T
T
R
R
Ư
Ư
Ờ
Ờ
N
N
G
GĐ
Đ
Ạ
Ạ
I
IH
H
Ọ
Ọ
C
C
PHÂN TÍCH DOANH THU, LỢI NHUẬN
CỦA NHÀ MÁY XI MĂNG AN GIANG
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
Th.S BÙI THANH QUANG BÙI THỊ TÂM YÊN
LỚP DH1TC3 AN GIANG 04- 2004
LỜI MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Thực hiện đường lối đổi mới, chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã Hội Chủ
Nghĩa, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể thể hiện ở tốc độ
tăng trưởng GDP hàng năm, từ đó tạo điều kiệ
n để nước ta bước vào thời kỳ mới
công nghiệp hóa - hiện đại hóa, từng bước hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đặt ra cho các doanh nghiệp
nước ta nhiều cơ hội và thách thức. Đó là cơ hội thu hút vốn đầu tư, kỹ thuật, công
nghệ tiên tiến, tiếp thu cách làm việc, kinh doanh, quản lý khoa học của nước
ngoài, có cơ hộ
i đưa sản phẩm của mình đến nhiều nước trên thế giới…Mặt khác,
các doanh nghiệp phải chấp nhận sự cạnh tranh gay gắt diễn ra trên phạm vi toàn
cầu. Trong nền kinh tế thị trường, một khi không còn sự bảo hộ của Nhà nước, các
doanh nghiệp nước ta phải tự điều hành, quản lý các hoạt động sản xuất kinh
doanh một cách có hiệu quả để đứng vững trên thị tr
ường và ngày càng phát triển.
Muốn vậy, các doanh nghiệp phải tạo được doanh thu và có lợi nhuận, đồng thời
phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá mọi diễn biến và kết quả của quá trình sản
xuất kinh doanh. Bởi vì thách thức lớn nhất hiện nay không chỉ là tăng đầu tư hay
tăng sản lượng mà là tăng cường hiệu quả kinh doanh. Như vậy, thường xuyên
quan tâm phân tích hiệu quả kinh doanh nói chung, doanh thu, lợi nhuận nói riêng
trở thành một nhu cầu thực tế cần thiết đối với bất kỳ doanh nghiệp nào.
: Trong đề tài này đòi
hỏi cần phải có những số liệu trong những năm gần đây, các số liệu được tập hợp,
thu thập từ các báo cáo, tài liệu của cơ quan thực tập, các thông tin trên báo, đài,
internet…Sau đó tiến hành thống kê, tổng hợp lại cho có hệ thống để phân tích.
- Phương pháp so sánh: Là phương pháp xem xét một chỉ tiêu dựa trên việc
so sánh với một chỉ tiêu cơ sở, qua đó xác đị
nh xu hướng biến động của chỉ tiêu
cần phân tích.
Tùy theo mục đích phân tích, tính chất và nội dung của các chỉ tiêu kinh tế
mà ta có thể sử dụng các kỹ thuật so sánh thích hợp như so sánh tuyệt đối, so sánh
tương đối.
- Phương pháp thay thế liên hoàn: Là phương pháp thay thế các nhân tố
theo một trình tự nhất định để xác định mức độ ảnh hưởng của chúng đến chỉ tiêu
phân tích. Các nhân tố này phải có quan hệ vớ
i chỉ tiêu phân tích dưới dạng tích số
hoặc thương số.
- Phương pháp liên hệ: Để lượng hóa các mối quan hệ giữa các chỉ tiêu
kinh tế. Có nhiều cách liên hệ như liên hệ cân đối, liên hệ tuyến tính, liên hệ phi
tuyến…Bài viết này sử dụng phương pháp liên hệ tuyến tính là liên hệ theo một
hướng xác định giữa các chỉ tiêu. Chẳng hạn lợi nhuận có quan hệ cùng chiều với
doanh thu, giá bán… có quan hệ ngược chiề
u với chi phí.
- Phương pháp chi tiết: Là phương pháp phân tích các chỉ tiêu kinh tế một
cách chi tiết theo các hướng:
+ Chi tiết theo các bộ phận, hay yếu tố cấu thành của chỉ tiêu.
+ Chi tiết theo thời gian.
+ Chi tiết theo địa điểm.
Trong phạm vi bài viết này sử dụng phương pháp chi tiết theo bộ phận hay
yếu tố cấu thành.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Nội dung của doanh thu bao gồm hai bộ phận sau:
- Doanh thu về bán hàng: Là doanh thu về bán sản phẩm hàng hoá thuộc
những hoạt động sản xuất kinh doanh chính và doanh thu về cung cấp lao vụ, dịch
vụ cho khách hàng theo chức năng hoạt động và sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Doanh thụ từ tiêu thụ khác, bao gồm:
+ Doanh thu do liên doanh liên kết mang lại.
+ Thu nhập từ các hoạt động thuộc các nghiệp vụ tài chính như: thu
về tiền lãi gửi ngân hàng, lãi về tiền vay các đơn vị và các tổ
chức khác, thu nhập
từ đầu tư cổ phiếu, trái phiếu.
+ Thu nhập bất thường như: thu từ tiền phạt, tiền bồi thường, nợ khó
đòi đã chuyển vào thiệt hại.
+ Thu nhập từ các hoạt động khác như: thu về nhượng bán, thanh lý
tài sản cố định; giá trị các vật tư, tài sản thừa trong sản xuất; thu từ bản quyền phát
minh, sáng chế; tiêu thụ những sả
n phẩm chế biến từ phế liệu, phế phẩm.
Để tìm hiểu rõ hơn về doanh thu, chúng ta tiếp cận một số khái niệm có liên
quan:
- Doanh thu thuần về bán hàng, cung cấp dịch vụ: Là doanh thu về bán hàng
và cung cấp dịch vụ trừ đi các khoản giảm trừ, các khoản thuế. Các khoản giảm
trừ gồm giảm giá hàng bán, hàng bán bị gửi trả lại, chiết khấu thương mại.
- Doanh thu thuầ
n: Là doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
cộng cho các khoản hoàn nhập như dự phòng giảm giá hàng tồn kho, phải thu nợ
khó đòi không phát sinh trong kỳ báo cáo
1.1.1.3
Vai trò của doanh thu:
Doanh thu là một chỉ tiêu quan trọng của doanh nghiệp, chỉ tiêu này không
những có ý nghĩa với bản thân doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với
việc xuất giao hàng, vận chuyển và thanh toán tiền hàng, giữ vững kỷ luật thanh
toán…Tất cả các việc trên nếu làm tốt đều có tác động nâng cao doanh thu bán
hàng. Việc hoàn thành kế hoạch tiêu thụ là nhân tố quan trọng quyết định doanh
thu bán hàng.
- Kết cấu mặ
t hàng: Khi sản xuất, có thể có những mặt hàng sản xuất tương
đối giản đơn, chi phí tương đối thấp nhưng giá bán lại tương đối cao nhưng cũng
có những mặt hàng tuy sản xuất phức tạp, chi phí sản xuất cao, giá bán lại thấp.
Do đó, việc thay đổi kết cấu mặt hàng sản xuất cũng ảnh hưởng đến doanh thu bán
hàng. Mỗi loại sản phẩm, dịch vụ cung
ứng đều có tác dụng nhất định nhằm thoả
mãn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng xã hội. Vì vậy khi phấn đấu tăng doanh thu,
các doanh nghiệp phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các hợp đồng đã ký với khách
hàng nếu không sẽ mất khách hàng, khó đứng vững trong cạnh tranh.
- Chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ được
nâng cao không những có
ảnh hưởng tới giá bán mà còn ảnh hưởng tới khối lượng
tiêu thụ. Sản phẩm có chất lượng cao, giá bán sẽ cao. Nâng cao chất lượng sản
phẩm và chất lượng cung ứng dịch vụ sẽ tăng thêm giá trị sản phẩm và giá trị dịch
vụ, tạo điều kiện tiêu thụ dễ dàng, nhanh chóng thu được tiền bán hàng và tăng
doanh thu bán hàng.
- Giá bán sản phẩm: Trong trường hợp các nhân tố khác không đổi, việc
thay đổi giá bán có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng hay giảm doanh thu bán
hàng. Thông thường chỉ những sản phẩm, những công trình có tính chất chiến
lược đối với nền kinh tế quốc dân thì Nhà nước mới định giá, còn lại do quan hệ
cung cầu trên th
ị trường quyết định. Doanh nghiệp khi định giá bán sản phẩm
hoặc giá dịch vụ phải cân nhắc sao cho giá bán phải bù được phần tư liệu vật chất
tiêu hao, đủ trả lương cho người lao động và có lợi nhuận để thực hiện tái đầu tư.
1.1.2. Phương pháp lập kế hoạch doanh thu bán hàng
- DT: là doanh thu bán hàng kỳ kế hoạch.
- S
: Số lượng sản phẩm tiêu thụ của từng loại hoặc dịch vụ cung ứng
ti
của từng loại trong kỳ kế hoạch.
- G
i
: Giá bán đơn vị sản phẩm hoặc cước phí đơn vị.
- i : Loại sản phẩm tiêu thụ hoặc dịch vụ cung ứng tiêu thụ.
1.1.3. Ý nghĩa của việc phân tích doanh thu:
Doanh thu phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau, do đó để có thể
khai thác các tiềm năng nhằm tăng doanh thu, cần tiến hành phân tích thường
xuyên đều đặn. Việc đánh giá đúng đắn tình hình doanh thu tiêu thụ về mặt số
lượng, chất lượng và mặt hàng, đánh giá tính kịp thời của tiêu thụ giúp cho các
nhà quản lý thấy được những ưu, khuyết điểm trong quá trình thực hiện doanh thu
để có thể
đề ra những nhân tố làm tăng và những nhân tố làm giảm doanh thu. Từ
đó, hạn chế, loại bỏ những nhân tố tiêu cực, đẩy nhanh hơn nữa những nhân tố
tích cực, phát huy thế mạnh của doanh nghiệp nhằm tăng doanh thu, nâng cao lợi
nhuận, vì doanh thu là nhân tố quyết định tạo ra lợi nhuận.
Doanh thu đóng vai trò quan trọng trong suốt quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Doanh thu càng lớn lợi nhuận càng cao, bởi vậy ch
ỉ tiêu
này là cơ sở để xác định lãi, lỗ sau một quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó, đơn
vị muốn tăng lợi nhuận thì vấn đề trước tiên cần phải quan tâm đến là doanh thu.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI NHUẬN.
1.2.1. Khái niệm, nội dung và vai trò của lợi nhuận:
1.2.1.1.
Khái niệm:
Sau một thời gian hoạt động nhất định doanh nghiệp sẽ có thu nhập bằng
1.2.1.3.
Vai trò của lợi nhuận:
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh
doanh. Nó phản ánh đầy đủ các mặt số lượng, chất lượng hoạt động của doanh
nghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản sản xuất như lao động,
vật tư, tài sản cố định…
Lợi nhuận là một nguồn thu đi
ều tiết quan trọng của Ngân sách Nhà nước,
giúp Nhà nước thực hiện các chương trình kinh tế xã hội, phát triển đất nước.
Lợi nhuận là nguồn vốn quan trọng để tái sản xuất và mở rộng toàn bộ nền
kinh tế quốc dân và doanh nghiệp.
Lợi nhuận được để lại doanh nghiệp thành lập các quỹ tạo điều kiện mở
rộng quy mô sản xuất, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên.
Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích người
lao động và các đơn vị ra sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở của chính sách phân phối đúng đắn.
Mục đích cuối cùng của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng là sản xuất kinh
doanh thật nhiều sản phẩm, đảm bảo chất lượng tiêu chu
ẩn theo quy định của Nhà
nước với giá thành thấp nhất và mang lại lợi nhuận nhiều nhất cho doanh nghiệp,
tăng tích luỹ mở rộng sản xuất, là điều kiện cải thiện đời sống vật chất của người
lao động trong doanh nghiệp, góp phần làm giàu mạnh đất nước. Ngược lại, doanh
nghiệp kinh doanh thua lỗ sẽ dẫn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp khó
khăn, thiếu khả n
ăng thanh toán, tình hình này kéo dài doanh nghiệp sẽ bị phá sản.
1.2.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận:
Trong quá trình hoạt động có rất nhiều nhân tố khách quan và chủ quan ảnh
hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Các nhân tố chủ yếu là:
- Khối lượng sản phẩm tiêu thụ: Sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp có
tiêu thụ được mới xác định được lãi hay lỗ và lãi, lỗ ở mức độ nào. Sản phẩm,
lợi nhuận, hạn chế tổn thất.
1.2.2. Phương pháp tính lợi nhuận:
Có hai phương pháp tính lợi nhuận:
1.2.2.1.
Phương pháp trực tiếp
Xác định lợi nhuận dựa vào công thức sau:
P = DTT – (Zsxtt + CPBH + CPQL)
Trong đó:
- P : Tổng lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp.
- DTT : Doanh thu thuần về bán hàng và cung ứng dịch vụ.
- Zsxtt : Giá thành sản phẩm tiêu thụ.
- CPBH : Chi phí bán hàng.
- CPQL : Chi phí quản lý.
Xác định lợi nhuận theo phương pháp này dễ tính toán, đơn giản. Tuy
nhiên, nếu doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều mặt hàng thì công việc tính
toán trở nên phức tạp hơn. Mặt khác, dùng phương pháp này không thấy được
những nhân t
ố làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.2.2.2.
Phương pháp phân tích:
Để khắc phục nhược điểm của phương pháp trực tiếp, người ta dùng
phương pháp phân tích để xác định lợi nhuận.
Công thức tính lợi nhuận theo phương pháp này như sau: P = Pss Pz ± ± Pkc ± Pcl ± Pg ± Pđk ± Poss
Trong đó:
- Pss : Lợi nhuận sản phẩm so sánh được tính theo tỷ suất lợi nhuận
kỳ báo cáo.
nhau, phải đối diện với mức độ đòn bẩy hoạt động khác nhau, họ có thể thay đổi
phương thức sử dụng đòn bẩy tài chính một cách thích hợp. Một cách tổng quát,
những doanh nghiệp mà bản thân phải chịu nhiều rủi ro trong kinh doanh có
khuynh hướng sử dụng nợ ít hơn doanh nghiệp mà r
ủi ro kinh doanh có giới hạn.
Mặt khác những doanh nghiệp có rủi ro trong kinh doanh ít hơn có thể gặp rủi ro
tài chính cao hơn.
1.2.3.1.
Đòn cân nợ:
Quá trình tài trợ bằng nợ vay tạo ra đòn cân nợ và việc trả lãi tiền vay cố
định làm thay đổi tỷ suất doanh lợi đầu tư.
Đòn cân nợ có tác động đến thu nhập và tiền lời mà chủ sở hữu nhận được.
Đòn cân nợ được tạo ra do cách thức huy động nợ, và chính cách thức huy động
nợ sẽ dẫn đến chi phí tài chính cố định.
Tỷ lệ nợ hoặc độ nghiêng
đòn cân nợ càng cao thì tác động của đòn cân nợ
càng lớn. Các doanh nghiệp ít gặp rủi ro trong kinh doanh thì sẽ có khuynh hướng
sử dụng đòn cân nợ. Và ngược lại, doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro trong kinh
doanh họ sẽ ít sử dụng đòn cân nợ.
Để xác định độ nghiêng của đòn cân nợ, ta áp dụng công thức:
DFL =
RFVPQ
FVPQ
−−−
−−
)(
)(
DCL =DOL x DFL
Từ DCL có thể xác định sự thay đổi sản lượng hay doanh thu trên doanh lợi
vốn tự có, đồng thời cho thấy tương quan giữa đòn cân nợ và đòn cân định phí,
nếu doanh nghiệp quyết định vay nợ để đầu tư vào tài sản cố định s
ẽ đem đến tình
trạng rủi ro kinh doanh rất cao. Thể hiện: sự giảm sút chút ít doanh thu sẽ gây ra
sự giảm sút rất lớn về doanh lợi vốn tự có
Qua đó, doanh nghiệp có quyết định tỷ lệ sử dụng nợ ở mức độ sản xuất
nào là phù hợp nhất.
1.2.4. Phân tích điểm hoà vốn
- Khái niệm điểm hoà vốn: Điểm hoà vốn là đi
ểm mà tại đó khối lượng sản
phẩm tiêu thụ ở thị trường đạt được doanh thu đủ bù đắp toàn bộ chi phí sản xuất
kinh doanh với giá cả thị trường đã xác định trước.
Tại điểm hoà vốn, doanh nghiệp không có lãi và cũng không bị lỗ. Khi đó
lãi gộp bằng với chi phí bất biến.
Phương pháp xác định điểm hoà vốn:
CPBB
DTHV =
CPKB
- DTHV: Doanh thu hoà vốn.
- CPBB : Chi phí bất biến.
- CPKB : Chi phí khả biến.
- DTTH : Doanh thu thực hiện.
Quy mô sản xuất kinh doanh càng lớn thì sẽ tạo ra tổng mức lợi nhuận càng nhiều,
quy mô sản xuất kinh doanh càng nhỏ thì tạo ra tổng mức lợi nhuận càng thấp.
- Chịu ảnh hưởng bởi chất l
ượng công tác tổ chức quản lý kinh doanh
của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào có tổ chức quản lý tốt quá trình sản xuất
kinh doanh thì doanh nghiệp đó sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn.
Bởi vậy, để đánh giá đúng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
cần tính và phân tích các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số
của hai chỉ tiêu tuỳ theo mố
i liên hệ giữa tổng mức lợi nhuận với một chỉ tiêu có
liên quan. Do đó, có rất nhiều chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận, tuỳ theo mục đích phân
tích cụ thể, tính các tỷ suất lợi nhuận thích hợp.
1.2.5.1
Tỷ suất lợi nhuận – doanh thu (LN/DT):
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
LN
LN/DT =
DT
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng về lợi
nhuận. Chỉ tiêu này càng cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
càng cao. Bởi vậy, doanh nghiệp phải nâng cao tổng mức lợi nhuận lên.
1.2.5.2.
Tỷ suất lợi nhuận – giá vốn hàng bán (LN/GVHB):
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi ra cho khâu bán hàng thì sẽ
tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, qua đó cho ta thấy phần đóng góp của chi phí bán
hàng vào doanh thu.
Việc phân tích các tỷ suất lợi nhuận phải đồng thời với việc phân
tích những nhân tố ảnh hưởng đến các tỷ suất lợi nhuận đó.
1.2.6. Chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp:
Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế quan trọng cho nên phân phối l
ợi nhuận hợp
lý sẽ có tác dụng khuyến khích doanh nghiệp ngày càng phát huy tinh thần trách
nhiệm và ý thức làm chủ của doanh nghiệp, góp phần động viên mọi người lao
động trong doanh nghiệp vì lợi ích bản thân mình, của doanh nghiệp và của xã hội
mà phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động để không
ngừng phát triển sản xuất kinh doanh.
Chính sách phân phối lợi nhuận có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp.
Mỗ
i doanh nghiệp có những chính sách riêng nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát
triển của mình. Tuy nhiên phải theo quy định của Bộ tài chính.
Lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp sẽ được phân phối như sau:
- Nộp thuế cho Ngân sách Nhà nước
- Nộp tiền thu về sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước
- Khấu trừ chi phí bất hợp lệ và các khoản tiền phạt.
- Trừ vào các khoản lỗ không được khấu tr
ừ vào lợi tức trước thuế.
- Phần còn lại để trích lập các quỹ như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự
phòng tài chính, quỹ trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng và phúc
lợi….
Các quỹ này được trích lập theo quy định Thông tư 70/TCDN của Bộ Tài
Chính năm 1996. Cụ thể:
nhuận đạt được của doanh nghiệp.
Lợi nhuận là cơ sở để tính ra các chỉ tiêu chất lượng khác, nhằm đánh giá
hiệu quả của các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá hiệu
quả sử dụng các yếu tố sản xuất vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Qua việc phân tích lợi nhuận có thể tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng
chủ yếu đến doanh lợi của doanh nghiệp, từ đó có biện pháp khai thác được khả
năng tiềm tàng của doanh nghiệp trong việc phấn đấu nâng cao lợi nhuận, tăng
tích lũy cho Nhà nước và cho nhân viên của doanh nghiệp.
Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, phân tích
các nhân tố ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng và xu hướng tác động của từng nhân tố
đến lợi nhuận giúp doanh nghiệp đánh giá đầy đủ và sâu sắc mọi hoạt động kinh
tế, trên cơ s
ở đó đề ra các quyết định đầu tư, phát triển, nâng cao hiệu quả kinh
doanh.
CHƯƠNG 2:
GIỚI THIỆU NHÀ MÁY XI MĂNG AN GIANG
2.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NHÀ MÁY
XI MĂNG AN GIANG:
Nhà máy xi măng An Giang là một trong những nhà máy được thành lập
sau ngày miền Nam giải phóng, được khởi công xây dựng từ tháng 11 năm 1978
đưa vào sản xuất cuối năm 1979. Nhà máy xi măng An Giang được đặt tại khu
vực ấp Đông Thạnh, xã Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, với
diện tích mặt bằng chiếm 9 ha cạnh quốc lộ 91, cách trung tâm thành phố Long
Xuyên khoảng 6 km. Hàng năm nhà máy đã góp phần r
ất lớn trong nền kinh tế
quốc dân, cung cấp xi măng cho các công trình dân dụng và công nghiệp, xây
dựng cơ bản trong tỉnh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Sự ra đời của nhà
máy xi măng là cần thiết để cung cấp nguyên vật liệu cho công trình xây dựng,
khắc phục hậu quả chiến tranh gây ra, đồng thời phát triển kinh tế theo hướng
kiệm trong xây dựng, giảm chi phí đầu tư, hạ giá thành sản phẩm, quảng cáo
thương hiệu,…Sau hơn ba năm hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao,
Nhà máy đã hoàn vốn đầu t
ư, đồng thời đã được Trung Tâm 3 cấp dấu chứng nhận
phù hợp tiêu chuẩn quốc gia vào cuối năm 1998.
Nhà máy đã hoạt động hết công suất thiét kế nhưng cũng không đáp ứng đủ
nhu cầu tiêu thụ của xã hội, nên đầu năm 2000 lãnh đạo Công ty Xây Lắp đồng ý
cho nhà máy tiếp tục đầu tư thêm dây chuyền thứ hai (công suất 100.000
tấn/năm), về thiết bị chỉ mua máy nghiền bi, máy phân ly c
ủa Trung Quốc, một số
thiết bị còn lại như gầu nâng, sàn quay, máy đóng bao vít tải, cân băng điện
tử…nhà máy tự chế tạo và lắp đặt. Rút kinh nghiệm từ dây chuyền trước có cải
tiến máy phân ly, silô xi măng, bố trí dây chuyền hợp lý, nên giảm chi phí đầu tư
công trình gần 2.000 triệu đồng, hoàn thành đưa vào sử dụng trước thời hạn một
tháng (ngày 15/11/2000).
Phát huy hiệu quả sản xuất kinh doanh củ
a hai dây chuyền, tháng 3 năm
2001 được sự chỉ đạo của Công ty Xây Lắp, nhà máy xi măng tiếp tục đầu tư thêm
dây chuyền thứ ba và thứ tư với công nghệ thiết bị như hai dây chuyền nêu trên,
cũng chỉ mua ống nghiền và máy phân ly còn các thiết bị khác do cán bộ công
nhân viên nhà máy chế tạo. Nhờ có kinh nghiệm trong chế tạo và lắp đặt nên tiến
độ xây dựng nhanh hơn, chi phí đầu tư giảm chỉ còn 4.500 triệu đồng (giảm 2.800
triệu đồng so với dây chuyền thứ nhất và giảm 500 triệu đồng so với dây chuyền
thứ hai). Công trình đã đưa vào sử dụng tháng 2 và tháng 12 năm 2002. Nâng tổng
công suất của nhà máy lên 400.000 tấn/năm.
2.2. CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA NHÀ MÁY:
Nhà máy xi măng là đơn vị hạch toán kinh tế lý độc lập, cơ cấ
u bộ máy
quản lý gọn nhẹ, nhưng vẫn đảm bảo năng lực quản lý.
2.2.1 Sơ đồ tổ chức nhà máy xi măng An Giang
KỸ THUẬT - KCS
KẾ TOÁN
TRƯỞNG
KIÊM NHIỆM
TRƯỞNG PHÒNG
KẾ - TÀI
VỤ
PHÓ GIÁM ĐỐC
SẢN XUẤT
KIÊM NHIỆM
ĐẠI DIỆN LÃNH
ĐẠO
QUAN HỆ CHỈ ĐẠO - BÁO CÁO
GIÁM ĐỐC
2.2.2. Bộ máy quản lý:
- Ban Giám Đốc: gồm 01 Giám đốc và 03 Phó Giám đốc
+ Giám đốc nhà máy xi măng: là người đứng đầu và đại diện cho
cán bộ công nhân viên toàn Nhà máy, hoạch định kế hoạch sản xuất kinh doanh,
hệ thống quản lý ch
ất lượng đáp ứng các yêu cầu nêu trong tiêu chuẩn TCVN,
ISO 9001:2000. Phân công trách nhiệm quyền hạn và mối quan hệ của hệ thống
quản lý cho cán bộ công nhân viên. Thu nhận và cho cán bộ công nhân viên nghỉ
việc theo chế độ chính sách Nhà nước. Chịu trách nhiệm về tất cả các mặt hoạt
động sản xuất kinh doanh trước Công ty chủ quản và cấp trên.
Trợ giúp cho Giám đốc là các phó giám đốc và kế toán trưởng, gồm:
+ Phó giám đốc phụ trách kế hoạch - vậ
ệu đảm bảo chất lượng
theo đúng quy định.
Tham mưu cho Ban giám đốc lập kế hoạch và tổ chức triển khai kế hoạch
kinh doanh hàng tháng, quý, năm. Lập mục tiêu chất lượng Phòng kinh doanh
hàng năm trên cơ sở chính sách và mục tiêu chất lượng của Nhà máy. Tổ chức tiếp
thị - quảng cáo, điều tra nghiên cứu mở rộng thị trường. Phối hợp với kế toán
trưởng về quả
n lý công nợ bán hàng.
+
Phòng kế toán tài vụ:
Tổ chức công tác hạch toán kế toán, tài chính, thống kê lên bảng cân đốI kế
toán, theo dõi thu chi, chứng từ, hợp đồng kinh tế, tiêu thụ sản phẩm. Bộ máy kế
toán được tổ chức tập trung, giúp công tác quản lý tài chính được quản lý chặt
chẽ. Hiện nay cơ cấu bộ máy kế toán của Nhà máy gồm:
- Kế toán trưởng kiêm kế toán tổng hợp.
- Kế toán chi tiết.
- Kế toán thanh toán.
- Thủ quỹ
Hình thức sổ kế toán áp dụng cho Nhà máy là hình thức Nhật ký chung
SƠ ĐỒ BỘ MÁY KẾ TOÁN
KẾ TOÁN TRƯỞNG
KẾ TOÁN
THANH TOÁN
Lập mục tiêu chất lượng của phân xưởng sản xuất hàng năm trên cơ sở
chính sách mục tiêu chất lượng của Nhà máy. Điều hành, phân công và kiểm tra
cán bộ công nhân viên phân xưởng sản xuất thực hiện các hoạt động: Quản lý tổ
chức sản xuất; sản xuất sản phẩm xi măng PCB theo kế hoạch hàng tuần, hàng
tháng; theo dõi , đề nghị cấp nguyên vật liệu sản xuất; lập các lệnh s
ản xuất các
lệnh đóng bao, phiếu… và biên bản bàn giao sản phẩm xi măng. Phối hợp với
phòng kỹ thuật – KCS kiểm soát quá trình sản xuất (PC Plan), kiểm soát chất
lượng sản phẩm (QC PLan), kết hợp phân xưởng cơ - điện trong công tác bảo
dưỡng, sửa chữa; kiểm soát tài liệu, hồ sơ…tại phân xưởng sản xuất; xử lý sản
phẩm không phù hợp, khắc phục, phòng ngừa và cải ti
ến…
2.2.3. Tình hình nhân sự của Nhà máy:
Tổng số cán bộ công nhân viên của Nhà máy hiện nay là 240 người. Trong
đó: 11 nữ, Ban Giám đốc có 4 người. Trình độ đại học 15 người cao cấp chính trị
1 người, trung cấp chuyên môn và chính trị 6 người, Đảng viên 25 người.
Bảng1: Tình hình nhân sự của nhà máy năm 2003
STT Các b
ộ phận sản xuấtSố người
1
2
3
4
5
6
7
8
Vận chuyển vật liệu tiêu thụ
Vận hành máy
Tổ đóng bao
10 đến 15 ngày sau khi xu
ất giao hàng. Phương thức thanh toán là thu bằng tiền
mặt hoặc chuyển khoản qua ngân hàng.
Nhà máy tổ chức phân công theo dõi tình hình nợ chặt chẽ nhằm hạn chế
trường hợp bị khách hàng chiếm dụng vốn quá lâu làm ảnh hưởng đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của Nhà máy.
2.4. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA NHÀ MÁY:
2.4.1. Thuận lợi:
- Được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng Ủy, Ban Giám Đốc Công ty Xây
Lắp An Giang và các cơ
quan ban ngành của Tỉnh trong việc mua vật liệu phục vụ
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm xi măng An Giang vào xây dựng các công trình
trong Tỉnh.
- Sự tham gia tích cực của toàn thể cán bộ công nhân viên Nhà máy trong
lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, quản lý sản xuất kinh doanh có hiệu quả,
mở rộng thị trường tiêu thụ nhiều nơi.
- Nhà máy hiện có đội ngũ cán bộ có trình độ quản lý hệ thống bảo
đảm
chất lượng xi măng theo tiêu chuẩn quốc gia và dây chuyền công nghệ hiện đại
điều khiển bằng máy vi tính từ đầu vào nguyên liệu đến ra xi măng thành phẩm.
2.4.2. Khó khăn:
- Sản phẩm xi măng Hoa Mai An Giang mới tiếp cận thị trường nên người
tiêu dùng còn e dè chưa mạnh dạn sử dụng.
- Công tác tiếp thị đôi lúc chưa được thực hiện tốt khắp khu vực đồng bằng
sông Cửu Long.