Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG I...................................................................................................4
CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG CHO VAY ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ......................................................4
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI..........................................................4
1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế...................................4
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ.............................................4
1.1.2 Các đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam............6
1.1.3 Vị trí, vai trò của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ...........................8
1.2 Thẩm định tài chính dự án trong cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ 14
1.2.1 Khái niệm thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay
Doanh nghiệp vừa và nhỏ.....................................................................14
1.2.2 Các chỉ tiêu sử dụng để thẩm định tài chính trong cho vay Doanh
nghiệp vừa và nhỏ................................................................................24
1.2.3 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác thẩm định tài chính trong
cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ.......................................................28
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thẩm định tài chính trong cho
vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ.................................................30
CHƯƠNG II................................................................................................32
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG
CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA....................................................................32
2.1 Tổng quan về Ngân hàng Công thương Đống Đa.........................32
2.1.1 Quá trình hình thành phát triển...................................................32
2.1.2 Cơ cấu tổ chức.............................................................................33
2.1.3 Tình hình hoạt động trong những năm gần đây.........................34
2.2 Công tác thẩm định tài chính dự án trong cho vay doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa.....................................42
2.2.1 Xem xét tổng thể DAĐT.............................................................42
đồng đều giữa các khu vực… Tuy nhiên các Doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện
nay vẫn ở tình trạng quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ thấp… Để để có thể
thành công trong một nền kinh tế cạnh tranh cao độ như hiện nay, các doanh
nghiệp phải thường xuyên thay đổi công nghệ, máy móc, thiết bị, các phương
pháp, bí quyết sản xuất. Do vậy, Doanh nghiệp vừa và nhỏ cần rất nhiều vốn,
mà lượng vốn tự có không thể đáp ứng được nên các doanh nghiệp tìm đến
ngân hàng và vay trung và dài hạn nhiều hơn.
SV: Hồ Thị Hoàng Yến 2 Lớp Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Mặt khác, ngoài Ngân hàng Đầu tư và phát triển thì tín dụng trung và
dài hạn chỉ mới được các Ngân hàng khác chú ý và kết quả ở lĩnh vực này còn
rất khiêm tốn. Trước thực tế đó, đòi hỏi các Ngân hàng không ngừng nâng cao
chất lượng tín dụng mà trọng tâm là chất lượng thẩm định dự án. Điều này
không chỉ có ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng mà còn
góp phần tiết kiệm vốn cho toàn xã hội, thúc đẩy mở rộng, phát triển hiệu quả
cho nền kinh tế. Tuy nhiên, công tác thẩm định dự án ở các Ngân hàng hiện
nay chưa được thống nhất đầy đủ về lý luận lẫn thực hành. Chí vì lẽ đó, trong
thời gian thực tập ở Chi nhánh Ngân hàng Công thương Đống Đa, tôi đã chọn
để tài: “Hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án trong cho vay Doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa”
Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Công tác thẩm định tài chính dự án trong cho vay Doanh
nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án trong cho
vay đối với Doanh nghiệp vừa và tại Ngân hàng Công
thương Đống Đa
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án
trong cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tai Ngân hàng
Công thương Đống Đa
Chuyên đề này được hoàn thành với sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy
riêng. Như vậy, để phân loại DNVVN có thể dùng các yếu tố đầu vào hoặc
SV: Hồ Thị Hoàng Yến 4 Lớp Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
các yếu tố đầu ra của doanh nghiệp, hoặc là sự kết hợp của cả hai loại yếu tố
đó.
Việc sử dụng các tiêu thức để phân loại DNVVN ở các nước trên thế
giới có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Các nước dùng tiêu thức khác nhau. Trong số các tiêu thức đó, hai tiêu
thức được sử dụng nhiều nhất ở phần lớn các nước là quy mô vốn và lao
động. Tiêu thức đầu ra được ít nước sử dụng hơn.
- Số lượng tiêu thức sử dụng để phân loại cũng không giống nhau. Có
nước chỉ dùng một tiêu thức nhưng cũng có nhiều nước sử dụng đồng
thời hai hoặc nhiều tiêu thức để phân loại DNVVN.
- Lượng hóa các tiêu thức này thành các tiêu chuẩn giới hạn cụ thể ở các
nước khác nhau không giống nhau. Độ lớn của các tiêu chuẩn giới hạn
phụ thuộc vào trình độ, hoàn cảnh, điều kiện phát triển kinh tế, định
hướng chính sách và khả năng trợ giúp cho các DNVVN của mỗi nước.
Điều này làm cho số lượng các DNVVN có thể rất lớn hoặc nhỏ tùy
theo giới hạn độ lớn khối lượng vốn và lao động sử dụng ở mỗi nước.
- Khái niệm DNVVN mang tính tương đối, nó thay đổi theo từng giai
đoạn phát triển kinh tế - xã hội nhất định và phụ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế - xã hội của từng nước; từng thời kỳ cụ thể; từng ngành
nghề khác nhau…
- Từng thời kỳ, các tiêu thức và tiêu chuẩn giới hạn lại có sự thay đổi cho
phù hợp với đường lối, chính sách, chiến lược và khả năng hỗ trợ của
mối quốc gia. Những tiêu thức phân loại DNVVN được dùng làm căn
cứ thiết lập những chính sách phát triển, hỗ trợ DNVVN của các Chính
phủ.
Từ những phân tích khái niệm chung về DNVVN, các tiêu thức và giới
hạn tiêu chuẩn, tiêu thức được sử dụng trong phân loại DNVVN trên thế giới
giá là lạc hậu. Công nghệ lạc hậu chếm tỷ trọng rất lớn là đặc điểm khác biệt
của DNVVN so với các DNVVN ở các nước phát triển. Đối với các DNVVN
trên thế giới, công nghệ trang bị và sử dụng thường rất hiện đại. Chúng chỉ
khác so với doanh nghiệp lớn về quy mô vốn đầu tư, số lao động. Do đó, khả
SV: Hồ Thị Hoàng Yến 6 Lớp Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
năng sản xuất, năng suất và chất lượng sản phẩm do các DNVVN của nước
ngoài tạo ra khá cao và là một bộ phận không thể tách rời của các doanh
nghiệp lớn, có liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp lớn dưới dạng vệ tinh cung
cấp các bộ phận, linh kiện vật tư. Một số khác tồn tại độc lập thì lại có chất
lượng cao và tập hợp thành một quần thể như những liên hiệp sản xuất khu
vực có chất lượng sản phẩm cao, có thể tham gia cạnh tranh trên thị trường.
Thứ hai, nói đến doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trước tiên và chủ
yếu là nói đến các doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài quốc doanh. Do tính lịch
sử của quá trình hình thành và phát triển các thành phần kinh tế ở nước ta, đại
bộ phận các DNVVN, theo quy định hiện hành của Thủ tướng Chính phủ, đều
thuộc khu vực ngoài quốc doanh. Bởi vậy, đặc điểm và tính chất của các
doanh nghiệp thuộc khu vực này mang tính đại diện cho DNVVN ở Việt Nam.
Chẳng hạn, các con số thống kê về tỷ trọng GDP đóng góp trong cơ cấu kinh
tế, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm, số lao động, vốn, đặc điểm về
công nghệ, máy móc sử dụng, trình độ quản lý, khả năng về vốn cho đến nay
chủ yếu tổng kết cho khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh, chứ chưa có số
liệu điều tra chính thức riêng biệt cho toàn bộ các DNVVN Việt Nam. Các
DNVVN chủ yếu bao gồm các loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Vị trí, vai trò và tốc độ, xu hướng phát triển
của những doanh nghiệp này rất khác nhau.
Thứ ba, Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam khó tiếp cận dịch vụ ngân
hàng. Có thể nói hầu hết các dịch vụ ngân hàng (huy động vốn, dịch vụ cho
vay, đầu tư, thanh toán, bảo lãnh, cho thuê tài chính, tư vấn, quản lý tài sản...)
đã đến với cộng đồng các doanh nghiệp. Tuy nhiên khó khăn lớn nhất, bức
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vị trí, vai trò rất quan trọng trong nền kinh
tế mỗi nước, kể cả các nước có trình độ phát triển cao. Trong bối cảnh cạnh
tranh toàn cầu gay gắt như hiện nay, các nước đều chú ý hỗ trợ các DNVVN
nhằm huy động tối đa các nguồn lực và hỗ trợ cho công nghiệp lớn, tăng sức
cạnh tranh của sản phẩm. Vị trí, vai trò của các DNVVN đã được khẳng định
thể hiện qua các điểm chủ yếu sau:
- Về số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm ưu thế tuyệt đối
SV: Hồ Thị Hoàng Yến 8 Lớp Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ có mặt trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực và
tồn tại như một bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế mỗi nước.
Nó là một bộ phận hữu cơ gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn, có
tác dụng hỗ trợ, bổ sung, thúc đẩy các doanh nghiệp lớn phát triển.
- Sự phát triển của các DNVVN góp phần quan trọng trong việc giải
quyết những mục tiêu kinh tế - xã hội sau đây:
Một là, đóng góp đáng kể vào sự phát triển và ổn định kinh tế của
đất nước. Việc phát triển DNVVN đóng góp quan trọng vào tốc
độ tăng trưởng nền kinh tế, ổn định xã hội và tăng trưởng GDP.
Hai là, cung cấp cho xã hội khối lượng hàng hóa đáng kể
Ba là, thu hút lao động, tạo ra nhiều việc làm với chi phí đầu tư
thấp, giảm thất nghiệp.
Bốn là, tạo ra nguồn thu nhập ổn định, thường xuyên cho dân cư,
góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập các bộ phận dân cư,
tạo ra sự phát triển tương đối đồng đều giữa các khu vực kinh tế
khác nhau. Khả năng sản xuất phân tán, sử dụng lao động tại chỗ
vừa tạo việc làm vừa tạo nguồn thu nhập ổn định cho dân cư
trong các vùng góp phần quan trọng trong việc giảm bớt khoảng
cách thu nhập và mức sống giữa các vùng trong nước.
Năm là, khai thác, phát huy các nguồn lực và tiềm năng tại chỗ
của các địa phương, các nguồn tài chín của dân cư trong vùng.
thuộc khu vực ngoài quốc doanh. Khu vực này giải quyết khá lớn lượng lao
động. Hiện chiếm tới 42,7% chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh là lao động
từ khu vực nhà nước chuyển sang trong quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp nhà
nước, góp phần giải quyết việc làm, thu nhập và ổn định tình hình kinh tế - xã
hội. Ước tính của một nghiên cứu cho thấy DNVVN giải quyết khoảng 26%
lao động cả nước (không kể lao động trong hộ gia đình, một lực lượng đông
đảo nhất Việt Nam hiện nay). Con số này cho thấy vai trò quan trọng của
DNVVN lớn hơn 2,5 lần so với các doanh nghiệp nhà nước về số lao động
(7,8 triệu so với 3 triệu). Ở Việt Nam theo ước tính có khoảng 7,8 triệu lao
động được thu hút vào làm việc trong các DNVVN. Đây là một cách phát triển
góp phần giải quyết tốt sức ép thất nghiệp đang ngày càng gia tăng do dân số
đông.
SV: Hồ Thị Hoàng Yến 10 Lớp Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Vị trí, vai trò của DNVVN càng tăng lên khi chi phí trung bình để tạo ra
một chỗ làm việc trong các DNVVN ở Việt Nam vào khoảng 740.000 đồng
chỉ bằng 3% trong các doanh nghiệp lớn (trung bình tạo ra một việc làm ở
Việt Nam cần 5-10 triệu đồng). Hơn nữa nguồn vốn huy động chủ yếu trong
dân cư, trong điều kiện thiếu vốn thì đây là giải pháp rất quan trọng phát huy
nội lực. Các DNVVN hoạt động nhờ vay vốn ngân hàng rất nhỏ. Nguồn vốn
chủ yếu huy động từ những người thân quen, họ hàng. Trong tình hình đó
DNVVN là người tiếp xúc trực tiếp với người cho vay, huy động vốn từ khu
vực tư nhân nhanh và có hiệu quả.
Với những lợi ích to lớn đó, việc khuyến khích, hỗ trợ phát triển các
DNVVN là một giải pháp quan trọng để thực hiện Chiến lượng phát triển kinh
tế - xã hội đến 2010, đặc biệt là thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp và nông thôn. Đây cũng là một trong các giải pháp bảo đảm sự phát
triển bền vững của nền kinh tế nước ta.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và tự do thưong mại như hiện nay,
phát triển các DNVVN có nhiều lợi thế như:
khu vực KTTN trong tổng số vốn tín dụng cho các khu vực kinh tế khoảng
46% và từ năm 2000 - 2003 tỉ trọng này đã tăng lên đáng kể (năm 2000:
55,7%; năm 2001: 57,8%; năm 2002: 61,3%; năm 2003: 64,5%).
Tuy nhiên, hiện nay các DNVVN đang gặp phải một cản trở rất lớn đến
sự phát triển sản xuất kinh doanh và là hiện tượng phổ biến, đó là tình trạng
thiếu vốn để sản xuất và mở rộng sản xuất. Quy mô của doanh nghiệp hầu hết
là nhỏ, một số ít có quy mô vừa, số có quy mô lớn rất ít (theo Nghị định của
Chính phủ số 90/2001/NĐ- CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 thì DNVVN có
vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm
không quá 300 người).
Thực tế những năm gần đây, số doanh nghiệp có vốn sử dụng dưới 10
tỷ đồng chiếm 94,93%, bình quân vốn thực tế sử dụng một doanh nghiệp là
3,7 tỷ đồng, lao động bình quân là 26 người. Mức trang bị tài sản cố định trên
SV: Hồ Thị Hoàng Yến 12 Lớp Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
1 lao động của doanh nghiệp tư nhân chỉ có 34,7 triệu đồng. Chỉ tiêu hiệu quả
của DNVVN rất thấp, tỷ suất lợi nhuận/vốn rất thấp quá xa so với lãi suất
ngân hàng. Điều này chứng tỏ khả năng tích tụ và huy động vốn của các
DNVVN trong toàn xã hội còn thấp.
Lượng vốn tự có của các doanh nghiệp chỉ đáp ứng từ 20% đến 30%
yêu cầu. Các doanh nghiệp thiếu vốn dẫn đến việc họ không có điều kiện đầu
tư khoa học công nghệ hiện đại. Nhiều nhà doanh nghiệp ban đầu có ý định
phát triển sản xuất nhưng do thiếu vốn nên đã gặp nhiều khó khăn lúng túng
trong việc triển khai và nhiều khi họ phải hủy bỏ hợp đồng đã ký với đối tác.
Điều đó giải thích tại sao các DNVVN thường là các doanh nghiệp trên lĩnh
vực thương mại dịch vụ, những ngành nghề đòi hỏi vốn ít, thời gian thu hồi
vốn nhanh, thu lãi ngay chứ chưa đủ sức đầu tư vào những ngành nghề, lĩnh
vực quan trọng đòi hỏi nhiều vốn, có công nghệ tiên tiến. Còn với các nhà sản
xuất, trong ba hình thức tổ chức kinh doanh (doanh nghiệp tư nhân, công ty
trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần) thì loại hình doanh nghiệp tư nhân
Dự án được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:
- Theo tính chất của dự án, gồm có: Dự án sản xuất kinh doanh, dự án
phát triển kinh tế xã hội, dự án nhân đạo…
- Theo ngành mà dự án đầu tư, gồm có: Dự án công nghiệp, nông nghiệp,
giáo dục đào tạo…
- Theo thời gian, gồm có: Dự án ngắn hạn, dự án dài hạn.
- Theo người khởi xướng: Dự án được phân loại thành dự án cá nhân; dự
án tập thể; dự án quốc gia; dự án quốc tế.
- Theo cấp độ: Dự án được phân loại thành dự án lớn và dự án nhỏ
- …..
1.2.1.2 Khái niệm thẩm định tài chính dự án
Một dự án được lập ra không thể tránh khỏi việc mang nặng tính chủ
quan của chủ đầu tư. Do đó, Ngân hàng cần thẩm định dự án và các yếu tố liên
quan tới dự án trước lúc cho vay.
SV: Hồ Thị Hoàng Yến 14 Lớp Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Như vậy, thẩm định dự án trong cho vay của ngân hàng là rà soát, kiểm
tra lại một cách khoa học, khách quan và toàn diện mọi nôi dung của dự án và
liên quan đến dự án nhằm khẳng định tính hiệu quả cũng như tính khả thi, khả
năng hoàn trả vốn vay của dự án trước khi quyết định đầu tư.Việc thẩm định
dự án thường thẩm định trên các mặt: xã hội, tài chính, kỹ thuật, kinh tế.
Thẩm định tài chính dự án là nghiên cứu tính hiệu quả tài chính của dự
án, đây là một nội dung quan trọng trong thẩm định dự án. Thẩm định tài
chính dự án bao gồm nhiều nội dung liên quan chặt chẽ với nhau, bao gồm:
* Vòng đời của dự án (Thời gian tồn tại của một dự án)
Để thẩm định thời gian tồn tại của một dự án người ta dựa trên cơ sở:
Thứ nhất, tính chất kỹ thuật của dự án: vòng đời của dự án sẽ phụ thuộc
vào thời gian sử dụng của tài sản cố định hay phụ thuộc vào công nghệ sản
xuất ra tài sản này. Thông thường đời sống kỹ thuật thường lớn hơn thời gian
sử dụng tài sản.
động ban đầu cần thiết để đảm bảo cho dự án có thể đi vào hoạt động
bình thường theo các điều kiện kinh tế - kỹ thuật của dự án, bao gồm:
- Dự trữ tiền mặt
- Các khoản phải thu và trả trước
- Dự trữ hàng hóa, nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm tồn
kho
Vốn dự phòng:
Do dự án hoạt động trong nhiều năm và những con số đưa ra chỉ là dự
tính nên cần có một lượng vốn nhất định bù đắp trong trường hợp phát sinh
thêm chi phí. Khi đó vốn dự phòng sẽ được dùng để đáp ứng nhanh chóng nhu
cầu cần chi, đảm bảo tiến độ thực hiện dự án.
Bên cạnh việc phân tích cơ cấu vốn đầu tư theo các khoản mục chi phí,
cần xem xét vốn đầu tư dưới hình thái tiền và hiện vật, đặc biệt với các loại tài
SV: Hồ Thị Hoàng Yến 16 Lớp Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
sản có sẵn để xác định chính xác giá trị sử dụng tốt nhất của chúng đối với dự
án. Khái niệm chi phí cơ hội có thể được vận dụng để đánh giá tài sản trong
trường hợp này.
Một khía cạnh nữa cần phải quan tâm là khả năng đảm bảo nguồn vốn
về số lượng và tiến độ từ các nguồn khác nhau. Để có đủ vốn đầu tư cho dự
án, ngoài phần vốn tự có (tự tích lũy), chủ đầu tư có thể nhận được vốn ngân
sách cấp phát hoặc cho vay, vốn vay của ngân hàng, huy động vốn liên doanh
hoặc gọi thêm vốn cổ phần từ các nhà đầu tư khác.
Bên cạnh đó, cần có kế hoạch huy động vốn cụ thể, trong đó chỉ rõ tiến
độ và số lượng cần thiết để đáp ứng nhu cầu trong từng giai đoạn thực hiện dự
án vì dù thừa hay thiếu đều làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
* Doanh thu và chi phí của dự án và xác định dòng tiền của dự án
+) Doanh thu:
Doanh thu được tính hàng năm và bao gồm các khỏan phát sinh từ khi
việc vận hành TSCĐ được đầu tư bởi dự án:
biến đổi, chi phí xuất quỹ (chi bằng tiền) và không xuất quỹ.
Việc lựa chọn công suất thiết kế không chỉ tác động đến doanh thu mà
còn ảnh hưởng đến chi phí hoạt động hàng năm của dự án. Căn cứ vào kế
hoạch sản xuất, kế hoạch khấu hao, kế hoạch trả nợ, chi phí hoạt động bao
gồm các khoản mục sau:
- Nguyên vật liệu chính
Vật liệu bao bì
Nửa thành phần và dịch vụ mua ngoài
- Nhiên liệu
- Năng lượng
- Nước
- Tiền lương
- Bảo hiểm xã hội
SV: Hồ Thị Hoàng Yến 18 Lớp Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
- Chi phí bảo dưỡng máy móc thiêt bị, nhà xưởng
- Khấu hao, bao gồm:
Khấu hao chi phí chuẩn bị
Khấu hao máy móc thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận tải
Khấu hao nhà xưởng và cấu trúc hạ tầng
Khấu hao chi phí ban đầu về quyền sử dụng đất (trường hợp công ty
liên doanh)
- Chi phí quản lý phân xưởng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp
- Chi phí bảo hiểm tài sản
- Chí phí tiêu thụ sản phẩm
- Lãi vay
- Chi phí khác
Trong khi thẩm định về chi phí cần lưu ý một số điểm:
Các chi phí biến đổi như nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng…
là mức khấu hao năm t
GTCL
(t-1)
là giá trị còn lại năm thứ t-1
P là tỷ lệ khấu hao
Chi phí lãi vay được tính dựa trên kế hoạch vay và trả nợ đối với các
nguồn vốn huy động từ bên ngoài.
+) Dòng tiền
Dòng tiền của một dự án là các khoản thu chi và thu được kỳ vọng xuất
hiện tại các mốc thời gian khác nhau trong suốt chu kỳ của dự án. Dòng tiền
ròng của dự án tại các mốc thời gian khác nhau là toàn bộ khoản tiền thu được
trừ đi khoản tiền chi ra.
Do dòng tiền có giá trị thời gian nên cần phải xác định thời điểm xuất
hiện dòng tiền. Để so sánh các dòng tiền xuất hiện tại các thời điểm khác nhau
mà phải quy chúng về một mốc để so sánh. Dòng tiền hàng ngày là chính xác
nhất, nhưng ước tính chúng rất tốn kém chi phí, ít khi được sử dụng và có thể
không chính xác vì người ta không đủ khả năng dự báo chính xác. Do vậy,
dòng tiền được giả định là xuất hiện cuối hàng năm.
Nguyên tắc xác định dòng tiền:
- Dòng tiền phù hợp: là sự thay đổi trong tổng dòng tiền trong tương lai
của doanh nghiệp mà là hệ quả trực tiếp của của việc thực hiện dự án.
- Chi phí chìm: Chi phí chìm là một khoản đầu tư đã được thực hiện
(hoặc cam kết) trước đó mà không thể bù đắp dù cho dự án có được
chấp nhận hay không. Chi phí chìm không phải là chi phí tăng thêm nên
không được đưa vào phân tích. Ví dụ như chi phí nghiên cứu và phát
triển về một sản phẩm mới trước khi ra quyết định sản xuất sản phẩm
đó. Khi bỏ ra chi phí đó công ty chưa chắc chắn là có thể cho ra sản
SV: Hồ Thị Hoàng Yến 20 Lớp Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
phẩm hay không. Nếu như kết quả nghiên cứu cho thấy sản phẩm không
thuế, từ đó ảnh hưởng đến cách thức tìm nguồn vốn đầu tư cho dự
án.
- Khấu hao: Khoản tiền đầu tư vào tài sản cố định của dự án thường được
phân bổ trong các năm hoạt động của dự án, gọi là chi phí khấu hao, và
sau đó tài sản có thể được thanh lý. Do khấu hao được đưa vào chi phí
của doanh nghiệp nên làm giảm lợi nhuận. Tuy nhiên, khấu hao không
phải là khoản chi tiền, nên mức khấu hao cao không làm giảm dòng
tiền, mà ngược lại còn làm tăng vì số thuế phải nộp xuống. Trong hoặc
cuối đời hoạt động, tài sản cố định có thể được thanh lý. Khi đó, dự án
có thể có thêm một khoản thu nhập (hoặc lỗ) ròng bằng giá bán trừ đi
chi phí thanh lý. Khoản thu nhập (hoặc lỗ) này có thể làm tăng (hoặc
giảm) thuế phải nộp tương ứng với mức thuế suất của doanh nghiệp.
- Thay đổi vốn lưu động ròng: Thông thường, một dự án mới sẽ đòi hỏi
phải có thêm hàng dự trữ, và doanh thu từ dự án cũng tạo nên khoản
phải thu mới. Vì cả hàng dự trữ và khoản phải thu đều là kết quả của
việc đầu tư nên cần phải đưa lượng vốn lưu động ròng vào trong vốn
đầu tư, tương tự như tài sản cố định. Tuy nhiên, ki sản xuất mở rộng thì
những khoản phải trả cũng tăng lên, làm giảm nhu cầu tài trợ cho dự án.
Phân chênh lệch giữa lượng tăng thêm về tài sản lưu động và nợ ngắn
hạn thường là dương nên đòi hỏi phải có thêm tiền đầu tư vào phần này,
ngoài tiền đầu tư vào tài sản cố định. Phần chênh lệch này gọi là vốn
lưu động ròng.
VLĐ ròng = TSLĐ - Nợ ngắn hạn
Khi kết thúc dự án, lượng tài sản lưu động dự trữ này cũng được thanh
lý để thu tiền về. Do tính chất của tài sản lưu động là tương đối dễ bán, nên để
thuận tiện trong quá trình phân tích, giá trị thu hồi thường được giả thiết là
bằng đúng số tiền đã chi ra.
SV: Hồ Thị Hoàng Yến 22 Lớp Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
* Xác định hiệu quả tài chính dự án
nhưng trên thực tế lại có thể không đúng như vậy vì thông thường người ta sẽ
cố định các yếu tố đó bằng các hợp đồng cung cấp.
Thứ hai, các biến thay đổi trong một phạm vi có thể nhưng không được
tính toán trên sự phân bố xác suất nên khó lượng hóa được cơ bản các chỉ tiêu
hiệu quả tài chính trong trường hợp tốt nhất và xấu nhất để sau đó so với cơ
sở.
Trong hương pháp phân tích tình huống người ta chia làm 3 tình huống
như sau:
- Tình huống tốt nhất với xác suất xảy ra là P
1
và tính được NPV
1
(IRR
1
)
- Tình huống trung bình với xác suất xảy ra là P
2
và tính được NPV
2
(IRR
2
)
- Tình huống xấu nhất với xác suất xảy ra là P
3
và tính được NPV
3
(IRR
3
)
Lúc đó: NPV
hiện tạ hóa ở mốc 0. Đây là một chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất trong
thẩm định tài chính dự án.
Công thức tính NPV được xác định như sau:
SV: Hồ Thị Hoàng Yến 24 Lớp Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
NPV = - CF
0
Trong đó:
CF
0
: là vốn đầu tư bỏ ra ban đầu, giả định vốn bỏ ra một lần vào năm
thứ nhất của dự án
CF
t
: là dòng tiền xuất hiện tại năm thứ t của dự án, t chạy từ 1 đến n
n : là số năm thực hiện dự án
k : là tỷ lệ chiết khấu, giả định là không đổi qua các năm
* Ý nghĩa
NPV chỉ ra số lợi nhuận tuyệt đối của dự án mang lại. Chỉ số này đã
tính đến giá trị thời gian của tiền thông qua tỷ lệ chiết khấu.
Tuy nhiên chỉ tiêu này không tính đến sự khác biệt về thời gian hoạt
động của dự án. Hơn nữa tỷ lệ chiết khấu để tính NPV được giả định là không
thay đổi trong thời gian thực hiện dự án nên có thể NPV phản ánh chưa chính
xác giá trị tăng thêm cho chủ đầu tư. Giá trị của NPV phụ thuộc vào việc xác
định dòng tiền, cách lựa chọn tỷ lệ chiết khấu, mà đây không phải là vấn đề dễ
dàng.
Chỉ tiêu này tính theo số tuyệt đối, chưa nói lên hiệu quả sử dụng đồng
vốn. Khi có hai dự án khác nhau về thời hạn và số vốn đầu tư khác nhau, việc
dùng chỉ tiêu này khó so sánh để lựa chọn.
* Tiêu chuẩn lựa chọn dự án