§Ò ¸n m«n häc
II
Đồ án
Kế hoạch sản
xuất và kế hoạch
dự trữ trong
doanh nghiệp
1
§Ò ¸n m«n häc
PHẦN MỞ ĐẦU
Đất nước ta với hơn 70% dân số sống bằng nghề nông với trồng trọt
và chăn nuôi là chủ yếu. Trong các loại cây tròng mang lại thu nhập khá cao
trong đó có cây mía là nguyên liệu chủ yếu sản xuất ra sản phẩm đường. Sản
phẩm này thường không ổn định đã làm cho sản xuất đường đứng trong tình
trạng “Ngàn cân treo sợi tóc”. Trong khi nền kinh tế nước ta không ngừng
phát triển vượt bậc, do sự đóng góp lớn của sản phẩm nông nghiệp. Trong
đó đỉnh cao là xuất khẩu gạo và sản phẩm của một số cây công nghiệp. Còn
cây mía vẫn đang trong tình trạng trì trệ không được cải thiện thêm. Đến lúc
này chúng ta kêu gọi kế hoạch sản xuất đường liệu có phải là quá muộn
không? Dù sao chúng ta không thể để tình trạng này kéo dài. Đây là lý do
em chọn đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn thầy đã giúp đỡ em hoàn thiện đề án này.
Voí kién thức chưa đầy đủ của mình em mong thầy thông cảm cho em
những phần còn thiếu sót.
2
§Ò ¸n m«n häc
PHẦN NỘI DUNG
I . TỔNG QUAN VỀ KẾ HOẠCH TRONG DOANH NGHIỆP
1.Tổng quan vế doanh nghiệp
1.1. Khái niệm về doanh nghiệp
động kinh doanh là công việc thực hiện một hoạc một số công đoạn sản
xuất, đến tiêu thụ cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Từ khái niệm trên ta thấy rằng: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh
tế.Tổ chức là một nhóm tối thiểu là hai người cùng hoạt động với nhau một
cách có quy củ theo những nguyên tắc, thể chế và các tiêu chuẩn (văn hoá)
nhất định, nhằm đặt ra mục tiêu chung. Như vậy một tổ chức có các đặc
trưng cơ bản sau đây:
+ Một nhóm người cùng hoặt động với nhau.
+ Có mục tiêu chung.
+ Được quản lý theo thể chế ,nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc
được quan niệm như là các chuẩn mực tiêu chuẩn cần thiết để điều hành tổ
chức một cách có trật tự nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra.
Có nhiều loại tổ chức tuỳ theo mục đích phân loại, nếu xét theo tính
chất hoạt động sẽ có các tổ chức khác nhau: Tổ chức chính trị, tổ chức xã
hội, tổ chức kinh doanh... Nếu xét theo mục tiêu sẽ có tổ chức nhằm mục
tiêu lợi nhuận và tổ chức nhằm mục tiêu phi lợi nhuận, xét theo tính tồn tại
thì sẽ có tổ chức ổn định và tổ chức tạm thời.
Vậy để xác định đâu là tổ chức kinh tế, chúng ta phải dựa vào mục
đích hoạt động của doanh nghiệp. Đây là điều cơ bản để ta phân biệt nó với
các tổ chức khác.
4
§Ò ¸n m«n häc
1.2.Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp
Vào năm 1986 Đaị Hội Đảng lần VI tuyên bố đường lối đổi mới bắt
đầu thực hiện chương trình đổi mới. Trước năm 1986 chúng ta đang nằm
trong cái bọc của nền kinh tế quan liêu bao cấp. Phạm trù xí nghiệp được
sinh sôi nảy nở, nó được hiểu là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn,
thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động công ích nhằm thực hiện mục tiêu
chung do nhà nước giao cho. Hoạt động sản xuất thụ động, trông chờ từ cấp
trên đưa xuống, với mục tiêt hoàn thành đúng, đủ, kịp thời số lượng từ trên
1.3.Các giai đoạn kế hoạch kinh doanh
Trong giai đoạn hình thành: thường lập kế hoạch định hướng, thời kỳ
này rất cần sự mềm dẻo và linh hoạt vì mục tiêu có tính thăm dò, nguồn
chưa được xác định rõ, thị trường chưa có gì chắc chắn.
Giai đoạn phát triển: Các kế hoạch có xu hướng ngắn hạn và thiên về
các mục tiêu được xác định rõ hơn, các nguồn đưa vào thị trường cho đầu ra
đang phát triển.
Giai đoạn chín muồi có tính ổn định và tính dự đoán của doanh ghiệp
lớn nên kế hoặch dài hạn và cụ thể trong từng giai đoạn này là thích hợp.
Giai đoạn suy thoái có kế hoạch chuyển từ dài hạn sang ngắn hạn, từ
cụ thể sang định hướng. Giống giai đoạn đầu, thời kỳ suy thoái cần mềm
dẻo.Vì các mục tiêu phải được xem xét và đánh giá lại, nguồn cung được
phân phối lại và điều chỉnh khác.
1.4 Quản lý sản xuất trong doanh nghiệp
6
Chất lượng
Tốc độ
Tính linh hoạt
§Ò ¸n m«n häc
Dù bất kỳ một tổ chức nào cũng cần phải có quản lý. Nhất là trong
một doanh nghiệp thì nó không thể thiếu được. Chỉ khi có quản lý các doanh
nghiệp mới hướng các thành viên cùng theo đuổi một mục tiêu chung, và
hoạt động có hiệu quả. Nếu không có quản lý thì doanh nghiệp không còn là
một tổ chức nữa, ngày nay cùng với sự vượt bậc sản xuất thì năng lực của
người quản lý không ngừng được nâng cao.
Nhìn vào sơ đồ ta thấy bốn đỉnh của tứ giác là chất lượng, tốc độ, hiệu
quả, tính linh hoạt. Bốn đỉnh đó chịu ảnh hưởng của môi trường kinh doanh.
Như chúng ta đã biết môi trường kinh doanh không phải lúc nào cũng ổn
định. Sự đỏng đảnh của nó khiến cho chúng ta phải quản lý tốt.
nhuận tối đa, không phải đi trên “thảm đỏ”. Sự thất bại và thành công dường
như là hình và bóng, một người quản lý giỏi phải biết tạo ra nhiều thành
công, phải đứng vững trên thương trường. Lý do cuả sự khó khăn này là môi
trường kinh doanh.
Trong điều kiện hiện nay cơ chế ngày càng thông thoáng là điều kiện
tốt để doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, giao lưu buôn bán với
nước ngoài. Nguồn FDI là vô cùng quan trọng trong tình hình nước ta đang
thiếu vốn, với nguồn vốn này nó tạo ra sự thay đổi toàn bộ bộ mặt kinh tế từ
khoa học kỹ thuật tới cơ sở hạ tầng.Trên thực tế doanh nghiệp sản xuất của
ta đang tận dụng cơ hội do cơ chế mới mang lại nhưng gặp phải nhiều khó
khăn. Tuy có sự ảnh hưởng của khoa học công nghệ nhưng việc nắm bắt
chúng còn chậm, cơ sở hạ tầng phát triển nhưng vẫn còn nhiều bất cập.
Chính vì vậy lên điều kiện sản xuất của ta còn khó khăn, chi phí cao làm cho
giá thành cao đây là một trong những lý do khiến cho năng lực cạnh tranh
yêú.
8
§Ò ¸n m«n häc
Các loại sản phẩm việt nam có giá thành cao hơn từ 20%- 40% giá
thành các nước trong khu vực như là : đường, giấy, xi măng, vải, phân bón,
hoá chất cơ bản, thép... mà nguyên nhân chính ở đây là chi phí trong gian
cao, mức chi phí này trong công nghiệp chiếm tới 60% trong đó có 80% là
chi phí vật chất những con số tương ứng trong nông nghiệp là 40 % và 70%.
Chi phí đầu vào của mỗi sanr phẩm nhất là nông phẩm có chiều hướng gia
tăng. Chi phí đầu vào của cả nền kinh tế cao là do lệ thuộc nhiều vào nhập
khẩu, phẩn nguyên liệu sản xuất trong đó chất lượng không cao, không ổn
định. Ngoài ra chi phí dịch vụ sau sản xuất kinh doanh ở mức cao( như là chi
phí kho bãi, thông tin, lệ phí , hải quan...) trình độ trang thiết bị lạc hậu từ
hai đến ba thế hệ so với các nước trong khu vực. Công nhân kỹ thuật thiếu,
tay nghề thấp. Tất cả điều đó đã làm cho năng xuất lao dộng thấp, 80% tăng
trưởng dựa vào vốn. Phần đóng góp tăng trưởng từ năng xuất lao động chỉ
hoạch dài hạn hiển nhiên bắt nguồn từ mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp và
có liên quan tới những bước thực hiện để tiến đến mục tiêu đó. Ví dụ, mục
tiêu chen chân vào một thị trường nhất định nào đó, càn phải sản xuất sản
phẩm này trong năm nay, năm sau thì sản xuất như thế nào, năm sau nữa có
10
KH sản
xuất
KHMKT
Doanh nghiệp
KH t i à
chính
KH nhân
sự
KH KH -
CN
§Ò ¸n m«n häc
lên xây dựng nhà máy mới nữa không. Tuy nhiên trong kế hoach ngắn hạn,
người quản lý vạch ra một cách chính xác, những bước triển khai và dựa vào
sản xuất sản phẩm mới. Trong từng đợt ngắn phải xác định thời hạn hoàn
thành, thứ tự yêu tiên, lên đơn hàng vật tư, và thuê tuyển huấn luyện công
nhân, kỳ hạn càng ngắn thì kế hoạch càng phải rõ ràng.
Rất nhiều việc lập kế hoạch có thể giao cho nhóm nhân viên thực
hiện. Trong những năm gần đây rất nhiều kỹ thuật, như quy hoạch tuyến
tính, PERT, các cơ sở dữ liệu tính toán, phương pháp tái tạo được nhân viên
sử dụng để giúp họ phân tích và đưa ra quyết định tuy vậy ta không được
quên rằng kỹ thuật đó không đưa ra quyết định mà người ra quyết định là
người quản lý. Một ví dụ về việc lập dự án Satur của Generalmotors, trong
đó công ty dự kiến xây dựng một nhà sản xuất ôtô mới để chế tạo và bán loại
xe nhỏ “dùng cho gia đình” việc lập kế hoạch được xúc tiến khẩn trương để
đảm bảo chắc chắn thành công trong một tổng thể công trình trên mặt bằng
sư giỏi, đội ngũ công nhân được đào tạo tốt và trang thiết bị hiện đại. Chỉ có
những công ty hạng nhất mới có hy vọng cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Đặc điểm thứ hai của sản xuât hiện đại là ngày càng chú trọng đến chất
lượng. Trên thị trường quốc tế ngày nay, chất lượng là con đường duy nhất
dành thắng lợi. Đã bao nhiêu lần chúng ta được nghe thấy câu “ chiếc
Toyota của tôt thật tuyệt vời, nó tốt hơn hẳn xe của Mỹ sản xuất” và cũng
không lấy làm ngạc nhiên rằng Ford quảng cáo “ chất lượng là công việc số
một”.
Đặc điểm thứ ba của sản xuất hiện đại là ngày càng nhận thức rõ hơn
con người là tài sản lớn nhất của công ty. Ngày càng công ty xoá bỏ các
chuyên viên ở bộ tổng tham mưu để cho những người thực sẹ tham gia sản
12
§Ò ¸n m«n häc
xuất tạo ra sản phẩm có thể thông qua quyết định ngay trên “tuyển lửa”.
Ngày càng thấy rõ hơn cần có một cơ cấu tổ chức ngang cấp, không có
những hàng rào chức năng.
Đặc điểm thứ tư của sản xuất là lỗi bận tâm về kiểm soát chi phí.
Những nhà quản lý cấp cao luôn rà soát từng chức năng, xoá bỏ một số việc,
gép một số việc lại, đề cao trách nhiệm của cấp dưới, lập kế hoạch mạnh
nhất là đối với chức năng tham mưu, lập kế hoạch đào tạo, công việc văn
phòng là việc được xem như là tốn kém.
Đặc điểm thứ năm : Tập trung và chuyên môn hoá. Nhiều công ty thấy
rằng họ không thể giỏi mọi thứ và cần phải tập trung vào cái họ làm tốt nhất.
Họ phải xác định được sở trường của mình, một số nhà sản xuất tập trung
vào sản xuất một mặt hàng một số khác thì giới hạn sản xuất một chủng loại
sản phẩm có liên quan. Kết của của việc chuyên một hoá như vậy thường là
hạ thấp được chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng. Việc chuyên môn hoá
cũng có là phân công việc và trách nhiệm, điều này tác động cả công nhân
và người quản lý.
Đặc điểm thứ sáu: Thừa nhận rằng những nhà máy sản xuất hàng loạt,