VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM CÔNG ĐỊNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ DU LỊCH
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỘI AN,
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN MINH ĐỨC
HÀ NỘI, năm 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo
đúng quy định. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích
một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn. Các kết quả này chưa
từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác.
Quảng Nam, ngày tháng
năm 2021
Tác giả luận văn
Phạm Công Định
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
2.1
2.2
2.3
2.4
Số lượng và tỷ lệ tăng, giảm cơ sở kinh doanh dịch vụ lữ
hành tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Cơ cấu kinh doanh dịch vụ lữ hành chia theo đích đến
tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Số lượng và tỷ lệ tăng, giảm cơ sở kinh doanh dịch vụ
vận tải du lịch tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Thống kê các dịch vụ du lịch khác tại thành phố Hội
An, tỉnh Quảng Nam
Trang
38
Tên sơ đồ
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành du lịch
về dịch vụ du lịch tại Hội An
Trang
46
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hội An là đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Quảng Nam, là di
sản phản hoá thế giới với lợi thế phát triển kinh tế du lịch dồi dào. Tính đến hết
năm 2019, Hội An có 527 cơ sở lưu trú với 9.040 phịng, trong đó loại hình khách
sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao trở lên là 30 cơ sở với 3.041 phòng, chiếm tỷ trọng 5,7%
tổng số cơ sở lưu trú và 33,6% tổng số lượng phòng lưu trú trên địa bàn. Về vận
chuyển, lữ hành: 84 đơn vị kinh doanh vận chuyển, lữ hành, trong đó có chức năng
kinh doanh lữ hành quốc tế 31 đơn vị, kinh doanh lữ hành nội địa 17 đơn vị, vận
chuyển 33 đơn vị, bán vé 3 đơn vị. 42/84 đơn vị hoạt động tuyến Hội An- Cù Lao
Chàm[21; tr13]. Các loại dịch vụ khác như: dịch vụ ăn uống, chăm sóc sắc đẹp,
mua sắm… đa dạng về loại hình dịch vụ và chủng loại hàng hóa, đảm bảo phục vụ
tốt nhu cầu của khách du lịch, mạng lưới cung cấp hàng mua sắm cũng rất đa dạng
phong phú: may mặc lấy nhanh, giày dép, lưu niệm, lồng đèn, đồ mộc lưu niệm
chạm khắc... Đội ngũ lao động từng bước chuyên nghiệp hơn.
Tuy nhiên, với quy mô và tốc độ phát triển nhanh chóng, hoạt động quản lý
nhà nước về dịch vụ du lịch chịu áp lực lớn và tất yếu xuất hiện những hạn chế,
vướng mắc gây cản trở cho việc duy trì trật tự, chất lượng và phát triển của kinh tế
du lịch địa phương như: xuất hiện những vấn đề quản lý mới chưa được pháp luật
ghi nhận và điều chỉnh một cách đầy đủ như Condoltel, Oficetel hay tự xác định
luận về quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch.
Thứ hai, những vấn đề thực tiễn về quản lý nhà nước về du lịch (bao gồm
quản lý dịch vụ du lịch) như thực tiễn thể chế (chính sách và pháp luật), thực tiễn
thực hiện và kết quả của hoạt động quản lý gắn với từng phạm vi nghiên cứu cụ thể
đã được nhiều cơng trình nghiên cứu phân tích, làm rõ. Tuy nhiên, vì nội hàm tiếp
cận rộng, vấn đề thực tiễn quản lý dịch vụ du lịch chỉ được xem xét, đánh giá lồng
ghép trong vấn đề du lịch nói chung nên chưa nổi bật được những vấn đề thực trạng
cần phân tích và đánh giá chuyên sâu. Thêm nữa, thực tiễn quản lý nhà nước về
dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam chưa được bất kỳ
cơng trình nào xem xét, đánh giá.
Thứ ba, những vấn đề nghiên cứu liên quan đến việc đề xuất quan điểm và
xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch ở trên phạm vi
toàn quốc hay của những địa phương cụ thể đã được một số nghiên cứu thực hiện.
Tuy nhiên, vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý dịch vụ du lịch vẫn còn mờ nhạt. Vì
4
thực tiễn nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam chưa có, nên
cũng thiếu hụt các giải pháp gắn liền với địa bàn nghiên cứu này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn
về quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch, qua đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hội An, Quảng
Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu kể trên, học viên xác định các nhiệm vụ
nghiên cứu bao gồm:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch
như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung và các yếu tố tác động. Trong đó trọng
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận là những luận điểm trong học
thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa kiến
trúc thượng tầng và hạ tầng kinh tế; về tính lịch sử của sự vật, hiện tượng. Đồng
thời cơ sở lý luận của luận văn còn là các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về chuyển đổi thành phần nền kinh tế theo hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụ và các
đường lối đổi mới lĩnh vực du lịch. Các chính sách pháp luật của Nhà nước về vấn
đề phát triển dịch vụ du lịch được thể hiện thông qua các chính sách, văn bản quy
phạm pháp luật của các cấp Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn mới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn được thực hiện bởi các phương pháp nghiên cứu sau: Phương
pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp; Phương pháp phân tích – tổng hợp; Phương pháp
thống kê; Phương pháp so sánh. Các phương pháp nghiên cứu trên được sử dụng cụ
thể trong luận văn như sau:
Thứ nhất, Chương 1 với nội dung nghiên cứu là những vấn đề lý luận và pháp
lý về quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch, phương pháp nghiên cứu được sử sụng
gồm: Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp; Phương pháp phân tích - tổng hợp.
Trong đó:
6
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp được sử dụng nhằm giúp học viên
dung nạp kiến thức lý luận về quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trong các nghiên
cứu khoa học khác đã được công bố. Phương pháp này tạo lập nền tảng lý luận
quan trọng để học viên thực hiện các nhiệm vụ của luận văn một cách thông suốt và
logic.
- Trên cơ sở các kết quả có được từ việc nghiên cứu tài liệu thứ cấp, học viên
sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp nhằm hệ thống hoá các vấn đề lý luận
đã sáng tỏ của quản lý nhà nước và dịch vụ du lịch.
Thứ hai, Chương 2 với nội dung nghiên cứu là những vấn đề thực tiễn về
Luận văn dự kiến có được những ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Với những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch đã được xác
lập trong luận văn, học viên hi vọng sẽ đóng góp làm phong phú hơn kho tàng lý
thuyết nghiên cứu về quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về các lĩnh
vực cụ thể nói riêng. Sự đóng góp này cịn có thể sẽ trở thành điểm tiếp nối để mở
ra những chủ đề nghiên cứu lý luận mới xoay quanh chủ đề nghiên cứu của luận
văn.
6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Với những kết quả nghiên cứu thực tiễn đạt được, luận văn hứa hẹn sẽ cung
cấp được một bức tranh toàn cảnh về tình hình quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch
trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đặc biệt, với những định hướng
và giải pháp đã đề xuất trong luận văn, nếu nhận được sự đồng thuận của nhà quản
lý, có thể sẽ trở thành những cứ liệu tham khảo có giá trị trong hoạt động cải biến
thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu cũng như trên phạm vi toàn quốc ở Việt Nam hiện
nay.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được cấu trúc thành 03 chương gồm:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp lý trong quản lý nhà nước về dịch
vụ du lịch;
8
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại thành phố Hội
An, tỉnh Quảng Nam
Chương 3. Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về dịch vụ du lịch từ thực tiễn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
9
lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.
10
Du lịch được cấu thành bởi các thành tố theo một cấu trúc sau:
Du lịch = Khách du lịch + Điểm đến du lịch + Các dịch vụ du lịch.
Trong đó, khách du lịch là chủ thể của hoạt động du lịch, là người quyết định
điểm đến và thụ hưởng các dịch vụ du lịch; Điểm đến du lịch là nơi chốn cụ thể mà
khách du lịch lựa chọn trong một hoạt động du lịch cụ thể và Các dịch vụ du lịch là
những sản phẩm được cung ứng cho khách du lịch để nâng cao trải nghiệm du lịch.
Dịch vụ du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ
sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời
gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lịng. Theo đó, cơng thức
của dịch vụ du lịch là:
Dịch vụ du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hoá du lịch
Như vậy, có thể thấy, trước hết Dịch vụ du lịch là một loại dịch vụ, quá trình
phát triển dịch vụ du lịch cũng nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch và
giúp doanh nghiệp thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Cụ thể,
phát triển dịch vụ du lịch là hệ thống các biện pháp, phương pháp nhằm gia tăng
không chỉ số lượng loại hình du lịch mà cịn nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch
nhằm cung ứng tốt hơn cho du khách và đem lợi ích ngày càng cao cho cơng ty du
lịch.
Dịch vụ du lịch rất đa dạng trong các nội dung, tuy nhiên có thể kể tới các nội
dung tiêu biểu gồm:
- Dịch vụ lữ hành (tour du lịch). Có nhiều loại hình dịch vụ, tour du lịch khác
nhau như: Du lịch biển, trải nghiệm sông nước, khám phá leo núi, nhảy dù, nghiên
cứu lịch sử, văn hóa ẩm thực, lặn biển, lễ hội,….
- Dịch vụ vận tải khách du lịch (cung cấp phương tiện di chuyển). Các loại
phương tiện đi du lịch phổ biến như: Xe khách, máy bay, tàu hỏa, xe máy, xe hơi,
xe đạp, taxi,…
điểm quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch như sau:
Thứ nhất, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch là quản lý các sản phẩm có
tính vơ hình. Khác với sản phẩm vật chất, các dịch vụ khơng thể nhìn thấy, nếm
ngửi, hay nghe thấy được trước khi sử mua. Ví dụ khi khách mua tour du lịch trọn
gói hay ghép đồn thì du khách khơng có gì ngồi hợp đồng chương trình chi tiết
12
hóa đơn và lời hứa hẹn đảm bảo về chất lượng dịch vụ sản phẩm nơi đến du lịch.
Tư vấn viên bán phịng ngủ khách sạn khơng thể nào mang cả phòng ngủ khách sạn
đến để bán cho du khách qua dịch vụ bán phòng. Họ chỉ bán quyền sử dụng trong
khoảng thời gian nhất định, khi du khách rời đi cũng khơng thể mang theo bất kỳ
thứ gì khác ngồi hóa đơn thanh tốn.
Chính vì thế, hoạt động quản lý nhà nước về du lịch địi hỏi phải có tính bao
quát cao trên cơ sở phải nhận diện được các sản phẩm dịch vụ du lịch vơ hình
thơng qua các phương tiện ghi nhận cam kết cung ứng và sử dụng dịch vụ. Như
vậy, hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch đòi hỏi phải quản lý từ các hợp
đồng, biên bản ghi nhận… cho tới việc thực thi sự cung ứng – thụ hưởng đó trên
thực tế. Quá trình quản lý phải là quá trình đối chiếu liên tục sự tương đồng của hai
vấn đề kể trên với các quy định của pháp luật hiện hành về dịch vụ du lịch đó.
Chính vì thế, từ đặc điểm thứ nhất này có thể khẳng định, quản lý nhà nước về dịch
vụ du lịch là hoạt động quản lý có tính phức tạp cao, bao gồm cả quản lý giới vơ
sinh (hữu hình và vơ hình) và giới hữu sinh (sinh vật sống, bao gồm cả con người).
Thứ hai, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch phải đảm bảo tính khơng thể
phân chia trong cung ứng và thụ hưởng dịch vụ. Hầu hết các dịch vụ du lịch, người
cung và cấp dịch vụ và khách hàng đều không thể tách rời nhau. Khách hàng tiếp
xúc với nhân viên là phần quan trọng của sản phẩm. Món ăn trong nhà hàng có thể
khơng hồn hảo nhưng nếu người phục vụ thiếu ân cần chu đáo,không thân thiện,
khách hàng có thể đánh giá thấp về chất lượng dịch vụ của nhà hàng. Về đặc tính
này cho thấy sự tác động qua lại giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng tạo
tiết, cụ thể của hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch. Ví dụ như đối với lưu trú ngồi
quản lý các vấn đề liên quan đến các điều kiện cung ứng dịch vụ lưu trú và người
lưu trú, hoạt động quản lý nhà nước còn phải xem xét đến các vấn đề rất cụ thể
như: số lượng bình chữa cháy/số phịng; loại chất tẩy rửa dùng cho chăn ga giường;
giải pháp xử lý nước thải sinh hoạt; điều kiện lắp đặt thang máy… hay ví dụ về
việc chuyển đổi từ “thìa có rãnh” sang “thìa khơng rãnh” trong quản lý ẩm thực của
thành phố Đà Nẵng cũng cho thấy sự chi tiết, tỉ mỉ trong trong công tác quản lý nhà
nước về dịch vụ du lịch.
14
1.1.2. Vai trò của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch
Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch đóng một vai trị quan trọng trong đảm
chất chất lượng của dịch vụ và trật tự trong việc cung ứng dịch vụ du lịch trên địa
bàn. Qua đó, góp phần thúc đẩy dịch vụ du lịch nói riêng và ngành kinh tế du lịch
nói chung. Các vai trị cụ thể đó của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch có thể kể
tới gồm:
Thứ nhất, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch giúp đảm bảo duy trì chất
lượng của dịch vụ du lịch. Chất lượng là giá trị cốt lõi của hoạt động cung ứng dịch
vụ du lịch. Chất lượng dịch vụ du lịch đến từ năng lực và ý thức của chủ thể cung
ứng. Tuy nhiên, hai vấn đề này không phải là những đại lượng bất biến, mà có xu
hướng biến đổi phức tạp. Sự biến đổi này bao gồm cả tích cực lẫn tiêu cực. Tích
cực là xu hướng mà nhà cung ứng liên tục nâng cao năng lực và ý thức của mình để
cung ứng dịch vụ du lịch ngày càng chất lượng hơn. Tiêu cực là xu hướng mà nhà
cung ứng sẽ có những gian dối trong q trình cung ứng dịch vụ du lịch nhằm giảm
chi phí đầu vào hoặc để theo đuổi kiểu kinh doanh chộp giật, chặt chém. Cả hai xu
hướng này đều cần đến sự can thiệp của nhà nước thông qua hoạt động quản lý nhà
nước về dịch vụ du lịch. Cụ thể:
- Ở xu hướng tích cực. Muốn nâng cao năng lực và ý thức của nhà cung ứng
là người canh giữ cho trạng thái cạnh tranh tích cực mà cịn là trung gian phân giải
khi có sự tranh chấp trong cung ứng và thụ hưởng dịch vụ du lịch. Nếu thiếu đi sự
hiện diện của nhà nước trong dịch vụ du lịch, tất yếu thị trường sẽ mất trật tự tiến
tới sự hỗn loạn khơng thể kiểm sốt được và xuất hiện thế độc quyền trong cung
ứng – trạng thái bất lợi cho người thụ hưởng.
Thứ ba, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch thúc đẩy sự phát triển của dịch
vụ du lịch nói riêng và kinh tế du lịch nói chung. Nội dung dịch vụ du lịch phụ
thuộc vào nội dung của kinh tế du lịch của quốc gia hay địa phương đó. Đến lượt
mình, nội dung của kinh tế du lịch phản ánh điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên và
văn hoá của địa phương hay quốc gia đó. Chính vì thế, dịch vụ du lịch phải có sự
phát triển phù hợp với ý chí chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội… của từng quốc gia,
từng địa phương. Muốn định hướng đúng sự phát triển đó, nhất thiết phải cần đến
sự hiện diện của nhà nước trong quản lý dịch vụ du lịch.
16
Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch với thẩm quyền ban hành các chính sách
phát triển dịch vụ du lịch; cho phép hoặc không cho phép thông qua việc cấp phép
hoạt động cho các chủ thể cung ứng; ấn định các ưu đãi về thuế khoá và những điều
kiện khác… sẽ tác động, điều chỉnh xu hướng phát triển của dịch vụ du lịch của
quốc gia hoặc địa phương.
Sự định hướng phát triển này đến từ ý chí chính trị về phát triển kinh tế du
lịch của từng quốc gia hoặc từng địa phương. Việc định hướng này khơng làm ảnh
hưởng đến q trình phát triển tự nhiên của hoạt động cung ứng dịch vụ bằng các
mệnh lệnh hành chính. Ngược lại, các ý chí chính trị về phát triển dịch vụ du lịch
có được từ sự nghiên cứu kỹ lưỡng các tác động của kinh tế, xã hội… đến nhu cầu
dịch vụ du lịch và nghiên cứu dự báo sự xuất hiện, biến đổi hay biến mất của các
nhóm dịch vụ du lịch đến đời sống xã hội. Nói một cách dễ hiểu, các định hướng
phát triển này là kết quả của một quá trình nghiên cứu cơng phu, đa diện và thậm
chí là kinh nghiệm rút ra từ điển hình quốc tế hoặc từ những thử nghiệm trên thực
sau suy thoái. Khi này, chính nhà nước với tiềm lực khổng lồ của mình để nghiên
cứu có quy mơ về những khó khăn đang gặp phải, từ đó đề ra các giải pháp vi mô
và vĩ môvà với thẩm quyền ban hành chính sách, pháp luật để định hướng và ban
hành các mệnh lệnh hành chính để yêu cầu các chủ thể phải tuân thủ các giải pháp
đó trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn để thoát khỏi khủng hoảng.
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch
1.2.1. Xây dựng, ban hành pháp luật về dịch vụ du lịch
Đây là nội dung đầu tiên và có vai trị định hình các nội dung quản lý nhà
nước khác về dịch vụ du lịch. Cơ quan quản lý nhà nước theo thẩm quyền sẽ ban
hành những văn bản pháp luật quy định về dịch vụ du lịch nhằm thiết lập trật tự,
định ra các tiêu chuẩn, nguyên tắc và định hướng phát triển của dịch vụ du lịch
trong phạm vi toàn quốc hoặc của từng địa phương.
Pháp luật là những quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động, do Nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục luật định nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của Nhà
nước. Pháp luật một mặt hướng dẫn, điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham gia
quan hệ xã hội phù hợp với nhu cầu của xã hội, mặt khác, hướng đến ý thức tình
18
cảm làm cho mơ hình hành vi đọng lại trong ý thức của con người. Pháp luật mang
tính bắt buộc chung cho tất cả mọi người, mọi cơ quan, tổ chức nhằm mục đích
ngăn ngừa, răn đe, trừng phạt những hành vi sai trái, giáo dục, cảm hố những
người có hành vi này, bồi dưỡng cho mọi người tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý
thức tuân thủ pháp luật bảo đảm cho xã hội phát triển lành mạnh, an toàn, bền
vững… Pháp luật điều chỉnh những mối quan hệ xã hội chủ yếu, cơ bản mang tính
ổn định và được lặp đi lặp lại. Như vậy, pháp luật về dịch vụ du lịch là những
nguyên tắc xử sự chung trong mối quan hệ cung ứng và thụ hưởng dịch vụ du lịch.
Đây chính là những nguyên tắc pháp lý mà hoạt động dịch vụ du lịch phải tuân thủ.
Các văn bản pháp luật về dịch vụ du lịch được ban hành bởi các chủ thể có
văn bản quy phạm pháp luật nhằm đưa những quy định của pháp luật về dịch vụ du
lịch vào đời sống thực tiễn. Việc tổ chức thực hiện pháp luật về dịch vụ du lịch
cũng có các bước và các nội dung cụ thể như:
Bước 1. Tuyên truyền, phổ biến quy định pháp luật về dịch vụ du lịch;
Bước 2. Phân công, phân nhiệm và xác định mối quan hệ, cơ chế phối hợp
giữa các chủ thể thực hiện pháp luật về dịch vụ du lịch.
Bước 3. Tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước về dịch vụ du
lịchcho các cá nhân phụ trách quản lý ở các cấp.
Bước 4. Tổ chức thực hiện các nội dung vềdịch vụ du lịch theo sự phân công.
Bước 5. Tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát và giải quyết khiếu
nại, tố cáo trong quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch.
Các bước này có những bước là mắt xích của nhau, bước này là tiền đề của
bước sau, song cũng là sự tiếp nối của bước trước liền kề. Tuy nhiên, cũng có
những bước duy trì xun suốt và là điều kiện đảm bảo cho tổng thể việc tổ chức
thực hiện pháp luật về dịch vụ du lịch.
1.2.3. Thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động dịch vụ du lịch
Thanh tra, kiểm tra hoạt động dịch vụ du lịch là một nội dung có tính xun
suốt q trình quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch. Bất kể ở đâu và khi nào có sự
quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch nói riêng và quản lý nhà nước nói chung đều
cần phải có sự hiện diện của nội dung thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động kinh
doanh dịch vụ du lịch.
20
Thanh tra, kiểm tra, giám sát dịch vụ du lịch là việc cơ quan, cá nhân được
trao thẩm quyền thường xuyên hoặc đột xuất tiến hành nghiệp vụ giám sát, thanh
tra, kiểm tra các chủ thể cung ứng và khách hàng trong hoạt động dịch vụ du lịch.
Trong đó, chủ yếu đối tượng bị thanh tra, kiểm tra, giám sát là chủ thể cung ứng
dịch vụ.
Nội dung của hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát hướng tới chủ yếu là sự