Các giải pháp marketing - mix của dịch vụ thẻ Success tại Chi nhánh Láng Hạ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam”. - Pdf 85

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHNo & PTNT : Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn
NHNo: Ngân hàng Nông nghiệp
Agribank: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn Việt Nam
TMCP: Thương mại cổ phần
Vietcombank: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Vietinbank: Ngân hàng Công thương Việt Nam
DongABank: Ngân hàng Đông Á
ACB: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
ATM (Automated Teller Machine): Máy rút tiền tự động
PIN (Personal Indentification Number): Mã số cá nhân/ Mã số xác định chủ thẻ
EDC (Electronic Data Capture): Máy đọc thẻ điện tử
POS (Point of Sale): Điểm chấp nhận thẻ
Banknetvn: Công ty cổ phần Chuyển mạch tài chính
quốc gia Việt Nam
Smartlink: Công ty Cổ phần Dịch vụ Thẻ Smartlink
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Bảng 1: Hạn mức rút tiền tại máy ATM của thẻ ghi nợ Success
Bảng 2: Mức phí phát hành thẻ ghi nợ nội địa Success tại Chi nhánh Láng Hạ
Bảng 3: Mức phí áp dụng cho các giao dịch thực hiện trên máy ATM/EDC và
quầy giao dịch trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp
Bảng 4: Mức phí áp dụng cho các giao dịch thực hiện tại máy ATM qua
Banknetvn-Smartlink
Sơ đồ 1: Hệ thống cấp bậc mạng lưới chi nhánh của Agribank
Biểu đồ 1: Số lượng thẻ Success tại Chi nhánh Láng Hạ
Biểu đồ 2: Tốc độ tăng trưởng thẻ Success tại Chi nhánh Láng Hạ
Biểu đồ 3: Tỷ lệ phát sinh khi sử dụng thẻ Success


1
Phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động marketing – mix của
sản phẩm thẻ Success tại Chi nhánh Láng Hạ, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn
thiện hoạt động marketing – mix cho sản phẩm này.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận tư duy: duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Các phương pháp tổng hợp, phân tích, thực chứng, diễn giải, kết hợp với
quy nạp và diễn dịch.
Phương pháp thu thập thông tin thông qua thông tin sơ cấp từ cuộc nghiên
cứu, phỏng vấn của cá nhân tác giả cũng như thông tin thứ cấp từ các cuộc nghiên
cứu trước đây và được công bố rộng rãi trên tạp chí và sách chuyên ngành về
marketing ngân hàng trên thế giới và Việt Nam.
Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề gồm 3 phần lớn:
Phần 1: Tổng quan về thị trường thẻ ghi nợ Việt Nam
Phần 2: Thực trạng hoạt động marketing - mix của sản phẩm thẻ
Success tại Chi nhánh Láng Hạ Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển Nông thôn Việt Nam
Phần 3: Các giải pháp marketing – mix cho sản phẩm thẻ Success tại
Chi nhánh Láng Hạ - Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn Việt Nam
2
PHẦN 1
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG THẺ GHI NỢ VIỆT NAM
1. Giới thiệu chung về thẻ ghi nợ
1.1. Sự ra đời và phát triển của thẻ ghi nợ
Chiếc thẻ đầu tiên trên thế giới xuất hiện tại Mỹ vào năm 1914. Bắt đầu từ
thói quen cho khách hàng mua chịu, các chủ tiệm bán lẻ ở Mỹ khi đó không ngờ
rằng ý tưởng này đã bị Western Union lấy để hình thành nên những tấm thẻ đầu

giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua
những thiết bị điện tử đặt tại những nơi chấp nhận thẻ, đồng thời chuyển ngân
ngay lập tức vào tài khoản của bên bán hàng hóa, dịch vụ. Thẻ ghi nợ còn hay
được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động.
Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu
trên tài khoản của chủ thẻ. Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản:
- Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập
tức vào tài khoản chủ thẻ.
- Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch đợc khấu trừ vào tài
khoản chủ thẻ sau đó vài ngày.
b. Cấu tạo thẻ ghi nợ
Thẻ do bất kỳ tổ chức nào phát hành đều được làm bằng plastic với ba lớp
ép sát, lõi thẻ được làm bằng nhựa trắng cứng nằm giữa hai lớp tráng mỏng, màu
sắc của thẻ thay đổi tùy ngân hàng phát hành và tùy theo quy định thống nhất của
mỗi tổ chức thẻ. Thẻ có kích thước chung theo tiêu chuẩn quốc tế là 5.5x8.5 cm,
bao gồm hai mặt: mặt trước và mặt sau.
Mặt trước của thẻ bao gồm các thông tin sau: nhãn hiệu thương mại của
thẻ; tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ; số thẻ, tên chủ thẻ được in nổi, thời
điểm thẻ bắt đầu có giá trị. Ngoài ra, thẻ còn có thể có: hình của chủ thẻ, hình nổi
không gian ba chiều, con chip (đối với thẻ thông minh).
Mặt sau của thẻ bao gồm các thông tin sau: Dải băng từ chứa các thông tin
đã được mã hóa theo một chuẩn mực thống nhất (ngày hết hạn, các yếu tố kiểm tra
4
an toàn khác…), chữ ký hợp lệ của chủ thẻ…
1.2.2. Các lợi ích khi dùng thẻ
Việc sử dụng thẻ ghi nợ mang lại những lợi ích nhất định cho chủ thẻ, như:
gọn nhe, thuận tiện và an toàn.
Thẻ được thiết kế gọn nhẹ nên chủ thẻ có thể dễ dàng mang theo (trong khi
có thể số dư trong tài khoản là rất lớn). Vì vậy, việc rút tiền mặt hay thanh toán
tiền hàng hóa, dịch vụ trở nên dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện hơn so với việc

chế được các giao dịch tiền mặt không hợp pháp Vì vậy, đây là một phương tiện
thanh toán văn minh, hiện đại, được sử dụng và khuyến khích tại nhiều nước trên
thế giới.
2. Sự hình thành và phát triển thị trường thẻ ghi nợ tại Việt Nam
Tại VN, thị trường thẻ ghi nợ được hình thành bắt đầu từ việc Ngân hàng
thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) ký hợp đồng chấp
nhận thanh toán thẻ với tổ chức Master cuối những năm 90. Đó là bước khởi đầu
cho các thương hiệu thẻ quốc tế có mặt tại Việt Nam như Master, Visa, American
Express, JCB và Dinners Club. Từ 2002, Vietcombank cũng là ngân hàng đầu tiên
triển khai thẻ ghi nợ nội địa Connect 24. Từ đó về sau, các ngân hàng khác tiếp
bước khai thác thị trường dịch vụ được xem là hàng hóa thiết yếu trong tương lai
này.
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tỷ trọng thanh toán bằng thẻ hiện
chiếm 6% trong tổng số món giao dịch của các phương tiện thanh toán không dùng
tiền mặt. Tốc độ tăng trưởng bình quân của lượng thẻ phát hành ra lưu thông
những năm gần đây khoảng 150-300%/năm. Năm 2003, số lượng thẻ phát hành
chỉ ở mức gần 234.700 thẻ, năm 2006 là 3,5 triệu thẻ thì sang năm 2007 số lượng
thẻ đã tăng mạnh theo cấp số nhân lên đến gần 8,3 triệu thẻ. Và đến cuối năm
2008, số lượng thẻ đạt gần 14 triệu thẻ. Mặc dù các ngân hàng chạy đang cạnh
tranh về số lượng thẻ phát hành như hiện nay, nhưng thực chất, dịch vụ này chưa
mang lại lợi nhuận cho ngân hàng do mức đầu tư và chi phí duy trì loại dịch vụ
này là rất lớn, trong khi khách hàng không phải mất quá nhiều phí khi sở hữu và sử
dụng thẻ. Tuy nhiên, các ngân hàng thực hiện cung cấp dịch vụ thẻ nhằm tạo lập
hoặc nâng cao uy tín cho ngân hàng mình, đồng thời họ nhắm đến mức lợi nhuận
6
sau này - khi việc thu phí sử dụng thẻ được áp dụng - mang lại.
Khi thẻ ngân hàng xâm nhập vào thị trường Việt Nam cách đây khoảng 10
năm, lúc đó chỉ có vài ngân hàng phát hành thẻ như Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) ... Nhưng nay đã có
khoảng 39 ngân hàng khai thác thị trường thẻ với hơn 140 thương hiệu khác nhau.

hành thẻ đã liên minh với nhau, thành lập các công ty làm dịch vụ kết nối trung
gian. Các liên minh thẻ hiện nay gồm: Công ty Smartlink có 25 thành viên, với
2.056 máy ATM (chiếm 48% thị trường), 17.502 máy POS/EDC (chiếm 57%) và
số lượng thẻ đã phát hành gần 4,73 triệu thẻ (chiếm 57%); Liên minh thẻ Đông Á
có 5 thành viên tham gia đã phát hành gần 1,8 triệu thẻ (chiếm 21%), với gần 800
máy ATM (chiếm 18%), gần 1.700 máy POS/EDC (chiếm 57%) và Công ty cổ
phần chuyển mạch tài chính quốc gia Banknetvn với số lượng gần 2.700 máy
ATM chiếm 62% thị trường, gần 10.600 máy POS/EDC chiếm 46%, phát hành
hơn 5,2 triệu thẻ (chiếm 62%). Sự liên kết của các ngân hàng phát hành thẻ đã
giúp khách hàng dùng thẻ của ngân hàng này sử dụng trên máy ATM của ngân
hàng khác. Đến ngày 23/5/2008, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công ty CP
chuyển mạch tài chính quốc gia (Banknetvn) và Công ty CP dịch vụ thẻ Smartlink
(Smartlink) đã chính thức đưa hệ thống thanh toán thẻ Smartlink-Banknetvn đi vào
hoạt động. Hệ thống thanh toán này ban đầu gồm 5 thành viên: Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Vietinbank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Cổ phần Kỹ
thương Việt Nam (Techcombank). Ngân hàng Nhà nước đã phê duyệt và đang tập
trung thực hiện Đề án xây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất để kết nối
các liên minh thẻ. Trong lộ trình kết nối giữa 2 tổ chức thanh toán thẻ này, đến
cuối quý 3/2009, Banknetvn và Smartlink sẽ phối hợp triển khai kết nối liên thông
hệ thống ATM với các tất cả ngân hàng thành viên còn lại.
Ngoài việc đầu tư về số lượng máy ATM, POS và thực hiện liên thông
thanh toán, các ngân hàng trong nước cũng đang dần chuyển đổi công nghệ thẻ từ
sang thẻ chip để tăng tính bảo mật cho thẻ. Thẻ chip được đánh giá là loại thẻ
thông minh có thể ngăn ngừa các hoạt động gian lận bằng các bộ vi xử lý bên
8
trong con chíp gắn vào thẻ. Thẻ còn tăng cường khả năng bảo mật bằng cách thay
thế chữ ký bằng mã số cá nhân - PIN có thể sử dụng qua internet. Không những
ngăn ngừa gian lận mà thẻ chip còn là nền tảng cho các thế hệ thẻ mới với nhiều

số lượng máy ATM và POS còn hạn chế so với số lượng thẻ ghi nợ hiện được sử
dụng trên thị trường và việc áp dụng mức phí giao dịch trong hệ thống liên thông
thanh toán khiến khách hàng chỉ thực hiện giao dịch tại các điểm đặt máy ATM và
POS của ngân hàng mình, hiếm khi thực hiện giao dịch tại các điểm đặt máy của
ngân hàng khác. Như vậy, hệ thống liên thông thanh toán đã không phát huy hết
ưu thế của nó. Thêm vào đó, số lượng khách hàng thực hiện giao dịch tại một máy
ATM hoặc POS rất lớn dẫn đến tình trạng khách hàng phải chờ đợi lâu khi muốn
thực hiện giao dịch. Thứ ba, chất lượng các máy ATM và POS được khách hàng
đánh giá là chưa cao, tình trạng lỗi hệ thống còn phổ biến gây mất lòng tin khách
hàng. Thứ tư, độ an toàn tại nơi rút tiền vẫn chưa được các ngân hàng quan tâm
một cách đúng mức. Như vậy, các yếu tố bất cập trên tác động không tốt tới tới sự
phát triển của phương thức thanh toán này.
Yếu tố ảnh hưởng thứ hai là thu nhập của người dân. Người dân có mức thu
nhập cao sẽ có sức mua sắm cao hơn. Khi đó, thanh toán bằng thẻ chính là phương
thức thanh toán được ưa chuộng do các ưu điểm nhanh chóng, thuận tiện, hiện đại
và an toàn mang lại cho chủ thẻ.
3.2. Hệ thống chính sách nhà nước về thẻ và hình thức thanh toán
điện tử
Hệ thống chính sách nhà nước về thẻ và thanh toán điện tử chính là chiếc
khung để các ngân hàng thực hiện hoạt động kinh doanh thẻ nằm trong khuôn khổ
nhằm cân bằng giữa lợi ích khách hàng, lợi ích của ngân hàng và lợi ích của toàn
xã hội, để phù hợp với xu thế vận động của toàn thế giới và định hướng phát triển
kinh tế của nước ta.
Khi nhận biết được các lợi ích từ việc thanh toán điện tử, Nhà nước sẽ có
các chủ trương khuyến khích người dân sử dụng hình thức thanh toán này trong
tiêu dùng. Cụ thể tại Việt Nam, năm 2007 là năm phát triển vượt trội của thị
trường thẻ. Nguyên nhân của sự phát triển này không thể không kể đến Chỉ thị
20/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về trả lương qua tài khoản cho các đối
10
tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Như vậy, đây chính là điều kiện tốt để

các tiện ích của thẻ đó bởi hầu hết các ngân hàng vẫn chưa chú trọng đến chất
lượng mà dịch vụ thẻ cung cấp. Việc chỉ tập trung phát triển số lượng thẻ phát
hành của các ngân hàng ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng thị trường thẻ. Số
lượng thẻ được phát hành có thể chỉ là con số ảo, vì công tác quản lý thẻ chưa
được sát sao nên có những thẻ được phát hành ra, nhưng thực chất không được
đưa vào sử dụng trong các giao dịch phi tiền mặt, mà chỉ dùng để rút tiền. Như
vậy, trên thực tế, sự cạnh tranh này không mang lại lợi ích cho chủ thẻ xứng đáng
với quy mô số lượng thẻ được phát hành.
Ngoài ra, sự cạnh tranh gay gắt hơn trong thời gian qua thể hiện thông qua
việc thành lập các liên minh thanh toán khác nhau trên thị trường thẻ. Các liên
minh thanh toán này được thành lập để tăng tính cạnh tranh giữa các ngân hàng,
song đây chỉ là liên minh mang tính tự phát, không có sự chỉ đạo, hướng dẫn của
Ngân hàng Nhà nước nên liên minh thanh toán này đã làm hạn chế hiệu quả và
tiện ích cho người sử dụng, hạn chế tốc độ phát hành và thanh toán bằng thẻ. Như
vậy, sự cạnh tranh này không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của chủ thẻ, mà còn ảnh
hưởng tới sự phát triển của thị trường thẻ như đã phân tích ở trên. Tuy nhiên, sau
một thời gian diễn ra tình trạng này, Ngân hàng Nhà nước đã có sự can thiệp bằng
cách phê duyệt và tập trung thực hiện Đề án xây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ
thống nhất để kết nối các liên minh thẻ lại với nhau để đảm bảo lợi ích của chủ
thẻ, đồng thời cũng đảm bảo lợi ích của các ngân hàng. Và thành công bước đầu
của đề án này là sự liên thông giữa hai liên minh thẻ lớn nhất: Smartlink và
Banhknetvn để tiến tới sự thống nhất trên toàn thị trường thẻ.
Thời gian gần đây, chất lượng dịch vụ thẻ cũng đã được các ngân hàng
quan tâm hơn trước. Vì đây là một dịch vụ hiện đại của ngân hàng nên các ngân
hàng không thể không đầu tư công nghệ và coi trọng việc ứng dụng các công nghệ
hiện đại. Công nghệ hiện đại sẽ làm tăng chất lượng dịch vụ thẻ nói riêng và chất
lượng thị trường thẻ nói chung. Đối với các ngân hàng cung cấp, đó chính là yếu
tố làm tăng thêm uy tín, thị phần, để thu hút đầu tư, làm tăng lợi nhuận và là một
công cụ cạnh tranh hiệu quả trên thị trường. Sự cạnh tranh lành mạnh này không
chỉ mang lại lợi ích cho các ngân hàng mà còn mang lại lợi ích cho chủ thẻ, góp

hàng tham gia sử dụng dịch vụ.
13
Sự ảnh hưởng vô cùng quan trọng nữa là sự ảnh hưởng của trình độ công
nghệ đến tính an toàn, bảo mật của thẻ cũng như công tác quản lý thẻ trong điều
kiện số lượng thẻ tăng nhanh như hiện nay. Tính bảo mật của thẻ ngày càng được
các ngân hàng quan tâm một cách đúng mực khi một loạt các quốc gia và vùng
lãnh thổ trong khu vực như Malaysia, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore, Trung
Quốc... đang tích cực chuyển sang loại thẻ thông minh theo chuẩn EMV có độ an
toàn cao hơn nên tội phạm giả mạo thẻ đang có xu hướng chuyển hoạt động sang
địa bàn Việt Nam, vì tuyệt đại đa số người Việt Nam đang sử dụng thẻ từ - loại thẻ
dễ bị làm giả hơn thẻ thông minh (thẻ chip). Loại thẻ chip này sẽ đảm bảo an toàn
cho chủ thẻ một cách tốt hơn, mang lại lòng tin của chủ thẻ đối với dịch vụ thẻ,
đồng thời làm tăng uy tín của ngân hàng. Vì vậy, lượng người sử dụng dịch vụ này
trên thị trường Việt Nam cũng không ngừng tăng lên. Ngoài ra, với tốc độ phát
triển thị trường cao như hiện nay và dự báo sẽ còn cao nữa trong tương lai, công
tác quản lý thẻ cũng gặp nhiều khó khăn. Do vậy, nếu được áp dụng các phần
mềm công nghệ cao, ngân hàng sẽ tránh được rủi ro trong công tác quản lý thẻ của
mình.
Qua phân tích sự tác động của trình độ công nghệ của ngân hàng, ta có thể
thấy rằng sự ảnh hưởng của yếu tố này tới thị trường thẻ là rất lớn, nhất là khi dịch
vụ thẻ là một trong những dịch vụ hiện đại của ngân hàng cần được đầu tư công
nghệ cao.
3.5. Định hướng phát triển của ngân hàng trên thị trường thẻ
Định hướng phát triển của các ngân hàng ảnh hưởng không nhỏ tới xu
hướng, xu thế và sức cạnh tranh trên thị trường thẻ. Sản phẩm – dịch vụ thẻ của
ngân hàng được định hướng theo hai hướng: đối với sản phẩm – dịch vụ mới và
đối với sản phẩm - dịch vụ hiện tại.
Khi các ngân hàng định hướng phát triển sản phẩm thẻ hiện tại và thực hiện
duy trì hoặc phấn đấu dẫn đầu về quy mô, số lượng, chất lượng…thẻ thì ngân hàng
sẽ nỗ lực, thực hiện tăng tốc để phát triển dịch vụ hiện tại của mình với tốc độ cao

ATM của thẻ ghi nợ Success.
Bảng 1: Hạn mức rút tiền tại máy ATM của thẻ ghi nợ Success
15
Hạn mức Số tiền
Hạn mức rút tiền 1 ngày 25.000.000 VNĐ
Hạn mức chuyển khoản 1 ngày 25.000.000 VNĐ
Hạn mức rút tiền 1 lần 5.000.000 VNĐ
Hạn mức thấu chi 30.000.000 VNĐ
Số lần rút tiền 1 ngày Không hạn chế
(Nguồn: Phòng Dịch vụ và Marketing Chi nhánh Láng Hạ NHNo & PTNT)
4.2.2. Thanh toán hóa đơn cho các đơn vị cung ứng dịch vụ tại máy
ATM (trong hoặc ngoài hệ thống Agribank)
Đây là tiện ích mang lại nhiều tiện lợi cho chủ thẻ cũng như các đơn vị
cung ứng dịch vụ (điện, nước, Internet, điện thoại…). Chủ thẻ sẽ có thể chủ động
thanh toán hóa đơn bất cứ khi nào họ muốn mà không phải đi đến bưu cục hoặc
địa điểm thanh toán (đối với những nơi không thực hiện thanh toán tại nhà). Đối
với nhà cung cấp dịch vụ, họ chỉ cần gửi hóa đơn đến khách hàng và có thể tiết
kiệm được một lượng đáng kể chi phí tiền lương cho nhân viên thu phí tại nhà
cũng như tránh được việc nhầm lẫn trong thanh toán bằng tiền mặt. Như vậy,
thanh toán hóa đơn cho các đơn vị cung ứng dịch vụ tại máy ATM mang lại lợi ích
không chỉ cho chủ thẻ mà còn cho các đơn vị cung ứng dịch vụ. Đây là hình thức
thanh toán hiện đại và tiện lợi, nên được khuyến khích sử dụng.
4.2.3. Thanh toán mua hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận
thẻ của Ngân hàng Nông nghiệp
Hiện nay, Ngân hàng Nông nghiệp đang tiến hành mở rộng hệ thống máy
POS và khuyến khích các cửa hàng, khách sạn… trở thành đơn vị chấp nhận thẻ
của Ngân hàng để mang lại lợi ích thanh toán cho khách hàng cũng như đơn vị đó.
Tiện ích này sẽ làm khách hàng dần mất đi thói quen thanh toán bằng tiền mặt,
tránh nhầm lẫn trong thanh toán. Đây còn là hình thức thanh toán mang lại sự tiện
lợi cho chủ thẻ trong việc mang theo một số tiền lớn mà nếu không dùng thẻ, rủi ro

bằng tiền mặt, Nhà nước và các ngân hàng cũng có các chính sách tạo điều kiện
thuận lợi cho người dân để khuyến khích và khiến họ dần có thói quen thanh toán
điện tử.
4.2.9. Nhận tiền lương, nhận tiền chuyển đến từ trong và ngoài nước,
nhận lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội
Ngoài việc khuyến khích không dùng tiền mặt, tiện ích này còn giúp khách
17
hàng không gặp bất tiện khi nhận tiền bằng tiền mặt như: nhầm lẫn trong chi trả
(lương, bảo hiểm xã hội…), tốn thời gian chờ đợi… Hơn nữa, còn giúp các đơn vị
trả lương cho nhân viên qua tài khoản tiết kiệm được thời gian thanh toán tiền
lương và chi phí cho nhân viên tiền lương. Hiện nay, những đối tượng được
khuyến khích nhận lương qua tài khoản là cán bộ, công nhân viên nhà nước (đang
làm việc hoặc đã về hưu), nhưng đối tượng của tiện ích này đang được mở rộng ra
các đơn vị tư nhân, doanh nghiệp không thuộc nhà nước.
4.3. Thủ tục phát hành thẻ Success
Khi muốn sử dụng sản phẩm - dịch vụ thẻ Success, khách hàng chỉ cần thực hiện:
Mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển Nông thôn Việt Nam
Điền các thông tin cần thiết vào giấy đề nghị phát hành thẻ ghi nợ, hợp
đồng sử dụng thẻ
Nộp bản sao chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu (xuất trình bản
gốc để đối chiếu) cùng 2 ảnh 4x6 cm chụp trong phạm vi 06 tháng gần
nhất
Trong vòng 04 ngày làm việc kể từ ngày Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển Nông thôn Việt Nam nhận giấy đề nghị phát hành thẻ, khách hàng
sẽ nhận được thẻ ghi nợ Success và mã PIN (trường hợp phát hành nhanh là
02 ngày làm việc).
18
PHẦN 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING – MIX CỦA SẢN

Ngân hàng định hướng trong thời gian tới, Ngân hàng Nông nghiệp sẽ tiếp
tục phát triển dịch vụ thẻ bằng việc nghiên cứu đưa ra thị trường các sản phẩm,
dịch vụ thẻ phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Đồng thời, ngân hàng cũng tiến
hành nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ để đáp ứng nhu cầu khách hàng ngày một tốt
hơn và mở rộng thị phần trên thị trường thẻ.
Các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Ngân hàng Nông nghiệp trên thị trường
thẻ ghi nợ nội địa có thể thấy rất rõ, đó là: Ngân hàng thương mại cổ phẩn Ngoại
thương Việt Nam (Vietcombank) với thương hiệu thẻ Vietcombank Connect 24;
Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á (DongABank) với các thương hiệu thẻ
Thẻ Liên kết sinh viên, Thẻ Đa năng Richland Hill, Thẻ Đa năng CK Card, Thẻ
Đa năng Đông Á và mới đây (ngày 27/2/2009) là thẻ Đa năng Dr Card dành cho
đối tượng khách hàng là các y bác sĩ; Ngân hàng Công thương Việt Nam với
thương hiệu thẻ E-Partner (S-Card, C-Card, G-Card, Pink Card, 12 Con Giáp).
Đối thủ cạnh tranh mạnh nhất của Ngân hàng Nông nghiệp hiện nay là
Vietcombank. Đây là ngân hàng thương mại đầu tiên và đứng đầu ở Việt Nam
triển khai dịch vụ thẻ với hơn 3 triệu thẻ ghi nợ nội địa được phát hành (tính đến
đầu năm 2008). Vietcombank cũng chính là ngân hàng đứng đầu hệ thống thanh
toán liên ngân hàng Smartlink với 25 ngân hàng thành viên. Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam cũng là ngân hàng có số lượng máy ATM và POS lớn nhất trên
thị trường thẻ ghi nợ. Họ có tới 1.250 điểm đặt máy ATM và 10.000 điểm chấp
nhận thẻ (tính đến đầu năm 2008). Đây là những con số đáng kể thể hiện tầm,
mức, khả năng bao phủ thị trường của Vietcombank. Nhìn sơ qua các địa điểm đặt
máy ATM, ta có thể thấy họ đánh vào thị trường thẻ tại các đô thị lớn với mức độ
tập trung cao, đảm bảo tiện lợi cho các khách hàng tại các thành phố lớn.
DongABank đang dần phát triển lớn mạnh với tốc độ tăng trưởng thẻ
khổng lồ theo từng năm. Đồng thời, họ cũng xác định hướng đi cho mình là ngân
hàng đi đầu trong việc triển khai các dịch vụ ngân hàng hiện đại, đáp ứng nhu cầu
thiết thực cho cuộc sống hàng ngày. Với mục tiêu như vậy, DongABank đã phát
20
triển rất nhiều chủng loại thẻ (tính đến nay là 06 chủng loại thẻ) với hơn 900 máy

Trích đoạn Chính sách sản phẩm Chính sách giá Chính sách xúc tiến Chính sách con ngườ Chính sách quy trình cung ứng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status