VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG ĐÌNH KHA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NƠNG NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG ĐÌNH KHA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NƠNG NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRƯƠNG THỊ THU TRANG
HÀ NỘI, năm 2021
LỜI CAM ĐOAN
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG
TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỪ THỰC
TIỄN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH ........................................... 50
3.1. Quan điểm hồn thiện cơng tác quản lý nhà nước về đất nơng nghiệp ... 50
3.2. Giải pháp hồn thiện cơng tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ..... 56
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Sơ đồ vị trí của huyện Phù Mỹ........................................................ 29
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nơng nghiệp đóng vai trị rất quan trọng đối với phát triển kinh tế
xã hội quốc gia. Trong nông nghiệp, đất không chỉ là địa điểm để sản xuất mà
đất còn tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, là một tư liệu sản xuất đặc
biệt quan trọng và không thể thay thế. Ngày nay, sự gia tăng nhanh chóng của
quá trình đơ thị hóa và sự gia tăng dân số làm do diện tích đất nơng nghiệp
suy giảm nhanh chóng. Vì vậy, yêu cầu quản lý nhà nước đối với đất nông
nghiệp một cách hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo
hướng nâng cao giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích là địi hỏi mang tính
cấp thiết. Việc sử dụng đất nơng nghiệp khơng chỉ mang lại lợi ích kinh tế,
hiệu quả xã hội mà tạo môi trường bền vững trước mắt và lâu dài. Trên thực
tế, công tác quản lý nhà nước đối với đất nơng nghiệp có nhiều vấn đề khó
khăn và phức tạp, địi hỏi phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự
đồng lịng, quyết tâm của người dân thì hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp mới
đạt hiệu quả cao nhất.
với đất nông nghiệp vào khuôn khổ, góp phần tạo điều kiện thuận lợi để
người dân sản xuất có hiệu quả, giúp phát triển kinh tế xã hội địa phương.
Do đó, là một cán bộ đang cơng tác tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định,
với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình cho cơng tác quản lý
nhà nước về đất nông nghiệp của huyện nhà, học viên mạnh dạn lựa chọn đề
tài “Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp từ thực tiễn huyện Phù Mỹ, tỉnh
Bình Định” để nghiên cứu trong phạm vi luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói chung và quản lý đất nơng
nghiệp nói riêng là vấn đề đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội
ở Việt Nam nên đã được các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách
nghiên cứu trên nhiều bình diện khác nhau. Có thể liệt kê số nghiên cứu tiêu
biểu như sau:
Nguyễn Thế Vinh (2006), Hoàn thiện quản lý nhà nước về đất đai của
2
chính quyền Quận Tây Hồ, đã phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản
về quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền cấp huyện, đánh giá thực
trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn quận Tây Hồ, những kết quả
đạt được và những hạn chế cùng nguyên nhân của hạn chế, từ đó tác giả đề
xuất một số giải pháp nhằm hồn thiện quản lý nhà nước về đất đai trên địa
bàn quận Tây Hồ trong thời gian tiếp theo [71].
Nguyễn Thị Phượng (2010), Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
những vấn đề đặt ra, đã đề cập đến những khó khăn, bất cập trong quản lý và
sử dụng ddats nông nghiệp ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp cụ thể
nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý và sử dụng đất nông nghiệp của Nhà
nước [39].
Nguyễn Văn Xuyên (2012), Thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý
nơng nghiệp sử dụng vào mục đích cơng ích, nhằm bổ sung quỹ đất sử dụng
vào mục đích cơng cộng, tăng nguồn ngân sách của đơn vị hành chính cấp xã.
Việc quản lý đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích cơng ích ở nhiều địa
phương hiện nay vẫn cịn khơng ít bất cập. Việc nghiên cứu hiện trạng quản
lý, sử dụng đất cơng ích trên địa bàn các xã phường thuộc thành phố Quy
Nhơn để có giải pháp rà sốt lại quỹ đất cơng ích đúng diện tích quy định,
khai thác sử dụng hiệu quả, đồng thời giải quyết dứt điểm tình trạng bỏ
hoang, lấn chiếm hay quản lý chưa chặt chẽ hiện nay là thực sự cần thiết [22].
Nhìn chung, các cơng trình nghiên cứu khoa học nói trên đã hệ thống
hóa lý luận cơ bản đối với quản lý nhà nước về đất đai; làm rõ vai trò chủ sở
hữu đất đai mà đại diện cho Nhà nước với người sử dụng đất trong nền kinh
tế thị trường đồng thời, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về
quản lý nhà nước về đất đai như hệ thống thông tin về đất nông nghiệp được
thu thập và lưu giữ chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng nhu cầu của
người dân một cách thuận tiện, kịp thời; chất lượng quy hoạch sử dụng đất
còn thấp, hay bị điều chỉnh, kỷ luật tuân thủ quy hoạch chưa cao; vẫn còn một
số tổ chức, cá nhân sử dụng đất sai mục đích, sai quy hoạch; tiềm năng đất
4
nông nghiệp chưa được phát huy hiệu quả; trên cơ sở đó, một số cơng trình đã
đưa ra những quan điểm, phương hướng và giải pháp để hoàn thiện pháp luật
cũng như đảm bảo quản lý nhà nước về đất đai nói chung và đất nơng nghiệp
nói riêng. Song, hiện nay chưa có cơng trình nghiên cứu dưới cấp độ Luận
văn thạc sĩ luật học quản lý nhà nước về đất nơng nghiệp trên địa bàn huyện
Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà luận văn
hướng tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn thực trạng
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin; tư
tưởng Hồ Chí Minh; những đuờng lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về quản lý nhà nước bằng pháp luật nói chung và các quan điểm, chủ
trương trong quản lý nhà nước về đất nông nghiệp nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thơng tin: Đề tài dựa trên nguồn thông tin thứ
cấp thu thập được từ những tài liệu nghiên cứu trước đây để xây dựng cơ sở
luận cứ và chứng minh giả thuyết các nguồn tài liệu thứ cấp gồm: sách, bài
tạp chí, luận án, luận văn, báo cáo đề tài khoa học, bài tham luận hội thảo, văn
bản quy phạm pháp luật, bài viết trên internet…
Phương pháp phân tích tổng hợp thống kê, so sánh: trên cơ sở nguồn
thông tin đã thu thập được, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh để đưa ra các nhận định nhằm giải quyết các nội dung đã được
đề cập. Cụ thể: Chương 1 của luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp phân
tích và tổng hợp để hệ thống hóa và lý giải những vấn đề lý luận cơ bản trong
quản lý nhà nước về đất nông nghiệp. Chương 2 sử dụng kết hợp phương
pháp phân tích, thống kê, so sánh để đưa ra những đánh giá về thực trạng
quản lý nhà nước về đất nông nghiệp tại huyện Phù Mỹ. Chương 3 chủ yếu sử
dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đề xuất các quan điểm và giải pháp
6
tăng cường quản lý nhà nước về đất nông nghiệp tại huyện Phù Mỹ thời gian
tiếp theo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghía lý luận
Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản quản lý
nhà nước về đất nông nghiệp. Đồng thời kết quả nghiên cứu và những kiến
nghị của luận văn góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc tăng cường
quản lý nhà nước về đất nơng nghiệp ở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định trong
của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơng
tình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng” [41].
Theo Từ điển tiếng Việt (1988), nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất
cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn ni [74,
tr.740].
Đất nơng nghiệp đơi khi cịn gọi là đất canh tác hay đất trồng trọt là
những vùng đất, khu vực thích hợp cho sản xuất, canh tác nông nghiệp, bao
gồm cả trồng trọt và chăn nuôi. Đây là một trong những nguồn lực chính
trong nơng nghiệp.
Theo Luật Đất đai năm 1993, “Đất nông nghiệp là đất được xác định
chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nơng nghiệp” [41]. Cách hiểu
về đất nông nghiệp như trên chỉ theo nghĩa hẹp. Do đó, Luật Đất đai năm
2003, đã khơng sử dụng khái niệm đất nông nghiệp của Luật ĐĐ năm 1993
nữa mà thay bằng thuật ngữ “nhóm đất nơng nghiệp”, theo đó đất đai được
phân thành 3 nhóm là: nhóm đất nơng nghiệp; nhóm đất phi nơng nghiệp và
nhóm đất chưa sử dụng. Tiếp đó, Luật Đất đai năm 2013 ra đời đã kế thừa và
tiếp nhận cách thức phân loại nhóm đất nông nghiệp theo Luật Đất đai năm
2003, đồng thời đã quy định cụ thể các loại “đất nông nghiệp khác”.
Sự phân loại theo Luật Đất đai năm 2013 là phù hợp. Một mặt, đảm
8
bảo được thống nhất trong quản lý đất đai của Nhà nước ta, giúp cho các cơ
quan quản lí đất đai ở địa phương thuận lợi hơn trong việc kiểm tra, theo dõi,
giám sát quá trình khai thác, sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân. Mặt khác
qua quá trình từ thực tế sử dụng đất nơng nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân
từ xưa đến nay thì họ thường không sử dụng thuần túy một loại đất riêng rẽ
như: đất trồng lúa, trồng màu mà đó là sự đan xen của việc kết hợp khai thác
và sử dụng của nhiều loại đất khác nhau như: đất trồng lúa, trồng màu, trồng
năng của nó nên giá đất có xu hướng tăng; chất đất, bề mặt đất có thể thay đổi
dưới tác động của tự nhiên, nhân tạo…
Ngồi ra, đất nơng nghiệp cịn có những đặc điểm riêng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đất nông nghiệp phải đáp ứng một số điều kiện nhất định về
thổ nhưỡng, địa hình, hệ thống nước.
Mỗi loại đất nơng nghiệp địi hỏi các điều kiện khác nhau về thổ
nhưỡng, nền khí hậu, các cơng trình phụ trợ,… đất trồng trọt đòi hỏi các điều
kiện về chất đất, nền khí hậu, hệ thống tưới tiêu phù hợp với từng loại cây
trồng; đất chăn nuôi gia súc địi hỏi điều kiện quy mơ diện tích đồng cỏ, hồ
chứa nước… Đất mặt nước để nuôi trồng thủy sản hay đất làm muối địi hỏi
điều kiện về diện tích, về chất nước…Đặc điểm này của đất nông nghiệp cho
thấy, khơng phải diện tích đất nào cũng có thể cải tạo để trở thành đất sản
xuất nơng nghiệp. Chính vì thế, các quốc gia đều phải có chính sách bảo vệ
diện tích đất nơng nghiệp tối thiểu, nhất là diện tích đất sản xuất đảm bảo an
ninh lương thực.
Đất nơng nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích đất tự
nhiên, xã hội càng phát triển số người làm nơng nghiệp và đống góp của nơng
nghiệp vào GDP càng giảm. diện tích đất nơng nghiệp có thể giảm nhưng vẫn
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích tự nhiên. Do đất nông nghiệp chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên , trong khi đất là nguồn tài nguyên
hữu hạn, nên việc sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp tạo điều kiện chuyển một
phần đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích khác. Một trong những
10
phương thức sử dụng tiết kiệm đất nông nghiệp là thâm canh, tăng vụ, áp
dụng công nghệ sinh học sản xuất nơng nghiệp có giá trị cao trên một diện
tích đất xác định.
Đối với đất nông nghiệp, do sử dụng làm tư liệu sản xuất nên giá trị của
đất này phụ thuộc vào các yếu tố thổ nhưỡng độ phì nhiêu, tầng dày của đất
Trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, Nhà nước bằng quyền
lực của bộ máy nhà nước duy trì tác động có mục đích và có định hướng lên
đối tượng quản lý đất đai cả về mặt quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước
về đất đai và cả việc sử dụng đất đai của các chủ thể sử dụng đất. Tại Điều 5
của Luật đất đai năm 2003 khẳng định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước đại diện chủ sở hữu” [41a]. Đến Luật đất đai năm 2013 thì lại khẳng
định thêm một lần nữa: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện
chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho
người sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013 [41b].
Như vậy, quản lý nhà nước về đất đai ở Việt Nam có những nét khác
biệt so với nhiều nước trên thế giới ở điểm: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, có
nghĩa là quản lý nhà nước về đất đai phải thể hiện được vai trị làm chủ của
người dân thơng qua các hoạt động mang tính đại diện của Nhà nước đối với
các hoạt động như kiểm tra giám sát việc quản lý, sử dụng đất đai nhằm đem
lại hiệu quả lớn nhất cho người dân, cho cộng đồng, cho xã hội. Nhà nước
thơng qua các cơ quan là chính quyền địa phương các cấp, các bộ ngành ở
trung ương và ở địa phương thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về
đất đai tại địa bàn theo quy định. Do đó, có thể hiểu, quản lý nhà nước về đất
đai là một lĩnh vực của quản lý nhà nước, được hiểu là hoạt động của cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc sử dụng các phương pháp, các
cơng cụ quản lý thích hợp nhằm tác động đến hành vi, hoạt động của người sử
dụng đất đai nhằm đạt được mục đích sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả đất đai
trên phạm vi cả nước và trên từng địa phương.
Từ quan điểm chung về quản lý nhà nước về đất đai nêu trên, trong
12
phạm vi luận văn này, quản lý nhà nước về đất nông nghiệp được hiểu là tổng
hợp các hoạt động có sự phân cấp và phối hợp của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền đối với đất nơng nghiệp và q trình sử dụng, trao đổi đất nơng
nước phải sử dụng các phương pháp (các biện pháp và cách thức) và các cơng
cụ thích hợp để tác động vào đối tượng quản lý. Đặc biệt phải kết hợp hài hòa
các phương pháp và sử dụng linh hoạt các công cụ để đạt được hiệu quả quản
lý cao. Đó là các cơng cụ pháp luật, cơng cụ về thuế và lệ phí, cơng cụ hành
chính và các phương pháp như phương pháp giáo dục, thuyết phục, phương
pháp kinh tế, phương pháp cưỡng chế khi cần thiết. Ngồi ra, quản lý nhà
nước về đất nơng nghiệp cũng phải phù hợp với các giao dịch về quyền sử
dụng đất nông nghiệp trong những khoảng thời gian và không gian nhất định
để đảm bảo ổn định giá cả quyền sử dụng đất nông nghiệp và hạn chế các
giao dịch thiếu lành mạnh.
Thứ ba, quản lý nhà nước về đất nơng nghiệp là hoạt động gắn liền với
q trình thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và
mục tiêu kinh tế - xã hội của địa phương nói riêng, góp phần đảm bảo việc sử
dụng đất nơng nghiệp có hiệu quả, hợp lý, và công bằng. Đất nông nghiệp là
tài nguyên vô cùng quý giá, là tài sản, tư liệu sản xuất đặc biệt, vì vậy, đất
nơng nghiệp cần được sử dụng một cách khoa học, tiết kiệm, nhằm mang lại
lợi ích cao nhất cả về mặt vật chất và tinh thần cho mọi người, đặc biệt là
những người sản xuất nông nghiệp. Đất nơng nghiệp ở mỗi vùng, địa phương
khác nhau có đặc tính khác nhau nên việc quản lý, sử dụng đất nông nghiệp
muốn đạt hiệu quả phải phù hợp và phát huy thế mạnh của những đặc tính đó.
Những đặc tính đáng lưu ý là điều kiện tự nhiên, (khí hậu, thổ nhưỡng, chất
đất,…) tập quán canh tác (kinh nghiệm và tập tục địa phương) và lợi thế so
sánh trong sản xuất địa phương. Dựa trên ưu thế của địa phương, chính quyền
cần tạo điều kiện để các tổ chức sản xuất nơng nghiệp có thể phát huy ưu thế
trong sử dụng đất đai, nhất là cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên. Ngoài
ra, mỗi vùng, địa phương cũng có đặc điểm, trình độ phát triển kinh tế xã hội
14
khác nhau. Do đó chính quyền địa phương thường căn cứ vào trình độ phát
nói riêng. Việc đảm bảo quản lý nhà nước về đất nông nghiệp sẽ giúp cho
người sử dụng đất nông nghiệp nắm được quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước,
từ đó họ có được phương thức, biện pháp phù hợp để khai thác, sử dụng đất
nông nghiệp đem lại lợi nhuận cao nhất cho bản thân cũng như góp phần ổn
định và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đồng thời, thông qua công
tác đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hành chính các cấp,
nhà nước nắm chắc tồn bộ quỹ đất đai cả về số lượng và chất lượng làm căn
cứ cho việc đề ra các biện pháp KT - XH có hệ thống, có căn cứ khoa học
nhằm sử dụng đất đai hiệu quả và hợp lý.
Thứ hai, quản lý nhà nước về đất nơng nghiệp góp phần bảo đảm lợi
ích quốc gia, lợi ích địa phương trên phương diện kiểm sốt và sử dụng hợp lý
quỹ đất nơng nghiệp. Ở Việt Nam, sản xuất nơng nghiệp đóng vai trị to lớn
trong phát triển KT - XH của mỗi địa phương. Ở đa số các tỉnh, huyện, sản
xuất nông nghiệp vẫn giữ vị trí trọng yếu trong tạo việc làm, thu nhập cho dân
cư, thu ngân sách địa phương, trong thu ngoại tệ từ xuất khẩu, ổn định xã hội.
Vì vậy, việc quản lý nhà nước về đất nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả
sản xuất nông nghiệp là nhiệm vụ quan trọng của chính quyền địa phương.
Hơn nữa, đất nơng nghiệp thường chiếm diện tích chủ yếu và có vai trò lớn
trong sự phát triển KT - XH của địa phương. Nếu quản lý tốt đất nông nghiệp
sẽ khai thác được tiềm năng nguồn lực này cho phát triển KT - XH, đảm bảo
được an ninh lương thực, đảm bảo được đời sống vật chất của người dân, góp
phần thực hiện thắng lợi q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp
nơng thơn. Vì vậy, chính quyền địa phương phải quan tâm quản lý đối với đất
nông nghiệp, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi kinh tế địa phương đang
trong giai đoạn phát triển mạnh các ngành phi nơng nghiệp, cần chuyển diện
tích lớn đất nơng nghiệp sang đất phi nông nghiệp. Theo phân cấp của Luật
Đất đai, trách nhiệm thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, điều hành ngành nơng
nghiệp là của chính quyền địa phương. Ngồi đặc điểm chiếm diện tích lớn ở
16
hợp pháp của người sử dụng đất nơng nghiệp. Ngồi ra, thông qua pháp luật
đất đai và hệ thống các chính sách đất đai, chính quyền cấp tỉnh bảo vệ lợi ích
chính đáng của người sử dụng đất nơng nghiệp trong các vấn đề giao đất, thu
hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; tài chính đất; chuyển mục đích sử
dụng đất…
Thứ tư, quản lý nhà nước về đất nơng nghiệp cịn giúp đảm bảo cho các
quan hệ sử dụng đất nông nghiệp được vận hành theo đúng quy định của Nhà
nước. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, nhà nước trong quản lý nhà nước
về đất nông nghiệp có nhiệm vụ phát hiện kịp thời các sai sót, các vi phạm
trong sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, Nhà nước đảm bảo cho
các quan hệ sử dụng đất đai được vận hành theo đúng quy định của nhà nước.
1.4. Nội dung quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
Theo Luật Đất đai năm 2015, công tác quản lý nhà nước về đất đai có
15 nội dung liên quan đế quản lý và sử dụng đất. Tuy nhiên, trong khuôn khổ
của một luận văn, phạm vi nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thi
hành pháp luật quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở cấp huyện qua 4 nội
dung sau:
1.4.1. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nơng nghiệp
Mục đíchquy hoạch sử dụng đất nơng nghiệp là để cụ thể hóa chiến
lược sử dụng đất nông nghiệp và phát triển không gian theo quy hoạch quốc
gia đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; phân tích việc sử dụng đất nơng
nghiệp gắn với quy hoạch cây trồng, vật nuôi phù hợp nhằm đạt được năng
suất cao nhất, phù hợp với cơ cấu phát triển kinh tế nông nghiệp ở địa phương
trên cơ sở phát huy tối đa hiệu quả sử dụng quỹ đất trên địa bàn.
Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp là một nội dung quan trọng trong
quản lý nhà nước về đất nơng nghiệp của chính quyền địa phương. Đây là
cơng cụ giúp cho chính quyền địa phương định hướng sử dụng đất nông
nghiệp đến từng thửa đất, bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc giao đất, cho thuê
19
1.4.2. Thống kê, kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất
nông nghiệp
Thống kê, kiểm kê đất nơng nghiệp là một hoạt động cần thiết của
chính quyền địa phương để nắm được số lượng và diễn biến đất nơng nghiệp
trong q trình quản lý và sử dụng. hoạt động này nhằm đánh giá hiện trạng
sử dụng đất trong so sánh với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nơng nghiệp
đã được phê duyệt để có quyết định phù hợp cũng như để cung cấp dữ liệu hệ
thống thông tin đất đai.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cấp huyện và xã tổ chức thu thập dữ
liệu về diện tích đất nơng nghiệp theo mục đích sử dụng và đối tượng sử
dụng; dữ liệu về đối tượng sử dụng đất nông nghiệp, dữ liệu về việc chuyển
mục đích sử dụng đất nơng nghiệp. Sau khi tập hợp đầy đủ dữ liệu, cơ quan
quản lý đất đai của tỉnh xử lý các số liệu thu thập được để có các số liệu tổng
hợp và lập báo cáo thống kê, kiểm kê. Uỷ ban nhân dân cấp huyện và xã lưu
giữ các thông tin về đất nông nghiệp trên địa bàn. Cơng tác thống kê đất nơng
nghiệp mang tính định kỳ thường xuyên 1 năm một lần còn kiểm kê mang
tính giai đoạn là 5 năm một lần. Trong khi đó, cơng tác lập bản đồ hiện trạng
sử dụng đất nơng nghiệp mang tính thời điểm và thường được lập theo đơn vị
hành chính.
1.4.3. Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật đất đai; xử lý vi
phạm hành chính trong quản lý, sử dụng đất nơng nghiệp
Cơng tác kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng đất nông nghiệp là hoạt
động quan trọng giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý nhà nước về
đất nơng nghiệp nắm chắc tình hình diễn biến về sử dụng đất nông nghiệp,
phát hiện những vi phạm và giải quyết những vi phạm đó. Với hoạt động này
này, nhà nước đảm bảo cho các quan hệ sử dụng đất nông nghiệp được vận
hành theo đúng quy định của nhà nước. Với việc kiểm tra, giám sát, nhà nước