QUẢN lý NHÀ nước về đất NÔNG NGHIỆP từ THỰC TIỄN HUYỆN PHÙ mỹ, TỈNH BÌNH ĐỊNH - Pdf 87

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG ĐÌNH KHA

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NƠNG NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2021


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG ĐÌNH KHA

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NƠNG NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRƯƠNG THỊ THU TRANG

HÀ NỘI, năm 2021


LỜI CAM ĐOAN

CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HỒN THIỆN CƠNG
TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỪ THỰC
TIỄN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH........................................................... 50
3.1. Quan điểm hồn thiện cơng tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp.....50
3.2. Giải pháp hồn thiện cơng tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp........56
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Sơ đồ vị trí của huyện Phù Mỹ........................................................................... 29


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nơng nghiệp đóng vai trị rất quan trọng đối với phát triển kinh tế
xã hội quốc gia. Trong nông nghiệp, đất không chỉ là địa điểm để sản xuất mà
đất còn tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, là một tư liệu sản xuất đặc
biệt quan trọng và không thể thay thế. Ngày nay, sự gia tăng nhanh chóng của
quá trình đơ thị hóa và sự gia tăng dân số làm do diện tích đất nơng nghiệp
suy giảm nhanh chóng. Vì vậy, yêu cầu quản lý nhà nước đối với đất nông
nghiệp một cách hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo
hướng nâng cao giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích là địi hỏi mang tính
cấp thiết. Việc sử dụng đất nơng nghiệp khơng chỉ mang lại lợi ích kinh tế,
hiệu quả xã hội mà tạo môi trường bền vững trước mắt và lâu dài. Trên thực
tế, công tác quản lý nhà nước đối với đất nơng nghiệp có nhiều vấn đề khó
khăn và phức tạp, địi hỏi phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự
đồng lịng, quyết tâm của người dân thì hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp mới
đạt hiệu quả cao nhất.

với đất nông nghiệp vào khuôn khổ, góp phần tạo điều kiện thuận lợi để
người dân sản xuất có hiệu quả, giúp phát triển kinh tế xã hội địa phương.
Do đó, là một cán bộ đang cơng tác tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định,
với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình cho cơng tác quản lý
nhà nước về đất nông nghiệp của huyện nhà, học viên mạnh dạn lựa chọn đề
tài “Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp từ thực tiễn huyện Phù Mỹ, tỉnh
Bình Định” để nghiên cứu trong phạm vi luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói chung và quản lý đất nơng
nghiệp nói riêng là vấn đề đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội


Việt Nam nên đã được các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách

nghiên cứu trên nhiều bình diện khác nhau. Có thể liệt kê số nghiên cứu tiêu
biểu như sau:
Nguyễn Thế Vinh (2006), Hoàn thiện quản lý nhà nước về đất đai của

2


chính quyền Quận Tây Hồ, đã phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản
về quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền cấp huyện, đánh giá thực
trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn quận Tây Hồ, những kết quả
đạt được và những hạn chế cùng nguyên nhân của hạn chế, từ đó tác giả đề
xuất một số giải pháp nhằm hồn thiện quản lý nhà nước về đất đai trên địa
bàn quận Tây Hồ trong thời gian tiếp theo [71].
Nguyễn Thị Phượng (2010), Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
những vấn đề đặt ra, đã đề cập đến những khó khăn, bất cập trong quản lý và
sử dụng ddats nông nghiệp ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp cụ thể

tải trên Tạp chí khoa học Tài nguyên và môi trường, số 26, năm 2019. Theo
các tác giả, tác động của q trình đơ thị hóa đã lấy đi một phần khơng nhỏ
đất nơng nghiệp. Tuy nhiên nhiều xã, phường vẫn giữ lại những diện tích đất
nơng nghiệp sử dụng vào mục đích cơng ích, nhằm bổ sung quỹ đất sử dụng
vào mục đích cơng cộng, tăng nguồn ngân sách của đơn vị hành chính cấp xã.
Việc quản lý đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích cơng ích ở nhiều địa
phương hiện nay vẫn cịn khơng ít bất cập. Việc nghiên cứu hiện trạng quản
lý, sử dụng đất cơng ích trên địa bàn các xã phường thuộc thành phố Quy
Nhơn để có giải pháp rà sốt lại quỹ đất cơng ích đúng diện tích quy định,
khai thác sử dụng hiệu quả, đồng thời giải quyết dứt điểm tình trạng bỏ hoang,
lấn chiếm hay quản lý chưa chặt chẽ hiện nay là thực sự cần thiết [22].
Nhìn chung, các cơng trình nghiên cứu khoa học nói trên đã hệ thống
hóa lý luận cơ bản đối với quản lý nhà nước về đất đai; làm rõ vai trò chủ sở
hữu đất đai mà đại diện cho Nhà nước với người sử dụng đất trong nền kinh tế
thị trường đồng thời, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về quản
lý nhà nước về đất đai như hệ thống thông tin về đất nông nghiệp được thu
thập và lưu giữ chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng nhu cầu của người
dân một cách thuận tiện, kịp thời; chất lượng quy hoạch sử dụng đất còn thấp,
hay bị điều chỉnh, kỷ luật tuân thủ quy hoạch chưa cao; vẫn còn một số tổ
chức, cá nhân sử dụng đất sai mục đích, sai quy hoạch; tiềm năng đất
4


nông nghiệp chưa được phát huy hiệu quả; trên cơ sở đó, một số cơng trình đã
đưa ra những quan điểm, phương hướng và giải pháp để hoàn thiện pháp luật
cũng như đảm bảo quản lý nhà nước về đất đai nói chung và đất nơng nghiệp
nói riêng. Song, hiện nay chưa có cơng trình nghiên cứu dưới cấp độ Luận
văn thạc sĩ luật học quản lý nhà nước về đất nơng nghiệp trên địa bàn huyện
Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà luận văn
hướng tới.

5


phương diện: lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thống kê, kiểm kê và lập
bản đồ sử dụng đất; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính trong
quản lý và sử dụng đất; giải quyết tranh chấp và khiếu nại, tố cáo trong quản
lý và sử dụng đất.
Về không gian: địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
Về thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2020
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin; tư
tưởng Hồ Chí Minh; những đuờng lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về quản lý nhà nước bằng pháp luật nói chung và các quan điểm, chủ
trương trong quản lý nhà nước về đất nông nghiệp nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thơng tin: Đề tài dựa trên nguồn thông tin thứ
cấp thu thập được từ những tài liệu nghiên cứu trước đây để xây dựng cơ sở
luận cứ và chứng minh giả thuyết các nguồn tài liệu thứ cấp gồm: sách, bài
tạp chí, luận án, luận văn, báo cáo đề tài khoa học, bài tham luận hội thảo, văn
bản quy phạm pháp luật, bài viết trên internet…
Phương pháp phân tích tổng hợp thống kê, so sánh: trên cơ sở nguồn
thông tin đã thu thập được, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh để đưa ra các nhận định nhằm giải quyết các nội dung đã được
đề cập. Cụ thể: Chương 1 của luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp phân
tích và tổng hợp để hệ thống hóa và lý giải những vấn đề lý luận cơ bản trong
quản lý nhà nước về đất nông nghiệp. Chương 2 sử dụng kết hợp phương
pháp phân tích, thống kê, so sánh để đưa ra những đánh giá về thực trạng
quản lý nhà nước về đất nông nghiệp tại huyện Phù Mỹ. Chương 3 chủ yếu sử

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ
lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về đất nông nghiệp.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở huyện
Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về
đất nông nghiệp tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

7


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm đất nông nghiệp
Luật đất đai năm 1993 ghi nhận: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô
cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu
của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơng
tình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng” [41].
Theo Từ điển tiếng Việt (1988), nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất
cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn ni [74,
tr.740].
Đất nơng nghiệp đơi khi cịn gọi là đất canh tác hay đất trồng trọt là
những vùng đất, khu vực thích hợp cho sản xuất, canh tác nông nghiệp, bao
gồm cả trồng trọt và chăn nuôi. Đây là một trong những nguồn lực chính
trong nơng nghiệp.
Theo Luật Đất đai năm 1993, “Đất nông nghiệp là đất được xác định
chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nơng nghiệp” [41]. Cách hiểu

khích được hộ gia đình, cá nhân để phát triển nông nghiệp theo xu hướng của
nền sản xuất hiện nay.
Qua nghiên cứu và từ các vấn đề phân tích trên, ta có thể đưa ra khái
niệm về đất nông nghiệp như sau: Đất nông nghiệp là một phần trong tổng
diện tích đất tự nhiên của mỗi địa phương, mỗi quốc gia, có đặc tính sử dụng
giống nhau bao gồm tổng thể các loại đất, với tư cách là tư liệu sản xuất sử
dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn
nuôi, nuôi trồng thủy sản, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ môi rường sinh thái;
nghiên cứu, thực hành, thí nghiệm về nơng, lâm,diêm nghiệp.
9


1.1.2. Đặc điểm đất nơng nghiệp
Đất nơng nghiệp có những đặc điểm chung của đất như: mỗi thửa đất
ứng với vị trí duy nhất trên vỏ trái đất, gắn với địa hình, nền khí hậu,tài
ngun và các cơng trình nhân tạo chung cho cả vùng hoặc tiểu vùng nhất
định; về dài hạn cung đất là cố định trong khi cầu về đất thì khơng ngừng tăng
lên, đi đơi với sự hiện diện nhiều hơn các cơng trình trên đất làm tăng tính
năng của nó nên giá đất có xu hướng tăng; chất đất, bề mặt đất có thể thay đổi
dưới tác động của tự nhiên, nhân tạo…
Ngồi ra, đất nơng nghiệp cịn có những đặc điểm riêng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đất nông nghiệp phải đáp ứng một số điều kiện nhất định về
thổ nhưỡng, địa hình, hệ thống nước.
Mỗi loại đất nơng nghiệp địi hỏi các điều kiện khác nhau về thổ
nhưỡng, nền khí hậu, các cơng trình phụ trợ,… đất trồng trọt đòi hỏi các điều
kiện về chất đất, nền khí hậu, hệ thống tưới tiêu phù hợp với từng loại cây
trồng; đất chăn nuôi gia súc địi hỏi điều kiện quy mơ diện tích đồng cỏ, hồ
chứa nước… Đất mặt nước để nuôi trồng thủy sản hay đất làm muối địi hỏi
điều kiện về diện tích, về chất nước…Đặc điểm này của đất nông nghiệp cho
thấy, khơng phải diện tích đất nào cũng có thể cải tạo để trở thành đất sản xuất

mỗi cá nhân muốn thay đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp nhằm để nâng
cao hiệu quả sử dụng đất hoặc vì mục đích lợi ích khác có giá trị cao hơn so
với mục đích sử dụng đất nông nghiệp nên các chủ thể đã tự ý làm thay đổi
mục đích sử dụng so với ban đầu và diện tích đất nơng nghiệp đó đã trở thành
đất phi nơng nghiệp. Sự thay đổi mục đích sử dụng đó có thể Nhà nước kiểm
sốt được và cho phép nếu phù hợp với quy hoạch chung của địa phương, tuy
nhiên cũng có trường hợp Nhà nước khơng kiểm sốt được việc cá nhân tự ý
chuyển mục đích sử dụng đó, từ đó dẫn đến tình trạng sử dụng đất khơng
đúng mục đích giữa thực tế và trên hồ sơ
1.1.3. Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
Quản lý nhà nước là thuật ngữ chỉ “sự tác động của các chủ thể mang
11


tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý
nhằm thực hiện những chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ
sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất
nước” [61].
Trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, Nhà nước bằng quyền lực
của bộ máy nhà nước duy trì tác động có mục đích và có định hướng lên đối
tượng quản lý đất đai cả về mặt quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về
đất đai và cả việc sử dụng đất đai của các chủ thể sử dụng đất. Tại Điều 5 của
Luật đất đai năm 2003 khẳng định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước đại diện chủ sở hữu” [41a]. Đến Luật đất đai năm 2013 thì lại khẳng
định thêm một lần nữa: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện
chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho
người sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013 [41b].
Như vậy, quản lý nhà nước về đất đai ở Việt Nam có những nét khác
biệt so với nhiều nước trên thế giới ở điểm: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, có
nghĩa là quản lý nhà nước về đất đai phải thể hiện được vai trị làm chủ của

nông nghiệp được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật. Các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương thay mặt
nhà nước thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước về đất nông nghiệp tại địa
phương đó bằng cách ban hành các quyết định quản lý hành chính. Thơng
thường các quyết định này được ban hành nhằm giải quyết các vụ việc cá biệt,
đây là các quyết định áp dụng pháp luật; nó được thể hiện dưới các hình thức
chủ yếu như quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất, phê duyệtquy hoạch
sử dụng đất; quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong pháp luật đất đai.
Đây là quyết định mang tính đơn phương và bắt buộc đối với phải thi hành.
Thứ hai,quản lý nhà nước về đất nông nghiệp phải phù hợp với mục
tiêu của quản lý nhà nước về đất đai nói chung cũng như thị trường quyền sử
dụng đất nông nghiệp. Mục tiêu của quản lý nhà nước về đất đai được xác
định cụ thể trong Hiến pháp năm 2013, Luật đất đai năm 2013 và trong các
quy định của pháp luật về đất đai, đó là bảo đảm sử dụng đất đai đúng mục
13


đích, hiệu quả, tiết kiệm và bảo vệ mơi trường ở mỗi địa phương và trong cả
nước. Để đạt được mục tiêu đề ra trong quản lý nhà nước về đất đai, Nhà
nước phải sử dụng các phương pháp (các biện pháp và cách thức) và các cơng
cụ thích hợp để tác động vào đối tượng quản lý. Đặc biệt phải kết hợp hài hòa
các phương pháp và sử dụng linh hoạt các công cụ để đạt được hiệu quả quản
lý cao. Đó là các cơng cụ pháp luật, cơng cụ về thuế và lệ phí, cơng cụ hành
chính và các phương pháp như phương pháp giáo dục, thuyết phục, phương
pháp kinh tế, phương pháp cưỡng chế khi cần thiết. Ngồi ra, quản lý nhà
nước về đất nơng nghiệp cũng phải phù hợp với các giao dịch về quyền sử
dụng đất nông nghiệp trong những khoảng thời gian và không gian nhất định
để đảm bảo ổn định giá cả quyền sử dụng đất nông nghiệp và hạn chế các giao
dịch thiếu lành mạnh.
Thứ ba, quản lý nhà nước về đất nơng nghiệp là hoạt động gắn liền với

bởi lẽ, đất đai là nguồn tài ngun q giá có giới hạn về mặt số lượng (diện
tích), trong khi đó sức ép về mặt dân số và nhu cầu sử dụng đất ngày càng
tăng. Trong quản lý nhà nước về đất đai nói chung và quản lý nhà nước về đất
nơng nghiệp nói riêng cần chú trọng kết hợp hài hồ giữa lợi ích của nhà
nước, lợi ích cộng đồng với lợi ích của người sử dụng đất, bởi vì đất đai
khơng chỉ là tài sản của quốc gia, mà còn là tư liệu sản xuất của người sử
dụng đất, nhất là đối với nông dân Việt Nam. Nếu chỉ coi trọng lợi ích của
Nhà nước, xem nhẹ lợi ích của người sử dụng đất nơng nghiệp thì khơng động
viên được người sử dụng đất phát huy tính tích cực, sáng tạo trong sự phát
triển kinh tế của đất nước. Ngược lại, nếu chỉ chú ý đến lợi ích của người sử
dụng đất nơng nghiệp thì sẽ làm ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia.
1.3. Vai trò quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
Thứ nhất, quản lý nhà nước về đất nông nghiệp giúp quản lý và sử dụng
đất đúng mục đích góp phần phát triển KT - XH. Thơng qua hoạch định chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phân bổ đất đai có cơ sở khoa học nhằm phục vụ
cho các mục đích KT - XH của đất đai nói chung và đất nông nghiệp
15


nói riêng. Việc đảm bảo quản lý nhà nước về đất nông nghiệp sẽ giúp cho
người sử dụng đất nông nghiệp nắm được quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước,
từ đó họ có được phương thức, biện pháp phù hợp để khai thác, sử dụng đất
nông nghiệp đem lại lợi nhuận cao nhất cho bản thân cũng như góp phần ổn
định và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đồng thời, thông qua công
tác đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hành chính các cấp,
nhà nước nắm chắc tồn bộ quỹ đất đai cả về số lượng và chất lượng làm căn
cứ cho việc đề ra các biện pháp KT - XH có hệ thống, có căn cứ khoa học
nhằm sử dụng đất đai hiệu quả và hợp lý.
Thứ hai, quản lý nhà nước về đất nơng nghiệp góp phần bảo đảm lợi
ích quốc gia, lợi ích địa phương trên phương diện kiểm sốt và sử dụng hợp lý

mang tính linh hoạt, thơng thống sẽ có thể khuyến khích người sử dụng đất
nơng nghiệp tích cực, chủ động trong khai thác và sử dụng đất nông nghiệp.
Thứ ba, việc quản lý nhà nước về đất nơng nghiệp góp phần bảo đảm
lợi ích của người sử dụng đất. Chính quyền địa phương quản lý đối với đất
nông nghiệp với tư cách là cơ quan bảo vệ tài nguyên quốc gia vì đất là tài
nguyên khan hiếm, một trong những nguồn lực cơ bản của phát KT - XH. Lợi
ích quốc gia, lợi ích địa phương trước hết thể hiện ở phương diện kiểm soát và
sử dụng hợp lý tổng quỹ đất của tỉnh. Chính quyền địa phương có khả năng
phối hợp với Tổng cục quản lý đất đai tiến hành kiểm kê, kiểm soát, đo đạc
bản đồ, phân định địa giới hành chính, phân hạng đất, thăm dị địa chất, điều
tra khống sản, tài ngun, lên kế hoạch sử dụng dài hạn quỹ đất. Trên cơ sở
dữ liệu quỹ đất của tỉnh, chính quyền địa phương có thể xây dựng quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại địa phương một cách hợp lý. Để đảm
bảo lợi ích của người sử dụng đất nơng nghiệp ở mỗi địa phương thì cần thiết
phải có sự quản lý đối với đất nơng nghiệp của chính quyền địa phương.
Thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nơng nghiệp, chính
quyền địa phương nắm được hiện trạng sử dụng đất và các biến động về đất
nông nghiệp trong quá trình sử dụng, mặt khác thừa nhận và bảo hộ quyền lợi
17


hợp pháp của người sử dụng đất nơng nghiệp. Ngồi ra, thông qua pháp luật
đất đai và hệ thống các chính sách đất đai, chính quyền cấp tỉnh bảo vệ lợi ích
chính đáng của người sử dụng đất nơng nghiệp trong các vấn đề giao đất, thu
hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; tài chính đất; chuyển mục đích sử
dụng đất…
Thứ tư, quản lý nhà nước về đất nơng nghiệp cịn giúp đảm bảo cho các
quan hệ sử dụng đất nông nghiệp được vận hành theo đúng quy định của Nhà
nước. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, nhà nước trong quản lý nhà nước
về đất nông nghiệp có nhiệm vụ phát hiện kịp thời các sai sót, các vi phạm

phải đảm bảo được các nội dung cơ bản: định hướng sử dụng đất nơng nghiệp
10 năm, xác định diện tích các loại đất nông nghiệp theo nhu cầu sử dụng của
tỉnh, của huyện. xác định các khu vực sử dụng đất nông nghiệp; lập bản đồ
quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp và đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện
quy hoạch sử dụng đó trên địa bàn.
Trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất nơng nghiệp được các cấp có thẩm
quyền phê duyệt, chính quyền tỉnh, huyện, xã lập kế hoạch sử dụng đất cho
các năm sử dụng; phân tích, đánh giá về tính phù hợp và hiệu quả của việc sử
dụng đất nông nghiệp trong kỳ trước cũng như đề xuất một số dự kiến phát
triển trong kỳ tới đảm bảo đáp dứng nhu cầu trong phát triển đô thị địa
phương. Thực tiễn cho thấy, nếu có quy hoạch sử dụng đất nơng nghiệp mà
khơng có kế hoạch sử dụng thì quy hoạch đó khơng được thực hiện và có thể
dẫn tới phá vỡ quy hoạch.
Trong quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nơng
nghiệp của chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện trước khi trình cấp trên phê
duyệt, Uỷ ban nhân dân các cấp phải trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông
qua quy hoạch, kế hoạch này. Ngồi ra, chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh có
nhiệm vụ thành lập hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp
huyện và phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đó.
19


1.4.2. Thống kê, kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất
nông nghiệp
Thống kê, kiểm kê đất nơng nghiệp là một hoạt động cần thiết của
chính quyền địa phương để nắm được số lượng và diễn biến đất nơng nghiệp
trong q trình quản lý và sử dụng. hoạt động này nhằm đánh giá hiện trạng
sử dụng đất trong so sánh với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nơng nghiệp
đã được phê duyệt để có quyết định phù hợp cũng như để cung cấp dữ liệu hệ
thống thông tin đất đai.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status