Tổ chức thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng trên địa bàn huyện thường tín, thành phố hà nội (LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý CÔNG) - Pdf 85

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
……………../………………….

BỘ NỘI VỤ
……/……..

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ THANH AN

TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA,
KHEN THƢỞNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THƢỜNG TÍN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CƠNG

HÀ NỘI – NĂM 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
……………../………………….

BỘ NỘI VỤ
……/……..

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ THANH AN

TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA,
KHEN THƢỞNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THƢỜNG TÍN,

Tác giả luận văn cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo, cán
bộ, nhân viên Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình giúp đỡ cũng như tạo mọi
điều kiện thuận lợi hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn cũng trân trọng cảm ơn lãnh đạo và chun viên phịng Nội
vụ huyện Thường Tín đã quan tâm, giúp đỡ trong q trình nghiên cứu và hồn
thành luận văn.

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh An


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU: ................................................................................................ 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG.................................................. 11
1.1. Thi đua, khen thưởng ....................................................................... 11
1.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng ....................... 19
1.3. Các yếu tố tác động đến tổ chức thực hiện pháp luật về thi đua, khen
thưởng .............................................................................................................. 33
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
THI ĐUA, KHEN THƢỞNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THƢỜNG TÍN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY ............................................................... 39
2.1. Thực trạng xây dựng và ban hành pháp luật về thi đua, khen thưởng trên
địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội hiện nay ....................................... 39


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Thi đua khen thưởng
là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới” [5,
tr.1]. Mục đích của các phong trào thi đua được Người chỉ rõ: “Thi đua ái quốc
nhằm ba mục đích: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Tức là làm cho
nhân dân no, ấm, biết chữ, làm cho Tổ quốc được độc lập, tự do” [34, tr.236].
Muốn đạt được mục đích ấy, trước hết cần xây dựng kế hoạch tổ chức thực
hiện cho chu đáo, cho sát với hiện thực khách quan. Tức là: “Phải có kế hoạch tỉ mỉ.
Kế hoạch đó phải do từng đơn vị nhỏ, từng gia đình, từng cá nhân bàn bạc kỹ, hiểu
biết thấu, vui vẻ làm” và “Nội dung của kế hoạch phải thiết thực, rõ ràng, đúng
mực” [34, tr.270]. Hơn nữa, kế hoạch thi đua cần được bàn bạc dân chủ trong dân
chúng. Người nói: “Kế hoạch từng gia đình, từng nhóm phải đem ra bàn bạc kỹ,
phải dân chủ, nghĩa là làm cho mọi người đều hiểu, mọi người đều vui lịng nhận và
quyết tâm làm cho kỳ được. Có như thế kết quả mới đầy đủ, tốt đẹp. Kế hoạch thi
đua phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực, giản đơn” [34, tr.303]. Nhờ có kế hoạch thi
đua thiết thực và có kiểm điểm đánh giá, rút kinh nghiệm nên phong trào thi đua
diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm mà chúng ta tiến hành đã đạt được
những thắng lợi hết sức quan trọng.
Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, Đảng và
Nhà nước tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của phong trào thi đua yêu nước và
công tác thi đua, khen thưởng nhằm “phát huy sức mạnh tồn dân tộc, đẩy mạnh
tồn diện cơng cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát
triển” [15, tr.54]. Trên cơ sở các quan điểm của Đảng về thi đua, khen thưởng, Nhà
nước đã thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng.
Thực tiễn cho thấy quá trình thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng có
ảnh hưởng quan trọng, mang tính then chốt, là cơ sở góp phần thể chế hóa, đưa
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thi đua, khen thưởng vào cuộc
sống, phấn đấu mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

luật về thi đua, khen thưởng trên địa bàn huyện Thường Tín” làm đề tài luận văn
thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

2


Vai trò, mối quan hệ giữa thi đua với khen thưởng và việc triển khai các
văn bản quy định về thi đua, khen thưởng là chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên
cứu của các nhà khoa học, các học giả ở Việt Nam thời gian qua. Cho đến nay đã
có nhiều cơng trình nghiên cứu, bài viết do nhiều tác giả với nhiều góc độ khác
nhau nghiên cứu liên quan đến vấn đề này đã được công bố; nhiều cơng trình, bài
viết đã có những đóng góp, những lý giải, những kiến nghị sâu sắc và có giá trị
thực tiễn cao. Tuy nhiên, trong phạm vi và giới hạn của đề tài, luận văn chỉ đề cập
đến một số nhóm cơng trình liên quan trực tiếp đến đề tài:
Thứ nhất, nhóm các cơng trình nghiên cứu lý luận về tổ chức thực hiện
pháp luật về thi đua, khen thưởng
Năm 2006, cuốn Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua trong sự
nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của nhà nghiên cứu Nguyễn Viết
Vượng được xuất bản, tác giả đã trình bày, phân tích chi tiết về nguồn gốc, quá trình
hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua; phân tích nội dung tư
tưởng Hồ Chí Minh về thi đua; nêu định hướng và các giải pháp vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh về thi đua [61]. Cơng trình là nguồn tư liệu tham khảo quý giá cho tác
giả luận văn.
Sách Đảng, Bác Hồ với thi đua yêu nước và công tác thi đua khen thưởng,
Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008 đã phân tích khá kỹ những vấn đề lý luận,
quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chỉ thị, nghị
quyết của trung ương Đảng, nghị định của Chính phủ về thi đua yêu nước, công tác
thi đua, khen thưởng. Đồng thời cuốn sách giới thiệu các bài phát biểu, bài viết của
các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước như: Thủ tướng Phạm Văn Đồng

nay” của tác giả Trần Thị Hà, đăng trên Tạp chí Thi đua Khen thưởng số 216 (52018). Bài viết phân tích, làm rõ thêm tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước
và các văn bản của Đảng, Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng. Tác giả đã
khẳng định “Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc sẽ mãi mãi là ánh sáng chỉ
đường cho chúng ta về cách thức tổ chức và động viên lực lượng quần chúng tham
gia cách mạng” [24, tr.7]; bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước vận
dụng trong phong trào thi đua yêu nước hiện nay” của tác giả Hồng Phúc Lâm,
đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 7/2020 đã tập trung phân tích, làm rõ những nội
dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, đồng thời, đặt ra yêu cầu

4


tiếp tục kế thừa, phát huy tư tưởng của Người về thi đua yêu nước và vận dụng một
cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tiễn của cách mạng nước ta hiện nay [29].
Thứ hai, nhóm các cơng trình nghiên cứu về thực trạng tổ chức thực hiện
pháp luật về thi đua, khen thưởng
Cuốn sách Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua, yêu nước trong xây
dựng và hoàn thiện pháp luật thi đua, khen thưởng của Trương Quốc Bảo, Nxb.
Chính trị quốc gia, 2010 đã góp phần làm phong phú cơ sở lý luận vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật
thi đua, khen thưởng. Trong đó, tác giả nhấn mạnh: hệ thống pháp luật thi đua,
khen thưởng hoàn thiện, phù hợp với thực tiễn là cơ sở pháp lý vững chắc và
thuận lợi cho việc quản lý nhà nước về lĩnh vực thi đua, khen thưởng cũng như tổ
chức các phong trào thi đua, thực hiện công tác khen thưởng đạt hiệu quả tốt, làm
cho công tác thi đua, khen thưởng thực sự trở thành động lực phát triển đất nước
và công cụ quản lý của Nhà nước [4]. Đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho
tác giả luận văn khi tác giả cuốn sách có cách tiếp cận khá mở trong việc phản ánh
thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong xây dựng và
hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng.
Năm 2010, Luận văn thạc sĩ Hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng ở

thưởng vào trong đời sống xã hội hiện nay. Cơng trình là tài liệu tham khảo hữu ích
cho tác giả luận văn trong hướng nghiên cứu này.
Đề tài khoa học cấp Bộ Cơ sở khoa học xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
làm công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay do Nguyễn
Thị Phương Lan làm chủ nhiệm (2016) đã phân tích, làm rõ thực trạng đội ngũ cán
bộ, công chức làm công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
với những ưu điểm cũng như những hạn chế, bất cập và nguyên nhân. Trên cơ sở đó
đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thi
đua, khen thưởng từng bước đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ của công tác thi đua, khen thưởng trong thời kỳ mới [28]. Kết quả nghiên
cứu của cơng trình có giá trị tham khảo hữu ích cho tác giả luận văn.
Thứ ba, nhóm các cơng trình nghiên cứu về các giải pháp nhằm bảo đảm
việc tổ chức thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng

6


Trong cuốn Đẩy mạnh, nhân rộng, phát huy hiệu quả phong trào thi đua yêu
nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới, Nxb. Thanh niên,
2010 đã khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, giới thiệu các bài viết
của nhiều tác giả trong việc vận dụng tư tưởng thi đua yêu nước của Hồ Chí Minh,
từ đó đề xuất các giải pháp đẩy mạnh, nhân rộng, phát huy hiệu quả phong trào thi
đua yêu nước trong giai đoạn cách mạng mới [20]. Những giải pháp được cơng
trình đề xuất đã gợi mở cho tác giả luận văn trong hướng nghiên cứu này.
Năm 2014, Luận án tiến sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng
cộng sản Việt Nam Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công
tác thi đua, khen thưởng ở nước ta giai đoạn hiện nay của Nguyễn Khắc Hà đã đưa
ra 6 nhóm giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách
công tác thi đua, khen thưởng nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác thi đua,
khen thưởng trong những năm tiếp theo, trong đó tác giả nhấn mạnh: “Xây dựng

của tác giả Lê Ân Mai, đăng trên Tạp chí Thi đua Khen thưởng số 235 (12-2019);
bài viết “Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen
thưởng” của tác giả Nguyễn Văn Hữu, đăng trên Tạp chí Thi đua Khen thưởng số
224 (9-2020)..v.v..Các bài viết đã mang tính gợi mở cho tác giả luận văn trong việc
nghiên cứu nhằm bảo đảm việc tổ chức thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng.
Nhìn chung, các cơng trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những góc độ khác
nhau về cơng tác thi đua, khen thưởng và việc thực hiện pháp luật về thi đua, khen
thưởng. Có thể khẳng định, kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước là
tài liệu tham khảo rất có giá trị đối với tác giả luận văn trong quá trình triển khai
thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng ở huyện
Thường Tín, thành phố Hà Nội hiện nay thì chưa có cơng trình nào chun sâu
nghiên cứu, trình bày thật hệ thống trên góc độ quản lý cơng. Vì vậy, luận văn dựa
trên sự kế thừa, bổ sung, phát triển những nội dung liên quan đến công tác thi đua,
khen thưởng và thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng của các đơn vị, địa
phương khác trong cả nước, kết hợp với nghiên cứu thực tế tại huyện Thường Tín,
thành phố Hà Nội, mong muốn hệ thống lại những kiến thức đã được học, các cơng
trình nghiên cứu đã được công bố để nghiên cứu thực trạng việc tổ chức thực hiện
pháp luật về thi đua, khen thưởng ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội trước yêu
cầu và nhiệm vụ mới. Trên cơ sở đó sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao

8


hiệu quả việc tổ chức thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng ở huyện Thường
Tín, thành phố Hà Nội hiện nay cũng như trong thời gian tới đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ trong sự nghiệp xây dựng và phát triển huyện Thường Tín nói riêng,
thành phố Hà Nội nói chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích
Nghiên cứu lý luận của tổ chức thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng,

cứu khoa học đã được cơng bố có liên quan.
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản và hiện đại
của khoa học xã hội như: phương pháp lịch sử và lôgic, quy nạp và diễn dịch, đối
chứng và so sánh, liên ngành khoa học xã hội, đồng thời có sử dụng phương pháp
tổng kết thực tiễn để làm rõ nội dung nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Những vấn đề mà luận văn đề cập và giải quyết, sẽ góp
phần thiết thực vào việc luận giải và đề xuất giải pháp nhằm bảo đảm việc tổ chức
thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
hiện nay cũng như trong thời gian tới.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm
tài liệu tham khảo và giảng dạy, tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức làm công tác thi đua, khen thưởng tại địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo cùng với cơng
trình nghiên cứu của tác giả có liên quan đến đề tài, nội dung của luận văn được cấu
trúc thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của tổ chức thực hiện pháp luật về thi đua,
khen thưởng
Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng
trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội hiện nay.
Chương 3: Giải pháp nhằm bảo đảm việc tổ chức thực hiện pháp luật về thi
đua, khen thưởng trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội hiện nay.

10


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

tốt đẹp của thi đua trong điều kiện xã hội mới, qua đó tinh thần thi đua, óc sáng kiến
của đơng đảo quần chúng nhân dân mới được phát huy rộng rãi: “Chủ nghĩa xã hội
không những không dập tắt thi đua, mà trái lại lần đầu tiên đã tạo ra khả năng áp
dụng thi đua một cách rộng rãi, với một quy mô thật sự to lớn, tạo ra khả năng thu
hút thật sự đa số nhân dân lao động vào vũ đài hoạt động khiến họ có thể tỏ rõ bản
lĩnh, dốc hết năng lực của mình, phát hiện những tài năng mà nhân dân sẵn có cả
một nguồn vơ tận” [43, tr.234]. Bên cạnh đó, V.I.Lênin cho rằng xã hội chủ nghĩa
muốn tránh được những người ăn bám cần phải tổ chức cho toàn dân tham gia việc
kiểm kê, kiểm sốt và để làm được điều đó, Người chỉ rõ “cần phải khơi những tài
năng tổ chức của họ, của những người có tài tổ chức của chính bản thân họ, xuất
phát từ hàng ngũ của họ; cần phải khêu gợi ở họ, - và tổ chức trong phạm vi toàn
quốc, - sự thi đua nhằm đạt những thành tích phải thực hiện về mặt tổ chức” [44,
tr.241] và “Tất cả các “công xã” - công xưởng, làng, hợp tác xã tiêu dùng, ban cung
cấp - đều phải cam kết thi đua với nhau trong việc tổ chức một cách thực tiễn việc
kiểm kê và kiểm soát sự lao động và sự phân phối sản phẩm” [43, tr.244].
Kế thừa, tiếp thu có chọn lọc tư tưởng thi đua của các nhà kinh điển Mác xít
vào hồn cảnh Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng thi đua lên tầm tư tưởng,
đường lối chính trị và phương pháp cách mạng. Người đã gắn thi đua với lòng yêu
nước của dân tộc Việt Nam khi khẳng định:“Yêu nước thì phải thi đua, thi đua tức
là yêu nước” [34, tr.270]. Đồng thời, khi bàn luận về thi đua, Người đã chỉ ra cơ sở,
gốc rễ, nền tảng của thi đua chính từ các hoạt động thực tiễn hàng ngày: “Tưởng
lầm rằng thi đua là một việc khác với những công việc hàng ngày. Thật ra cơng việc
hàng ngày chính là nền tảng thi đua” [33, tr.658]. Những luận điểm trên đã thể hiện
một cách độc đáo, sáng tạo quan niệm về thi đua của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người
lấy thi đua làm động lực để phát huy lòng yêu nước, làm cho thi đua yêu nước trở
thành một phương pháp cách mạng mang đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Ngoài
quy luật tất yếu khách quan của thi đua trong hợp tác lao động trên lĩnh vực kinh tế,
Người đã mở rộng phạm vi của thi đua trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

12

luận về thi đua.

13


Qua các cách tiếp cận về thi đua có thể thấy, thi đua là hoạt động có tổ chức
với các nhiệm vụ chủ yếu như lập kế hoạch, xác định mục tiêu, hình thức, đối
tượng, tổ chức phát động, ký giao ước thi đua, v.v... Người phát động phong trào thi
đua là người có thẩm quyền được quy định trong Luật Thi đua, Khen thưởng. Thi
đua diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến tất cả các
thành phần, các tầng lớp xã hội từ đó nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân
về tư tưởng, chính trị, văn hóa, nhận thức xã hội, hướng mọi người đến những giá
trị tốt đẹp trong đời sống xã hội và giúp các cấp ủy Đảng, chính quyền triển khai
thực hiện các nhiệm vụ chính trị đạt hiệu quả. Thi đua hoạt động trên nguyên tắc tự
nguyện của mỗi tập thể, cá nhân khi tham gia. Thông qua hoạt động cùng nhau trên
tinh thần tự nguyện sẽ khơi dậy sự sáng tạo của mọi cá nhân, phát huy tính tích cực,
chủ động, cổ vũ, động viên, lôi cuốn các tầng lớp, lực lượng trong xã hội nêu cao
tinh thần trách nhiệm thực hiện có hiệu quả các nội dung, chỉ tiêu thi đua của cơ
quan, đơn vị, địa phương đã đặt ra. Thi đua hướng tới những mục tiêu rõ rệt và
nhằm thu được kết quả thành tích tốt nhất. Thi đua trong quản lý nhà nước là thi đua
ái quốc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đặc biệt đảm bảo
sự phát triển bền vững đất nước trong thế kỷ XXI nhằm hướng tới một nước Việt
Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
1.1.2. Khái niệm, ý nghĩa của khen thưởng
Trong các hình thái kinh tế xã hội, tùy thuộc vào bản chất của từng nhà nước
mà khen thưởng được thể hiện dưới các hình thức khác nhau, trở thành một trong
những cơng cụ quản lý của nhà nước nhằm động viên, khuyến khích mọi người thực
hiện tốt những mục đích mà nhà nước đó hướng tới.
Khen thưởng có vai trị quan trọng đối với các triều đại phong kiến ở Việt
Nam, là một công cụ quản lý của nhà nước hướng tới các đối tượng khác nhau trong

3. Ai vì nước hy sinh sẽ được thưởng;
4. Ai ra trận can đảm phi thường sẽ được thưởng;
5. Ai làm việc công một cách ngay thẳng sẽ được thưởng;
6. Ai làm việc có ích cho nước nhà, dân tộc được dân chúng mến phục sẽ
được thưởng;
7. Ai bỏ tiền ra xây đắp cầu cống, đê, đường sẽ được thưởng;
8. Ai bắt được nhiều kẻ phản quốc sẽ được thưởng;

15


9. Ai liều mình vì việc cơng sẽ được thưởng;
10. Ai cứu được người bị nạn sẽ được thưởng” [32, tr.163].
Việc quy định mười điểm thưởng trong Quốc lệnh chính là cơ sở pháp lý
đầu tiên về điều kiện khen thưởng, là minh chứng đầu tiên về chính sách trong
khen thưởng của Đảng và Nhà nước và đặt nền móng xây dựng ngành khen
thưởng ở nước ta.
Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Khen thưởng là khen và thưởng bằng hiện
vật xứng với thành tích, cơng lao: khen thưởng về thành tích lao động sáng tạo;
khen thưởng các học sinh giỏi” [62, tr.896].
Tại Khoản 2, Điều 3, Luật Thi đua, Khen thưởng (Văn bản hợp nhất số
16/VBHN-VPQH ngày 13/12/2013 của Văn phòng Quốc hội hợp nhất Luật Thi
đua, Khen thưởng) ghi rõ: “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh
cơng trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có
thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Trên cơ sở các lý luận trên về khen thưởng, trong giới hạn phạm vi nghiên
cứu của đề tài, tác giả luận văn sử dụng khái niệm về khen thưởng được quy định
trong Khoản 2, Điều 3, Luật Thi đua, Khen thưởng làm cơ sở lý luận về khen
thưởng, bởi khái niệm đã đảm bảo được tính thống nhất giữa tính chất, hình thức
và đối tượng khen thưởng.

với điều kiện, tiêu chuẩn khen thưởng. Bởi, qua hoạt động thi đua, mỗi cá nhân, tổ
chức sẽ phát huy trí tuệ, sức sáng tạo, sự đồn kết để đạt được những mục đích mà
tổ chức hướng tới. Những công sức, hành động của mỗi cá nhân, tập thể sẽ tạo nên
các thành tích đạt được, từ những thành tích đó sẽ là cơ sở để tổ chức, nhà quản lý
xét chọn những cá nhân, tập thể tiêu biểu xuất sắc nhất để khen thưởng. Ở đâu có
phong trào thi đua mạnh mẽ, rộng khắp thì số lượt khen thưởng nhiều và ngược lại
nếu khơng có phong trào thi đua hoặc phong trào thi đua yếu, chưa có sức lan tỏa
thì nơi đó khen thưởng khơng chuẩn xác, khơng có khen thưởng. Tùy vào hình thức
thi đua sẽ có hình thức khen thưởng phù hợp (tặng cờ, giấy khen, bằng khen, chứng
nhận, ..v.v.).
Thứ hai, khen thưởng là động lực của thi đua, là bước tiếp sau của thi đua,
kết quả của thi đua, phản ánh chất lượng và hiệu quả của thi đua, là nhân tố thúc
đẩy thi đua phát triển. Tập thể, cá nhân được khen thưởng cảm thấy vinh dự, tự hào,

17


được trân trọng sẽ cố gắng, tích cực trong các cơng việc được giao và sẽ khích lệ
mọi người cùng tham gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra vai trò quan trọng của
khen thưởng trong thi đua: “Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ
biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém
cỏi” [34, tr.270]. Khen thưởng còn nhằm dẫn dắt phong trào thi đua, là định hướng
phát triển xã hội. Thực tiễn cho thấy, nơi nào thực hiện việc xét khen thưởng chính
xác, cơng bằng, đúng người, đúng việc sẽ động viên, khuyến khích, giáo dục, nêu
gương và nhân rộng các điển hình tiên tiến, tạo sức lan tỏa trong từng tổ chức, từ đó
cổ vũ động viên mọi cá nhân học tập và noi theo, tạo tiền đề cho các phong trào thi
đua khác phát triển như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Vì khen thưởng
khuyến khích rất nhiều, vì khen thưởng là tổng kết và phổ biến kinh nghiệm ra cho
mọi ngành hoạt động” [35, tr.347]. Ngược lại, khi khen thưởng mang tính chất cào
bằng, khen thưởng tràn lan, thiếu sự chính xác, cơng khai, khen thưởng khơng kịp

là sản phẩm của sự phát triển xã hội. Pháp luật và nhà nước ln có mối quan hệ
khăng khít, cùng xuất hiện, cùng tồn tại và phát triển. Nhà nước là một tổ chức đặc
biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực đó chỉ có thể được triển khai và phát
huy có hiệu lực trên cơ sở của pháp luật. Bởi, pháp luật là “hệ thống quy tắc xử sự
chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các
quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước” [19, tr.212]. Vì vậy, nhà
nước khơng thể tồn tại và phát huy quyền lực khi thiếu pháp luật; ngược lại pháp
luật chỉ phát sinh, tồn tại và có hiệu lực khi dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực
nhà nước.
Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội, tác động tới xã hội bằng
phương tiện đặc thù, đó là pháp luật. Pháp luật là ý chí của nhân dân được thể hiện
dưới dạng các văn bản quy phạm. Đối với các quá trình quản lý, pháp luật khơng
chỉ điều chỉnh, tác động mang tính pháp lý lên các quan hệ xã hội, mà còn là một
phương tiện quan trọng để hoàn thiện tổ chức quá trình đó. “Xưa nay, pháp luật bao
giờ cũng là một trong những biện pháp để khẳng định một chuẩn mực đạo đức và
biến nó thành thói quen. Chuẩn mực càng khó bao nhiêu thì vai trị của pháp luật
càng quan trọng bấy nhiêu. Vì vậy, khơng thể bng lỏng pháp luật nếu việc này
chưa được chuẩn bị bằng sự tiến bộ đạo đức” [22, tr.177].

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status