thể cạnh tranh được trên thị trường.
• Phải có một hệ thống cơ sơ hạ tầng tương đối phát triển đặc biệt là hệ
thống thông tin liên lạc và hệ thống giao thông vận tải hiện đại cho các
dòng chảy trong kênh LKD.
• Do đặc điểm của khách hàng công nghiệp và khách hàng tiêu dùng cá nhân
khác nhau nên các kênh marketing cũng khác nhau. Phần lớn các kênh
marketing hàng công nghiệp ở nước ta vẫn là kênh đơn, kênh truyền thống
quan hệ mua bán theo từng thương vụ ( một số phương thức đấu thầu ).
Cáckênh hàng tiêu dùng cá nhân thì rất đa dạng và chủ yếu là các kênh qua
nhiều cấp độ trung gian ở các thị trường. Tuy nhiên, đối với những sản
phẩm phức tạp và quy trình bán thống nhất đòi hỏi các trung gian thương

xuất tăng lên ,chức năng phân phối được chia cho các trung gian thương
mại .Hành vi tiêu dùng thay đổi dưới tác động của quá trình công nghiệp hoá
như thời gian dành cho mua sắm ít đi sự phát triển của các nghành vận tải và
thông tin ,tạo ra những khả năng phân phối mới
Tại Việt Nam do đặc điểm là một nước có nền kinh tế bao cấp trong một
thời gian dài ,thị trường không phát triển được các tổ chức trung gian thương
mại hình thành và thay đổi hoàn toàn dựa trên mệnh lệnh hành chính nên có
17
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
nhiều cấp độ trung gian thừa ,cả hệ thống hoạt động theo kế hoạch hoá tập
trung ,thực hiện cáp phát ,giao nộp trên từng đơn vị cụ thể .
Sau đại hội đảng 6 nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành
phần kinh tế tham gia ,hệ thống phân phối kiểu cũ đã hoàn toàn bị phá vỡ và
bị thay thế bởi các quan hệ kinh doanh mới ,các kênh marketing mới ,từ đó
các quan hệ buôn bán thực sự theo yêu cầu thị trường dần dần được xác lập
,nhiều hệ thống marketing mới nhanh chóng hình thành và phát triển đáp ứng
nhu cầu thị trường tăng lên nhanh chóng ,các hệ thống tiêu thụ theo địa chỉ
của thời kỳ bao cấp mất đi ,bắt buộc các doanh nghiệp sản xuất phải tự tìm
đường vào thị trường cho sản phẩm của họ ,nhiều trung gian thương mại mới
xuất hiện tạo nên khung cảnh buôn bám sôi động mới của thị trường
Cùng với sự thay đổi của thị trường và nền kinh tế ,nhiều nhân tố khách
quan và chủ quan đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải xác lập các kênh liên kết
dọc . Trước hết do áp lực cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ từ các đối thủ cạnh
tranh ,đặc biệt là từ các doanh nghiệp nước ngoài do chính sách mở cửa của
nền kinh tế ,các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã và
đang thực hiện các phương thức phân phối hiện đại nhằm dành lợi thế cạnh
tranh trên thị trường ,mặt khác do yêu cầu nội tại của từng doanh nghiệp và cả

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
+ Nghị định số 59/HĐBT ngày 14/4/1988 của Hội đồng bộ trưởng( nay là
chính phủ) qui định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Bộ xây dựng,
Nghị định 64/HĐBT ngày 0/6/1989 của Hội đồng bộ trưởng qui định chế độ
và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
+ Công văn thoả thuận số 1367/BNGT- TCCB ngày 14/3/ 1988 của Bộ
Ngoại thương đã ký để Tổng Công ty xi măng được kinh doanh xuất nhập
khẩu trực tiếp.
+ Quyết định số 692 BXD- TCCB ngày 31/11/1990 và quyết định số 025
A/ BXD - TCLĐ ngày 12/2/1993 của Bộ Xây Dựng về việc thành lập lại
doanh nghiệp Nhà nước theo quyết định thành lập Công ty Xuất Nhập Khẩu
Xi Măng Việt Nam trực thuộc Tổng Công ty Xi Măng Việt Nam.
Công ty có tên giao dịch quốc tế là: VINACIMEX( Việt Nam National
Cement Import and Export Company).
Trụ sở của công ty đặt tại số 108 đường Lê Duẩn, thành phố Hà Nội và
bắt đầu hoạt động kinh doanh từ ngày 01/01/1991.
Công ty XNK Xi Măng là một đơn vị hoạch toán kinh tế độc lập, có tư
cách pháp nhân và có con dấu riêng theo mẫu qui định, có tài khoản tiền Việt
Nam và ngoại tệ tại Ngân Hàng Công Thương Việt Nam.
Để tạo điều kiện cho hoạt động của Công ty trên địa bàn cả nước, ngày
15/3/1991 Bộ Xây Dựng đã có quyết định số 154 TCLĐ thành lập Chi nhánh
Công ty Xuất nhập khẩu xi măng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 14/7/1993
đại diện Công ty tại Hải Phòng được thành lập theo quyết định số 333 BXD-
TCLĐ. Đến ngày 25/12/1997 theo quyết định số 469 XMVN- TCLĐ nâng cấp
thành Chi nhánh tại Hải Phòng.
Theo nhu cầu công tác, để mở rộng phát triển thị trường nước ngoài, góp phần
tăng lực lượng xuất khẩu. Tổng Công ty Xi Măng Việt Nam đã quyết định
20

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
nước theo hướng dẫn chung của Nhà nước để phục vụ cho sản xuất kinh
doanh, phát triển ngành trên nguyên tắc tự chịu trách nhiệm trang trải vốn vay.
+ Thực hiện cam kết trong hợp tác quốc tế thông qua hợp đồng thương mại.
Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ đối với Nhà nước.
+ Công ty được phép trực tiếp quan hệ với các tổ chức và thương nhân nước
ngoài để ký kết các hợp đồng kinh tế, tiến hành các hợp đồng mua bán, hợp
tác đầu tư. Được cử cán bộ tham gia hội thảo, hội chợ, được trao đổi thông tin
kinh tế kỹ thuật của các ngành công nghiệp xi măng theo các quy định hiện
hành của Bộ, Nhà nước và luật Quốc tế.
+ Công ty được thực hiện các nghiệp vụ kinh tế đối ngoại và kinh doanh xuất
nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng đã được Bộ Thương Mại qui định tại công
văn số 138/HĐBT – TCCB ngày 12/05/1988.
2. Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty
Công ty xuất nhập khẩu xi măng tuy mới thành lập được 10 năm nhưng
các qui chế về tổ chức quản lý, điều hành kinh doanh về mọi mặt được quán
triệt xây dựng trên có sở nhiệm vụ được giao theo chế độ quản lý và pháp luật
hiện hành. Căn cứ vào:
+ đặc điểm sản xuất kinh doanh của công tác xuất nhập khẩu xi măng.
+ phương án tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty.
+ các yêu cầu quản lý của Nhà nước.
Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo mô hình trực
tuyến. Đặc điểm cơ bản của cơ cấu này là mối quan hệ giữa các thành viên
trong công ty được thực hiện theo một đường thẳng. Người thừa hành chỉ
nhận và thi hành mệnh lệnh của người phụ trách cấp trên trực tiếp. Người phụ
trách chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả công việc của những người dưới
quyền mình.
22

Chăn
Phòng
XNK
thiết bị
phụ
tùng
Chi
nhánh
tại TP
HCM
Chi
nhánh
tại
Hải
Phòng
Phòng
XNK
xi
măng,
clinker
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
về điều hành hoạt động của công ty, Giám đốc có quyền điều hành cao
nhất.
 Phó Giám đốc 1: có nhiệm vụ quản lý về các dự án nhập khẩu các thiết bị
đồng bộ( Dây chuyền sản xuất).
 Phó Giám đốc 2: chịu trách nhiệm quản lý về các sản phẩm còn lại như
thiết bị phụ tùng và các loại nguyên liệu sản xuất xi măng như: thạch cao,
linker, gạch chịu lửa, và xi măng thành phẩm.

trường, đàm phán, ký kết hợp đồng, hoàn thiện thủ tục để xuất nhập khẩu
hàng hoá, hoàn thành thủ tục thanh toán chuyển phòng kế toán sử lý tiếp, hoàn
thành hồ sơ bồi thường nếu có, phối hợp với các phòng ban khác để hoàn tất
thanh lý hợp đồng.
3.1.1.1 Trưởng phòng: chịu trách nhiệm quản lý nhân viên trong phòng,
phân công công việc. Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước lãnh đạo
công ty về hoạt động của phòng.
3.1.1.2 Phó phòng: chịu trách nhiệm thực hiện một hay một số công việc
được trưởng phòng giao, tham mưu giúp trưởng phòng trong việc
quản lý và giải quyết công việc.
3.1.1.3 Cán bộ mặt hàng: thực hiện những công việc trưởng phòng giao, phụ
trách nghiệp vụ xuất nhập khẩu ở một hay một số mặt hàng nhất
định.
4.Các nguồn lực của công ty.
Sau gần 15 năm hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
Công ty XNK Xi Măng đã không ngừng lớn mạnh cả về qui mô và chất lượng
điều đó được thể hiện qua sự tăng lên về quy mô vốn, số lượng và trình độ
chuyên môn của cán bộ nhân viên trong công ty.
25

Trích đoạn Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên Hình thành hệ thống marketing dọc dưới dạng hợp đồng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status