Tổ chức công tác kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ ở Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội - Pdf 87

luận văn tốt nghiệp
Lời nói đầu
Hiện nay nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế
thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, do đó các
quan hệ hàng hoá, tiền tệ ngày càng đợc mở rộng và phát triển. Trong môi trờng
đó sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất ra là để tiêu thụ trên thị trờng, phục
vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Chính vì vậy các doanh nghiệp không
những có nhiệm vụ sản xuất sản phẩm mà còn phải tổ chức tiêu thụ sản phẩm đó.
Với vai trò là tế bào của nền kinh tế, các doanh nghiệp trong tất cả các
ngành nghề thuộc mọi lĩnh vực muốn tồn tại trên thị trờng đều phải hoạt động có
hiệu quả, tự khẳng định mình để vơn lên. Nhất là trong điều kiện hiện nay khi
môi trờng cạnh tranh trở nên ngày càng gay gắt đối với sự tồn tại và phát triển
của mỗi doanh nghiệp. Mục đích cuối cùng của mỗi doanh nghiệp là tối đa hoá
lợi nhuận, thu đợc kết quả cao nhất mà điều này chỉ có thể thực hiện đợc khi
doanh nghiệp hoàn thành đợc quá trình sản xuất và kết thúc giai đoạn tiêu thụ
sản phẩm của mình.
Vấn đề cấp bách đợc đặt ra hiện nay là mỗi doanh nghiệp không những
cần nâng cao chất lợng sản phẩm tăng cờng số lợng sản phẩm sản xuất ra mà
phải tìm mọi biện pháp để hạ giá thành, mở rộng thị trờng, áp dụng rộng rãi các
phơng thức bán hàng, đẩy mạnh quá trình tiêu thụ sản phẩm. Có nh vậy doanh
nghiệp mới thu hồi vốn nhanh, hạn chế những rủi ro trong kinh doanh, có điều
kiện để tái sản xuất giản đơn và mở rộng.
Nhận thức đợc điều đó Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội đã không
ngừng đầu t theo chiều sâu, đa dạng hoá sản phẩm, cải tiến mẫu mã, mặt hàng
nâng cao chất lợng và hạ giá thành sản phẩm. Trong khâu tiêu thụ công ty đã áp
Vũ Thị Hạnh Kế toán 39 B
1
luận văn tốt nghiệp
dụng nhiều phơng thức bán hàng, mở rộng thị trờng để cạnh tranh với các doanh
nghiệp trong và ngoài nớc. Một trong những công cụ giúp công tác tổ chức,
quản lý hoạt động mang lại hiệu quả cao là hạch toán kế toán nói chung, hạch

nghiệp sản xuất.
1. Thành phẩm và yêu cầu quản lý thành phẩm.
Theo quy luật tái sản xuất quá trình hoạt động trong doanh nghiệp sản
xuất bao gồm: cung ứng, sản xuất, tiêu thụ, các giai đoạn này diễn ra một cách
thờng xuyên liên tục. Sản phẩm của giai đoạn sản xuất đó chính là thành phẩm và
nửa thành phẩm, trong đó thành phẩm chiếm đại bộ phận. Thành phẩm trong
doanh nghiệp là những sản phẩm đợc gia công chế biến xong ở bớc công nghệ
cuối cùng của quy trình công nghệ sản xuất, sản phẩm đợc kiểm tra kỹ thuật đảm
bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định, đợc nhập kho hoặc tiêu thụ ngay. Còn nửa
thành phẩm là những sản phẩm mới kết thúc một hoặc một số công đoạn trong
quy trình công nghệ sản xuất (trừ công đoạn cuối cùng) đợc nhập kho hoặc
chuyển giao để tiếp tục chế biến hoặc có thể bán ra ngoài. Khi đó nó cũng có ý
nghĩa nh thành phẩm. Vì vậy khái niệm giữa nửa thành phẩm và thành phẩm là
những khái niệm chỉ xét trong phạm vi một doanh nghiệp bởi thành phẩm của
doanh nghiệp này có thể là nửa thành phẩm của doanh nghiệp khác và ngợc lại.
Do đó việc xác định đúng đắn thành phẩm trong từng doanh nghiệp là vấn đề hết
sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Nó phản ánh toàn bộ hoạt động sản xuất
kinh doanh của từng doanh nghiệp về quy mô, trình độ tổ chức sản xuất và tổ
chức quản lý.
Vũ Thị Hạnh Kế toán 39 B
4
luận văn tốt nghiệp
Bất kỳ loại thành phẩm nào cũng biểu hiện trên hai mặt: số lợng và chất
lựơng. Mặt số lợng phản ánh quy mô, thành phần mà đơn vị tạo ra nó và đợc đo
bằng đơn vị kg, mét...Chất lợng của thành phẩm phản ánh giá trị sử dụng của
thành phẩm và đợc xác định bằng tỷ lệ tốt, xấu hoặc phẩm cấp của sản phẩm.
Đây là hai mặt độc lập của một thể thống nhất và có quan hệ biện chứng với
nhau. Đó là nguyên nhân giải thích tại sao khi nghiên cứu, quản lý và hạch toán
thành phẩm ta luôn phải đề cập tới hai mặt này.
Quản lý chặt chẽ thành phẩm là việc làm cần thiết bởi ý nghĩa quan trọng

quyết định nên mỗi doanh nghiệp phải tự chủ trong việc tổ chức tiêu thụ thành
phẩm bao gồm các khâu từ nghiên cứu thị trờng, xây dựng chiến lợc, kế hoạch
tiêu thụ, thực hiện nguyên tắc tự chịu trách nhiệm nhằm mục tiêu hoạt động sản
xuất kinh doanh có hiệu quả.
Tiêu thụ thành phẩm là giai đoạn tiếp theo của quá trình sản xuất và là giai
đoạn cuối cùng của vòng tuần hoàn vốn trong doanh nghiệp. Đây chính là quá
trình thực hiện quan hệ trao đổi thông qua các phơng tiện thanh toán để thực hiện
giá trị của sản phẩm, hàng hoá trong đó doanh nghiệp chuyển giao sản phẩm,
hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng, đợc khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận trả.
Quá trình tiêu thụ kết thúc khi cả hai điều kiện sau đợc bảo đảm:
- Doanh nghiệp chuyển giao sản phẩm cho ngời mua.
- Đơn vị mua trả tiền hoặc chấp nhận trả.
Điều đó có nghĩa là trong quá trình tiêu thụ phải có sự thoả thuận giữa hai
ngời mua và bán, phải có sự thay đổi quyền sở hữu về sản phẩm và cả hai bên
đều thực hiện quá trình chuyển đổi giữa hàng và tiền.
Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ
và kết thúc một vòng luân chuyển vốn. Có tiêu thụ đợc sản phẩm mới có vốn để
Vũ Thị Hạnh Kế toán 39 B
6
luận văn tốt nghiệp
tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh vòng quay của vốn nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn đồng thời góp phần thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
Trong nền kinh tế thị trờng, điều quan trọng và là sự quan tâm hàng đầu
của các doanh nghiệp là làm thế nào để sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của mình
tiêu thụ trên thị trờng, đợc thị trờng chấp nhận về các phơng diện chất lợng, giá
cả, mẫu mã... Đó là vấn đề sống còn quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
các doanh nghiệp. Sau quá trình tiêu thụ, doanh nghiệp không những bù đắp đợc
chi phí liên quan đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mà còn thực hiện đợc giá trị
thặng d. Đây là tiền đề quan trọng mở rộng quy mô sản xuất, tăng thu nhập cho
doanh nghiệp, nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên và tăng ngân sách

với các sản phẩm trong nớc mà cả với những sản phẩm, hàng hoá của nớc ngoài
nhập về. Thị trờng Việt Nam đã đợc các hãng sản xuất trên thế giới tìm đến và
xâm nhập một cách mạnh mẽ. Do vậy, các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển
trong nền kinh tế mở này thì đều phải tìm hiểu khách hàng và nhu cầu của họ, có
biện pháp kích thích họ mua hàng đồng thời phải tìm kiếm những thị trờng có
tiềm năng lớn để tiêu thụ thành phẩm của mình, có khả năng dự báo tình hình thị
trờng trong tơng lai. Có nh vậy các doanh nghiệp mới có thể chiếm lĩnh đợc thị
trờng cũ và xâm nhập, mở rộng thị trờng mới ở trong nớc và nớc ngoài.
3. Xác định kết quả tiêu thụ.
Các doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh đều nhằm đạt đợc mục
tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Quá trình tiêu thụ là một quá trình kinh doanh chủ
yếu của doanh nghiệp, nó trực tiếp mang lại thu nhập cho doanh nghiệp và thoả
mẵn nhu cầu của ngời tiêu dùng. Thu nhập từ tiêu thụ thành phẩm trang trải các
chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để thực hiện tái sản xuất giản đơn
và tái sản xuất mở rộng. Một doanh nghiệp có các kênh tiêu thụ phong phú với
các chính sách khuyến khích việc tiêu thụ thành phẩm, hàng hoá tốt sẽ giúp
doanh nghiệp tiêu thụ đợc nhiều, thu hồi vốn nhanh, tăng nhanh tốc độ vòng
Vũ Thị Hạnh Kế toán 39 B
8
luận văn tốt nghiệp
quay của vốn, tiết kiệm vốn lu động, hiện đại hoá sản xuất cả về tốc độ lẫn trình
độ kỹ thuật... từ đó giúp doanh nghiệp dễ dàng thực hiện đợc các mục tiêu tối
thiểu hoá chi phí và tối đa hoá lợi nhuận.
Để biết đợc trong kỳ kinh doanh của mình có đạt đợc các mục tiêu đó
không doanh nghiệp cần phải có những thống kê về các khoản doanh thu, các
khoản chi phí và tính toán kết quả của các hoạt động kinh doanh trong kỳ. Kết
quả của quá trình tiêu thụ đánh giá một cách chính xác hiệu quả của toàn bộ quá
trình sản xuất kinh doanh, có vai trò quyết định đến sự tồn tại, phát triển hay suy
thoái của đơn vị. Dựa vào kết quả tiêu thụ doanh nghiệp có thể phân tích đợc mặt
hàng nào, sản phẩm nào có kết quả cao và xu hớng nh thế nào để từ đó có thể đầu

doanh của doanh nghiệp từ đó thực hiện chức năng quản lý và kiểm soát vĩ mô
nền kinh tế, đồng thời nhà nớc có thể kiểm soát việc chấp hành luật pháp về kinh
tế tài chính nói chung và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với ngân sách nhà nớc,
nghĩa vụ tài chính với các bên có quan hệ kinh tế nói riêng.
Trong nền kinh tế mở, các doanh nghiệp ngoài mối quan hệ với nhà nớc
còn có thể liên doanh liên kết với đơn vị bạn hoặc các công ty nớc ngoài để thu
hút vốn đầu t, cải tiến quy trình công nghệ... Khi đó kế toán không chỉ là công cụ
điều hành và quản lý sản xuất kinh doanh mà còn là phơng tiện để kiểm tra, giám
sát những ngời chủ sở hữu doanh nghiệp, những ngời có quan hệ kinh tế và lợi
ích với doanh nghiệp nh các nhà đầu t, những ngời cho vay, các bạn hàng... Với
những số liệu của kế toán thành phẩm và tiêu thụ, họ có thể biết đợc khả năng
sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng của doanh nghiệp để từ đó ra các quyết định
đầu t, cho vay hoặc có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp.
Vì sản xuất là cơ sở của tiêu thụ nên có thể nói rằng kế toán thành phẩm
và tiêu thụ có mối quan hệ mật thiết với nhau và bổ sung cho nhau. Kế toán
Vũ Thị Hạnh Kế toán 39 B
10
luận văn tốt nghiệp
thành phẩm có chính xác, đầy đủ và kịp thời, phản ánh rõ tình hình nhập, xuất thì
kế toán tiêu thụ mới phản ánh và giám đốc kịp thời kế hoạch, thực hiện tiêu thụ
về số lợng, doanh thu tiêu thụ, tình hình thanh toán tiền hàng, thanh toán với
ngân sách nhà nớc và xác định đợc chính xác kết quả tiêu thụ. Ngợc lại tổ chức
tốt kế toán tiêu thụ sẽ tạo điều kiện cho kế toán thành phẩm thực hiện tốt nhiệm
vụ của mình. Do vậy hoàn thiện quá trình hạch toán nghiệp vụ thành phẩm, tiêu
thụ thành phẩm và xác định kết quả tiệu thụ là một vấn đề rất cần thiết và có ý
nghĩa quan trọng. Để làm tốt nghiệp vụ này, kế toán thành phẩm và tiêu thụ
thành phẩm cần thực hịên các yêu cầu sau:
-Tổ chức theo dõi, phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời, giám sát chặt chẽ
về tình hình hiện có và sự biến động của từng loại thành phẩm trên cả hai mặt số
lợng và giá trị.

2. Tính giá thành phẩm:
Tính giá thành phẩm là biểu hiện bằng tiền của giá trị thành phẩm theo
nguyên tắc nhất định.Trong kế toán có thể sử dụng một trong hai cách đánh giá
thành phẩm:
2.1. Giá thực tế
Thành phẩm nhập kho:
Đối với thành phẩm do các bộ phận sản xuất kinh doanh chính và phụ
hoàn thành nhập kho, giá thành thực tế chính là giá thành công xởng thực tế (bao
Vũ Thị Hạnh Kế toán 39 B
12
luận văn tốt nghiệp
gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản
xuất chung).
Trờng hợp thành phẩm thuê ngoài gia công, giá thành thực tế bao gồm
toàn bộ các chi phí liên quan đến việc gia công (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
chi phí thuê gia công và các chi phí khác: vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt...)
Thành phẩm xuất kho:
Đối với thành phẩm xuất kho tuỳ từng điều kiện cụ thể doanh nghiệp có
thể sử dụng một trong các phơng pháp sau:
2.1.1. Giá đơn vị bình quân
Theo phơng pháp này giá thực tế thành phẩm xuất kho đợc tính theo giá trị
bình quân (bình quân cả kỳ dự trữ, bình quân cuối kỳ trớc hoặc bình quân sau
mỗi lần nhập).
Trị giá thực tế thành Số lợng thành phẩm Giá đơn vị
phẩm xuất kho xuất kho bình quân
Trong đó:
Giá đơn vị bình Trị giá thực tế TP tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
quân cả kỳ dự trữ Số lợng thực tế TP tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Phơng pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ tuy đơn giản, dễ làm nhng
độ chính xác không cao. Hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng gây

2.1.4. Giá thực tế đích danh:
Vũ Thị Hạnh Kế toán 39 B
14
Giá đơn vị
bình quân
sau mỗi
lần nhập
=
Trị giá thực tế
TP nhập
Số lượng
nhập
Trị giá thực tế TP
tồn trước khi nhập
Số lượng TP tồn trư
ớc khi nhập
+
+
luận văn tốt nghiệp
Theo phơng pháp này thành phẩm nhập kho theo giá nào thì xuất kho theo
giá đó và không quan tâm đến thời gian nhập xuất. Phơng pháp này thờng sử
dụng đối với những thành phẩm có giá trị cao và có tính tách biệt.
2.1.5.Xác định trị giá thành phẩm tồn cuối kỳ để tính trị giá thành phẩm xuất
trong kỳ.
ở những doanh nghiệp có thành phẩm cồng kềnh, điều kiện cân, đong, đo,
đếm, nhập, xuất không chính xác, hạch toán thành phẩm theo phơng pháp kiểm
kê định kỳ thì cuối mỗi kỳ hạch toán tiến hành kiểm kê để xác định trị giá thực tế
thành phẩm tồn kho. Căn cứ vào trị giá thành phẩm tồn kho đầu kỳ, cuối kỳ và trị
giá thành phẩm nhập trong kỳ để xác định trị giá thành phẩm xuất trong kỳ:
Phơng pháp này có u điểm là tính toán nhanh chóng, đơn giản nhng lại

luận văn tốt nghiệp
điều chỉnh từ giá hạch toán về giá thực tế thông qua hệ số giá thành phẩm. Hệ số
này đợc tính cho từng loại hoặc từng nhóm TP.
Giá hạch toán Số lợng thành phẩm Đơn giá
thành phẩm xuất kho xuất kho hạch toán
Khi dùng phơng pháp giá hạch toán việc hạch toán chi tiết thành phẩm
trên các chứng từ nhập, xuất, các sổ (thẻ) kế toán chi tiết thành phẩm đợc ghi
theo giá hạch toán, còn việc hạch toán tổng hợp thành phẩm nhất thiết phải ghi
theo giá thực tế.
3. Chứng từ kế toán sử dụng:
Việc nhập và xuất kho thành phẩm diễn ra thờng xuyên liên tục do vậy mà
thành phẩm trong doanh nghiệp luôn luôn biến động. Để quản lý chặt chẽ thành
phẩm, các nghiệp vụ nhập, xuất kho thành phẩm phải đợc lập chứng từ kế toán
một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác theo quy định cụ thể trong chế độ ghi
chép ban đầu. Bởi vì những chứng từ kế toán này là cơ sở pháp lý để tiến hành
hạch toán nhập - xuất kho thành phẩm, là căn cứ để kiểm tra tính chính xác trong
Vũ Thị Hạnh Kế toán 39 B
16
Hệ số giá
=
Trị giá thực
tế TP tồn đầu
kỳ
Trị giá thực
tế TP nhập trong
kỳ
Trị giá hạch
toán TP nhập
trong kỳ
Trị giá hạch

4. Hạch toán chi tiết thành phẩm
Hạch toán chi tiết thành phẩm là việc ghi chép kịp thời, chính xác tình
hình biến động nhập, xuất, tồn cả về hiện vật và giá trị cho từng loại thành phẩm.
Hạch toán chi tiết thành phẩm đợc thực hiện ở cả kho và ở phòng kế toán,
thờng là công việc ghi chép tốn nhiều thời gian và công sức. Trong thực tế hiện
nay có ba phơng pháp hạch toán chi tiết thành phẩm sau:
4.1.Phơng pháp thẻ song song:
+ Nguyên tắc:
-ở kho: Thủ kho ghi chép sự biến động nhập, xuất, tồn của thành phẩm về
hiện vật trên thẻ kho.
-ở phòng kế toán: Kế toán thành phẩm ghi chép sự biến động nhập, xuất,
tồn của thành phẩm cả về hiện vật và giá trị trên sổ chi tiết thành phẩm.
Vũ Thị Hạnh Kế toán 39 B
17
luận văn tốt nghiệp
+ Trình tự ghi sổ(Sơ đồ số 1)
-ở kho: Căn cứ vào chứng từ phiếu nhập hoặc xuất kho thành phẩm thủ
kho thực hiện nhập và xuất thành phẩm sau đó vào thẻ kho ở cột nhập và xuất t-
ơng ứng. Mỗi chứng từ ghi một dòng vào thẻ kho, thẻ kho đợc mở cho từng loại
thành phẩm. Cuối tháng thủ kho phải tiến hành tổng cộng số nhập, xuất, tính ra
số tồn kho về mặt lợng theo từng loại, thờng xuyên kiểm tra đối chiếu giữa số tồn
thực tế với số tồn trên thẻ kho.
Hàng ngày hoặc định kỳ sau khi ghi song thẻ kho, thủ kho chuyển chứng
từ phiếu nhập, xuất cho kế toán thành phẩm.
-Tại phòng kế toán: Định kỳ sau khi nhận đợc chứng từ do thủ kho
chuyển đến kế toán thành phẩm ghi đơn giá tính bằng tiền cho từng phiếu nhập
và xuất.
Kế toán thành phẩm mở sổ chi tiết thành phẩm cho từng loại thành phẩm
tơng ứng với thẻ kho đợc mở ở kho, sổ này có nội dung tơng tự nh thẻ kho chỉ
khác là theo dõi cả về mặt giá trị, vào sổ chi tiết thành phẩm cho từng loại thành

(thẻ)
chi
tiết
thành
phẩm
Bảng
tổng
hợp
NXT
kho
thành
phẩm
Kế
toán
tổng
hợp
Phiếu nhập kho
Phiếu xuất
kho
luận văn tốt nghiệp
- ở kho: Thủ kho ghi chép sự biến động Nhập- Xuất- Tồn của thành phẩm
về hiện vật trên thẻ kho (giống phơng pháp thẻ song song).
- ở phòng kế toán: Kế toán thành phẩm ghi chép sự biến động nhập -xuất
- tồn cả về hiện vật và giá trị trên sổ đối chiếu luân chuyển. Sổ này sử dụng cho
cả năm, mỗi loại thành phẩm ghi một dòng.
+ Trình tự ghi sổ(Sơ đồ số 2).
- ở kho: Giống nh phơng pháp thẻ song song.
- ở phòng kế toán: Hằng ngày hoặc định kỳ sau khi nhận đợc chứng từ do
thủ kho chuyển đến kế toán thành phẩm ghi đơn giá tính thành tiền, phân loại
chứng từ là phiếu nhập thành phẩm và phiếu xuất thành phẩm. Dựa trên cơ sở

d" ở cột số lợng.
Vũ Thị Hạnh Kế toán 39 B
21
Phiếu nhập
kho
Bảng kê
nhập
Thẻ kho
Phiếu xuất
kho
Sổ đối chiếu
luân chuyển
Kế toán
tổng hợp
Bảng kê
xuất
luận văn tốt nghiệp
- ở phòng kế toán: Kế toán thành phẩm chỉ theo dõi sự biến động Nhập -
Xuất - Tồn về giá trị trên bảng kê luỹ kế Nhập - Xuất - Tồn
+ Trình tự ghi sổ(Sơ đồ số 3).
- ở kho: Thủ kho ghi chép sự biến động Nhập -Xuất -Tồn của từng loại
thành phẩm về hiện vật trên thẻ kho giống nh phơng pháp thẻ song song nhng
cuối tháng thủ kho lập sổ số d, trên cơ sở số liệu số tồn thành phẩm trên thẻ kho
sau đó chuyển sổ này cho kế toán thành phẩm.
-Tại phòng kế toán: Hằng ngày hoặc định kỳ sau khi nhận đợc chứng từ
do thủ kho chuyển đến kế toán thành phẩm ghi đơn giá tính thành tiền.
Định kỳ 5 hoặc 10 ngày kế toán thành phẩm tổng hợp giá trị thành phẩm
nhập - xuất -tồn vào bảng kê luỹ kế Nhập - Xuất -Tồn cho kỳ tơng ứng trên cơ sở
các phiếu giao nhận chứng từ nhập -xuất.
Cuối tháng kế toán thành phẩm tính ra số tồn về giá trị cho từng loại

+ Ưu điểm:
-Tránh đợc việc ghi trùng lặp giữa kho và phòng kế toán.
-Cung cấp thông tin tổng giá trị nhập - xuất - tồn theo định kỳ.
+ Nhợc điểm:
- Nếu có nhầm lẫm sai sót thì khó phát hiện, khó kiểm tra do đó chỉ thích
hợp ở doanh nghiệp nhân viên kế toán và thủ kho có trình độ và tay nghề thành
thạo.
5. Hạch toán tổng hợp thành phẩm:
5.1. Hạch toán tổng hợp thành phẩm theo phơng pháp kê khai thờng xuyên:
Phơng pháp kê khai thờng xuyên là phơng pháp theo dõi tình hình hiện
có,biến động tăng, giảm thành phẩm một cách thờng xuyên liên tục. Giá trị thành
phẩm tồn kho có thể xác định ở bất cứ thời điểm nào.
Tài khoản sử dụng:
- TK 155- Thành phẩm: TK này phản ánh sự biến động nhập - xuất -tồn kho
thành phẩm theo giá thực tế.
Vũ Thị Hạnh Kế toán 39 B
23
luận văn tốt nghiệp
Bên nợ: Giá thực tế thành phẩm nhập kho.
Bên có: Giá thực tế thành phẩm xuất kho.
D nợ: Giá thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
Tuỳ theo yêu cầu quản lý TK 155 có thể đợc mở chi tiết theo từng kho,
từng loại thành phẩm. TK này chỉ sử dụng ở những doanh nghiệp thành phẩm có
thể nhập kho đợc.
- Các tài khoản khác có liên quan nh TK 154, TK 157...
Trình tự hạch toán nhập- xuất thành phẩm (Sơ đồ số 4).
5.2. Hạch toán tổng hợp thành phẩm theo phơng pháp kiểm kê định kỳ.
Phơng pháp kiểm kê định kỳ là phơng pháp không theo dõi một cách thờng
xuyên liên tục tình hình biến động của các loại thành phẩm mà chỉ phản ánh trị giá
tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ, xác định lợng

GTGT đầu vào. Tơng tự chỉ tiêu doanh thu bán hàng, chiết khấu, giảm giá, doanh
thu hàng bán bị trả lại là giá bán hoặc thu nhập cha có thuế GTGT(kể cả các
khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán- nếu có). Ngợc lại đối với các cơ sở
tính thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp hoặc đối với các đối tợng không chịu
thuế GTGT, trong chi phí bao gồm cả thuế GTGT đầu vào và trong doanh thu
bao gồm cả thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt đầu ra (kể cả các
khoản phụ thu, phí thu thêm- nếu có). Vì thế các chỉ tiêu về doanh thu bán hàng,
chiết khấu, giảm giá, doanh thu hàng bán bị trả lại... đều bao gồm cả thuế GTGT
đầu ra.
Vũ Thị Hạnh Kế toán 39 B
25

Trích đoạn Các khái niệm liên quan đến tiêu thụ thành phẩm: Các phơng thức tiêu thụ Kế toán xác định kết quả tiêu thụ Kế toán thành phẩm Kế toán tiêu thụ thành phẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status