02 giải pháp phát triển hoạt động XTTM sản phẩm dệt may nội địa trên thị trường nông thôn - Pdf 85

DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng, biểu Trang
Bảng 1 Tỷ lệ % phản ánh thói quen mua sắm các sản phẩm dệt
may nội địa của người tiêu dùng nông thôn thông qua các
loại hình bán lẻ phân theo khu vực năm 2009.
22
Bảng 2 Tỷ lệ % về mức độ hài lòng của người tiêu dùng ở nông
thôn về sản phẩm dệt may nội địa năm 2009.
23
Bảng 3 Thống kê doanh nghiệp dệt may tham gia chương trình
“Hàng Việt về nông thôn”
26
1
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 1 Lượng tiêu dùng các sản phẩm dệt may nội địa của người
dân thành thị và nông thôn năm 2009.
21
Biểu đồ 2 Mức chi tiêu trung bình cho các sản phẩm dệt may nội địa
của người tiêu dùng ở thành thị và nông thôn năm 2009.
21
Biểu đồ 3 Sự phân bố các cơ sở chuyên doanh sản phẩm dệt may nội
địa ở nông thôn các khu vực
24
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Tên viết tắt Tên đầy đủ
1 BSA Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ Doanh
nghiệp
2 BTB&DHMT Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung
3 CH Cửa hàng

Trong khi các doanh nghiệp trong nước bỏ ngỏ thị trường này thì các sản phẩm
dệt may Trung quốc giá rẻ, các sản phẩm dệt may không rõ nguồn gốc tràn ngập
thị trường nông thôn lấn át hàng Việt. Đây là thực trạng đáng buồn cho ngành Dệt
May của Việt Nam.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên trong đó có hoạt động
XTTM. Việc nghiên cứu “Giải pháp phát triển hoạt động XTTM sản phẩm dệt
may nội địa trên thị trường nông thôn” là rất cần thiết và có vai trò quan trọng đối
với ngành Dệt May để có thể chiếm lĩnh thị trường nông thôn.
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Từ những lý do nói trên, em chọn đề tài nghiên cứu: “Giải pháp phát triển
hoạt động XTTM sản phẩm dệt may nội địa trên thị trường nông thôn”.
Để làm sáng tỏ nội dung của đề tài nghiên cứu, trước hết phải hiểu XTTM
là gì? Khái niệm sản phẩm dệt may? Đặc trưng của thương mại sản phẩm dệt
may? XTTM sản phẩm dệt may là gì? Có những hình thức XTTM sản phẩm dệt
may nào?
4
Thực trạng các doanh nghiệp dệt may gặp khó khăn gì trong thời gian qua?
Chính phủ đã làm gì để hỗ trợ ngành Dệt May thực hiện XTTM về thị trường
nông thôn? Những vướng mắc hiện nay đối với hoạt động XTTM sản phẩm dệt
may trên thị trường nông thôn?
Các phát hiện thông qua việc nghiên cứu đề tài? Giải pháp trước mắt, giải
pháp lâu dài là gì?
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu giải pháp phát triển hoạt động XTTM sản phẩm
dệt may nội địa trên thị trường nông thôn
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Một là: Nghiên cứu tổng quan thực trạng XTTM sản phẩm dệt may nội địa
trên thị trường nông thôn.
Hai là: Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác XTTM sản phẩm dệt may nội
địa trên thị trường nông thôn nhằm thúc đẩy tiêu dùng hàng dệt may nội địa ở
nông thôn và phát triển mạng lưới phân phối các sản phẩm này ở nông thôn trong

cầu mặc – nhu cầu thiết yếu hàng ngày mà nó còn đáp ứng nhu cầu thời trang từng
người. Do đó, yêu cầu của người tiêu dùng với sản phẩm dệt may ngày càng cao
hơn từ số lượng đến chất lượng, từ mặc ấm đến mặc đẹp.
Thương mại hàng dệt may có một số đặc trưng nổi bật sau:
Một là: Sản phẩm dệt may là loại sản phẩm có nhu cầu rất phong phú, đa
dạng tùy thuộc vào đối tượng tiêu dùng. Người tiêu dùng khác nhau về văn hóa,
phong tục tập quán, tôn giáo, khác nhau về khu vực địa lý, khí hậu, giới tính, tuổi
tác… luôn có nhu cầu rất khác nhau về trang phục. Nghiên cứu thị trường để nắm
vững nhu cầu của từng nhóm đối tượng người tiêu dùng trong các bộ phận thị
trường khác nhau có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nhà sản xuất kinh
doanh sản phẩm.
Hai là: Thói quen tiêu dùng cũng là một vấn đề cần lưu ý vì nó ảnh hưởng
trực tiếp đến hiệu quả của việc tìm thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của các doanh
nghiệp. Hiểu biết được những khác biệt trong thói quen tiêu dùng là điều quan
trọng đảm bảo thành công cho doanh nghiệp khi đưa sản phẩm của mình ra thị
trường.
Ba là: Sản phẩm dệt may mang tính thời trang cao, vì thế các doanh nghiệp
phải thường xuyên thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng
được tâm lý thích đổi mới, độc đáo và gây ấn tượng của người tiêu dùng. Vì vậy
để tiêu thụ được sản phẩm với khối lượng lớn, việc am hiểu các xu hướng thời
trang là rất quan trọng.
6
Bốn là: Một đặc trưng nổi bật trong thương mại sản phẩm dệt may là vấn đề
nhãn mác sản phẩm. Mỗi nhà sản xuất cần tạo ra được nhãn hiệu thương mại cho
hàng hóa của riêng mình. Nhãn hiệu sản phẩm theo quan điểm xã hội thường là
yếu tố chứng nhận chất lượng hàng hóa và uy tín của người sản xuất. Đây là vấn
đề cần quan tâm trong chiến lược sản phẩm vì người tiêu dùng không chỉ tính đến
giá cả mà còn rất coi trọng chất lượng của sản phẩm.
Năm là: Khi đưa các sản phẩm dệt may ra thị trường, nhà sản xuất cần chú
ý đến yếu tố thời vụ. Phải căn cứ chu kỳ thay đổi của thời tiết trong năm ở từng

vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm dệt may và
với người tiêu dùng ở nông thôn.
Trên thị trường nông thôn, người tiêu dùng chủ yếu biết đến và tiêu thụ sản
phẩm dệt may giá rẻ của Trung Quốc, sản phẩm dệt may nội địa rất hiếm ở khu
vực này. Thông qua hoạt động XTTM sản phẩm dệt may nội địa, người tiêu dùng
ở nông thôn sẽ biết đến nhiều thương hiệu nội địa hơn; có sự thay đổi nhận thức
về sản phẩm dệt may nội địa; được sử dụng những sản phẩm dệt may nội địa có
chất lượng tốt, giá cả hợp lý. Nhiều sản phẩm dệt may về tới nông thôn phải thông
qua nhiều trung gian nên giá cả tại các trung tâm. Chương trình đưa hàng về nông
thôn, doanh nghiệp trực tiếp đưa hàng về nông thôn vì vậy giảm bớt khâu trung
gian, người dân không phải đi xa để mua hàng, nhiều doanh nghiệp tổ chức các
chương trình khuyến mại giảm giá, tặng quà nên người tiêu dùng được mua sản
phẩm với giá rẻ hơn từ 5 – 20%. Đồng thời, người tiêu dùng nông thôn được cung
cấp thêm các kiến thức để lựa chọn các sản phẩm có chất lượng, nhận biết hàng
giả, hàng kém chất lượng…
1.5.2.2 Đối với doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp
Hoạt động XTTM sẽ tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh
nghiệp dệt may. Việc cải cách và tạo thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh trên
thị trường nông thôn sẽ tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp mở rộng thị
trường. Do đó việc hướng vào thị trường nông thôn trở thành nhu cầu của các
doanh nghiệp.
Tạo áp lực để doanh nghiệp tăng năng lực cạnh tranh
Hoạt động XTTM sẽ giúp cho các doanh nghiệp có được những thông tin
đầy đủ, chính xác về thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh… Trên cơ sở
những thông tin đó, doanh nghiệp sẽ xử lý và đưa ra những quyết định hợp lý về
lựa chọn chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả nhất nhằm giảm giá
thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm dệt may nội địa để tạo ra năng lực
cạnh tranh ngày càng mạnh hơn.
8

hàng hóa của doanh nghiệp hoặc đã từng biết đến nhưng chưa sử dụng sẽ đi đến
quyết định mua hàng của doanh nghiệp.
9
Khuyến mại là một trong những công cụ được sử dụng để kích thích tiêu
thụ thông qua việc tác động đến tâm lý người tiêu dùng.
- Quảng cáo thương mại
Quảng cáo là cách thức đưa thông tin từ người bán hàng đến người mua sao
cho nhanh nhất, đầy đủ nhất và tạo hình ảnh tốt đẹp nhất. Hoạt động quảng cáo
nhằm kích thích sự chú ý, thay đổi trạng thái tâm lý và dẫn đến hành động của
khách hàng.
Hoạt động quảng cáo nhằm thay đổi nhận thức của người tiêu dùng đặc biệt
là làm thay đổi hệ giá trị do đó cần thực hiện kiên trì, bền bỉ và với chi phí rất cao.
Tuy nhiên lợi ích mang lại cũng sẽ rất lớn và tăng doanh thu bán hàng, tăng
thương hiệu của doanh nghiệp.
Hoạt động quảng cáo có thể thực hiện thông qua các phương tiện thông tin
đại chúng như: đài truyền hình, đài phát thanh, báo, tạp chí, panô, tờ rơi…
- Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ
“Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ là hoạt động XTTM của thương
nhân dùng hàng hóa, dịch vụ và tài liệu về hàng hóa, dịch vụ để giới thiệu, quảng
cáo với khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ nhằm XTTM” (Điều 117 Luật
Thương mại năm 2005 của Việt Nam)
Hàng hóa thường được giới thiệu ở các trung tâm thương mại, hội chợ triển
lãm hay tại các nơi vui chơi giải trí.
- Hội chợ, triển lãm thương mại
Tổ chức hội chợ thương mại là hoạt động XTTM trong đó những người sản
xuất và kinh doanh trưng bày, giới thiệu hàng hóa của mình nhằm mục đích tiếp
thị, ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Triển lãm hàng hóa là hoạt động XTTM qua việc trưng bày hàng hóa, các
tài liệu về hàng hóa để tuyên truyền quảng cáo các hàng hóa nhằm thúc đẩy tiêu
thụ.

- Ba là: Các chương trình đưa hàng về nông thôn có sự hỗ trợ của Chính
phủ về tài chính, thông tin, thủ tục hành chính… Chương trình đưa hàng về nông
thôn có sự tham gia của rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam sản xuất và kinh doanh
các loại hàng hóa khác nhau trong đó có sản phẩm dệt may nội địa. Chương trình
được tổ chức thông qua sự phối hợp của các cơ quan đơn vị như: Bộ Công
Thương, các Sở Công Thương, các trung tâm xúc tiến thương mại các tỉnh, chính
quyền các địa phương, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dệt may Việt Nam và
hiệp hội dệt may Việt Nam.
11
- Bốn là: Các hỗ trợ các hoạt động truyền thông trên truyền hình hướng dẫn
người tiêu dùng, kinh nghiệm thành công, bài học thất bại của doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh hàng Việt Nam; kỹ năng kinh doanh. Hỗ trợ việc biên soạn, phát
hành các ấn phẩm phổ biến các kết quả nghiên cứu thị trường, tổng kết các bài học
cả hai mặt thành công cũng như thất bại, giới thiệu các doanh nghiệp sản xuất
hàng Việt Nam có danh tiếng, các nhà phân phối được tín nhiệm của người tiêu
dùng… Các hạng mục nói trên thuộc chương trình là những hoạt động XTTM
được tiến hành đan xen, lồng ghép chắc chắn sẽ tạo ra sức tương hỗ lẫn nhau cùng
hướng tới đích chung là tạo ra không khí mới, làn sóng mới, phong trào mới, xu
hướng mới trong việc tiêu dùng hàng Việt Nam trong mỗi vùng miền cũng như
trong phạm vi toàn quốc.
12
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XTTM SẢN PHẨM DỆT MAY NỘI ĐỊA
TRÊN THỊ TRƯỜNG NÔNG THÔN
2.1 Phương pháp hệ nghiên cứu thực trạng XTTM sản phẩm dệt may nội địa
trên thị trường nông thôn
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Đề tài sử dụng số liệu thứ cấp liên quan đến hoạt động XTTM sản phẩm dệt
may nội địa trên thị trường nông thôn thông qua các ấn phẩm xuất bản của Trung
tâm thông tin công nghiệp và thương mại – Bộ Công Thương, báo cáo Chương

* Giải pháp phát triển hoạt động XTTM sản phẩm dệt may nội địa trên thị
trường nông thôn, tài liệu tham khảo:
- Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại, Kinh nghiệm XTTM thị
trường nội địa một số nước trên thế giới, NXB Công Thương - 2010.
2.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
Trong bài nghiên cứu chủ yếu sử dụng hai phương pháp phân tích dữ liệu
chính:
- Phương pháp duy vật biện chứng được sử dụng trong nghiên cứu đặc
trưng của thương mại sản phẩm dệt may, hình thức, nội dung của hoạt động
XTTM sản phẩm dệt may. Từ đó đưa ra các đánh giá, đề xuất giải pháp phù hợp
với thực trạng hiện nay.
- Phương pháp so sánh, phân tích thống kê, sử dụng các bảng, biểu đồ để
làm sáng rõ ý nghĩa của các số liệu liên quan đến sản phẩm dệt may và hoạt động
XTTM sản phẩm thực hiện trong năm 2009 và 2010.
2.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của các nhân tố đến hoạt
động XTTM sản phẩm dệt may nội địa trên thị trường nông thôn năm 2009
và 2010
2.2.1 Đánh giá tổng quan thương mại dệt may trên thị trường nông thôn
Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây phát triển khá nhanh, thu
nhập của người dân ở nông thôn cũng được nâng lên rõ rệt. Người dân không chỉ
đủ mặc như trước đây mà đã quan tâm nhiều đến thời trang, thay đổi kiểu dáng,
mẫu mã thường xuyên. Nhờ vậy mà chi tiêu dùng cho sản phẩm dệt may đã tăng
đáng kể. Xét về tỷ trọng trong tổng chi tiêu thì chi tiêu cho sản phẩm dệt may ở
khu vực nông thôn hiện nay chiếm khoảng 5%. Chi tiêu cho sản phẩm dệt may ở
14
khu vực nông thôn thấp hơn so với khu vực thành thị. Cụ thể năm 2008 chi tiêu
cho mặt hàng này ở thành thị đạt khoảng 46,94 nghìn đồng/tháng còn ở khu vực
nông thôn là 24,82 nghìn đồng/tháng. Tuy nhiên dân số ở khu vực nông thôn cao
hơn hẳn so với khu vực ở thành thị nên tổng mức chi tiêu cho sản phẩm dệt may ở
nông thôn vẫn có mức cao hơn: chi tiêu của khu vực thành thị chiếm khoảng 40-

đúc. Với ưu thế về chất lượng, nhưng giá cả cao, kiểu dáng, mẫu mã không phong
phú nên doanh nghiệp dệt may Việt Nam gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản
phẩm ở thị trường nông thôn. Sản phẩm dệt may Việt Nam có các mức giá khác
nhau: thấp nhất là từ 70-100 nghìn đồng/sản phẩm; nhóm sản phẩm có giá từ 100-
300 nghìn đồng/sản phẩm; từ 300-1000 nghìn đồng/sản phẩm và các sản phẩm
trên 1000 nghìn đồng/sản phẩm.
Trên thị trường nông thôn, thị phần hàng dệt may nội địa chỉ chiếm tỷ lệ rất
nhỏ đặc biệt là tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Tại một số tỉnh ở miền Bắc,
tình hình này dường như khả quan hơn. Một số tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An, do
xây dựng được hệ thống phân phối tốt, xuống tận huyện, hàng ngày có xe giao
hàng cho người bán lẻ (thông qua các công ty như công ty Nông sản xuất khẩu
tổng hợp; chi nhánh Intimex Nghệ An…) nên tỷ lệ các loại hàng may mặc giữa
hàng nội và hàng ngoại (chủ yếu là hàng Trung Quốc) là 50-50.
Nhiều hãng sản xuất và kinh doanh quần áo trong nước nhận định rằng thị
trường nông thôn là thị trường có sức mua lớn và có nhiều triển vọng. Một số
hãng may mặc có tiếng của Việt Nam đã chinh phục người tiêu dùng thành thị như
Việt Tiến, May 10, may Nhà Bè… và nay họ đang có những phương pháp, chiến
lược kinh doanh mới để dần tiếp cận với thị hiếu, nhu cầu của người tiêu dùng
nông thôn.
Các cửa hàng may đo tư nhân nhỏ cũng là sự lựa chọn của nhiều người tiêu
dùng ở thị trường nông thôn, khoảng 15% người dân ở nông thôn lựa chọn sản
phẩm quần áo cắt may. So với hàng may sẵn của Trung Quốc, mặc dù giá cả của
quần áo đặt may tại các cửa hàng này có thể cao hơn nhưng sản chất lượng may
tốt hơn, vừa với vóc dáng người tiêu dùng. Nếu so với các sản phẩm may sẵn của
Việt Nam, nếu cùng chất lượng sản phẩm thì giá cả của quần áo đặt may vẫn thấp
hơn, kiểu dáng, mẫu mã phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng.
2.2.1.2 Thương mại sản phẩm dệt may của một số nước khác trên thị trường nông
thôn
Theo số liệu khảo sát của Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương
mại, khoảng 40-45% số lượng hàng may mặc trên thị trường nội địa hiện nay là

Ở cấp độ Chính phủ, vấn đề XTTM được thực hiện thông qua các đợt vận
động liên quan đến việc đề cao lòng yêu nước của người Việt Nam trong việc mua
sắm hàng hóa dịch vụ nói chung và sản phẩm dệt may nói riêng. Tổ chức thực
hiện chương trình, dự án, đề án XTTM nội địa của ngành hàng dệt may trong từng
giai đoạn phát triển.
Ở cấp độ địa phương, hoạt động XTTM sản phẩm dệt may tại thị trường
nông thôn được áp dụng thông qua việc tổ chức các hoạt động điều tra, khảo sát
17
thị trường, tổ chức các hội chợ, triển lãm, quảng cáo thương mại, hội thảo về
XTTM.
2.2.2.1 Các chính sách của Chính phủ và các Bộ/Ngành đối với hoạt động XTTM
sản phẩm dệt may trên thị trường nông thôn
Trong Chiến lược phát triển ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đến
năm 2015, định hướng đến năm 2020, Việt Nam đặt mục tiêu phát triển ngành Dệt
May trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất
khẩu; đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều công ăn
việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh hội nhập vững chắc kinh tế khu
vực và thế giới. Do đó, ngành Dệt May Việt Nam trong thời gian tới sẽ được ưu
tiên phát triển.
Bộ Công Thương cũng xây dựng các chính sách phát triển và quản lý hệ
thống phân phối bán lẻ hàng hóa trên thị trường trong nước hiện nay và những
năm tiếp theo, hướng dẫn Sở Công Thương thực hiện việc đầu tư xây dựng chợ
trung tâm xã tại 61 huyện nghèo.
Ngày 15/7/2009, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 21/2009/TT-
BCT quy định việc xây dựng và hỗ trợ thực hiện chương trình XTTM trong nước
năm 2009. Theo đó, nhiều hoạt động XTTM thị trường trong nước được hỗ trợ
kinh phí. Cũng theo thông tư này, các hoạt động hỗ trợ năng lực cộng đồng doanh
nghiệp và truyền thông được hỗ trợ 100%. Các hoạt động tổ chức hội chợ và các
đợt bán hàng về nông thôn, khu công nghiệp, khu đô thị được hỗ trợ 70% kinh phí.
Bộ Công thương đã ban hành quyết định số 5839/QĐ-BCT – Chương trình

thị trường này.
2.2.2.4 Các hoạt động truyền thông
Hoạt động truyền thông được thực hiện thông qua truyền hình, báo giấy và
báo điện tử, phát hành ấn phẩm, truyền thanh, panô, tờ rơi… Mục đích của các
hoạt động này nhằm tạo nhận thức cho cộng đồng doanh nghiệp hướng về thị
trường nông thôn, để người dân nông thôn hướng về sản phẩm dệt may nội.
Các hoạt động truyền thông qua truyền hình nhằm quảng bá hàng Việt,
hướng dẫn người tiêu dùng, những bài học thành công và thất bại của doanh
nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng Việt, các kỹ năng kinh doanh… Hoạt động này
được hỗ trợ kinh phí 100% với thời lượng phát sóng 10 phút mỗi ngày. Các hoạt
động truyền thông qua báo giấy, báo điện tử: Thực hiện cùng với nội dung truyền
thông qua truyền hình nhưng thông qua báo giấy và báo điện tử theo ngày, tuần,
tháng và cũng được hỗ trợ 100% kinh phí.
Phát hành ấn phẩm: Thực hiện với nội dung nghiên cứu thị trường, tổng kết
bài học thành công và thất bại của các doanh nhân Việt Nam, địa chỉ các doanh
nghiệp sản xuất hàng Việt có uy tín, địa chỉ của các nhà phân phối có uy tín… Các
ấn phẩm phát hành cũng được hỗ trợ 100% kinh phí biên soạn, in ấn, phát hành.
Ở khu vực nông thôn, kênh truyền thanh đóng vai trò quan trọng trong hoạt
động truyền thông…
20
2.3 Kết quả phân tích và các dữ liệu thu thập về thực trạng hoạt động XTTM
sản phẩm dệt may nội địa trên thị trường nông thôn
2.3.1 Các hoạt động hỗ trợ năng lực cộng đồng doanh nghiệp
2.3.1.1 Hội thảo, tọa đàm
Hội thảo, tọa đàm là một trong những hoạt động hỗ trợ năng lực cộng đồng
của doanh nghiệp. Trung tâm nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp
(BSA) là đối tác của Bộ Công Thương thực hiện chương trình “Hàng Việt về nông
thôn”. BSA đã tổ chức 4 Hội thảo về thực trạng thị trường hàng Việt ở nông thôn
– Giải pháp phát triển thị trường ở từng vùng miền; 4 Tọa đàm tìm kiếm cơ hội
hợp tác kinh doanh, chia sẻ kinh nghiệm, phát triển thị trường nội địa. Các hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status