Đánh giá rủi ro kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Deloitte Việt Nam - Pdf 88

Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
2.2.3.2 Đánh giá rủi ro kiểm soát trên số dư khoản mục và loại hình nghiệp vụ ....................................90
2.2.3.3 Dự kiến rủi ro phát hiện trên số dư khoản mục và loại hình nghiệp vụ ......................................95
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
2.2.3.2 Đánh giá rủi ro kiểm soát trên số dư khoản mục và loại hình nghiệp vụ ....................................90
2.2.3.3 Dự kiến rủi ro phát hiện trên số dư khoản mục và loại hình nghiệp vụ ......................................95
LỜI NÓI ĐẦU
Dịch vụ kiểm toán đã phát triển từ rất lâu trên thế giới, song tại Việt
Nam mới bắt đầu hình thành từ năm 1991. Ra đời muộn nhưng đã nhanh
chóng có một chỗ đứng quan trọng, góp phần đắc lực trong việc thúc đẩy phát
triển nền kinh tế đất nước về mọi mặt. Công ty TNHH Deloitte Việt Nam là
một trong những Công ty có lịch sử lâu đời nhất tại Việt Nam. Hơn 15 năm
hình thành và phát triển, Deloitte Việt Nam luôn thể hiện là một trong những
Công ty hàng đầu trong các dịch vụ kiểm toán, tư vấn và giải pháp doanh
nghiệp, tư vấn thuế, đào tạo và quản lý nguồn nhân lực.
Kiểm toán Báo cáo tài chính luôn là dịch vụ truyền thống và chiếm tỷ
trọng lớn trong doanh thu của các Công ty kiểm toán hiện nay. Trước xu thế
hội nhập như ngày nay các Công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam luôn phải
đặt ra yêu cầu không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ của mình để có thể
đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và cạnh tranh với các Công ty kiểm
toán nước ngoài.
Trong đó đánh rủi ro kiểm toán là một bước vô cùng quan trọng để
giúp cho các Công ty kiểm toán xây dựng một kế hoạch kiểm toán hợp lý góp
phần nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả của cuộc kiểm toán. Tuy nhiên,
thực tế hiện nay việc đánh giá rủi ro ở các Công ty vẫn còn nhiều điểm chưa
hoàn thiện do đây là một công việc khó và đòi hỏi trình độ phán xét của kiểm
toán viên. Được đánh giá là một trong những Công ty có quy trình đánh giá
rủi ro kiểm toán khá hoàn chỉnh và tiêu chuẩn, trong thời gian thực tập tại

chúng ta mong đợi, hoặc mang lại kết quả không tốt đẹp. Rủi ro ứng với sai
lệch giữa dự kiến và thực tế. Trong lịch sử đã có nhiều quan niệm tranh luận
về rủi ro. Theo quan niệm về rủi ro của Pháp, người ta đơn thuần coi rủi ro chỉ
liên quan đến các thiệt hại - rủi ro không đối xứng. Quan điểm của Mỹ thì cho
rằng rủi ro liên quan đến cả thiệt hại và may mắn - rủi ro đối xứng. Còn sau
đây là một số quan điểm được chọn lọc từ cuốn sách “Bảo hiểm quốc tế,
nguyên tắc và thực hành” do Học viện Hoàng gia Anh xuất bản năm 1993:
- Rủi ro là khả năng xảy ra một số sự cố không may;
- Rủi ro là sự kết hợp các nguy cơ;
- Rủi ro là sự không thể đoán trước một tình huống, một khuynh hướng
dẫn đến kết quả thực tế khác với kết quả dự toán;
- Rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất;
- Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất.
Những định nghĩa trên đây là các quan điểm khác nhau, tuy nhiên
nghiên cứu các quan điểm này cho thấy giữa chúng có mối quan hệ logic với
nhau. Các định nghĩa đều đề cập đến một sự không chắc chắn mà chúng ta coi
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
4
Luận văn tốt nghiệp
là bất ngờ trong tương lai. Bên cạnh đó, các định nghĩa này cũng ám chỉ
những cấp độ hay mức độ rủi ro khác nhau. Ngoài ra các định nghĩa đều nói
đến hậu quả do một hay nhiều nguyên nhân gây ra. Điều này dường như có mối
quan hệ chặt chẽ với định nghĩa mà chúng ta đã sử dụng trước đó, theo định
nghĩa này rủi ro là không chắc chắn về hậu quả trong một tình huống cụ thể.
Tại Việt Nam, từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Sài Gòn xuất bản
năm 2005 giải thích: “Rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến”.
Và theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm 2003 thì: “Rủi ro là hậu
quả gây thiệt hại ít nhiều có thể dự kiến được của một hành vi mà việc thực
hiện không chỉ phụ thuộc vào ý chí của các bên đương sự. Người thực hiện
hành vi phải chịu trách nhiệm về thiệt hại gây nên cho người kia”. Từ điển

nhiệm của KTV bao gồm ba nhân tố:
- Những vấn đề liên quan đến khách hàng, ví dụ: tình hình tài
chính, khả năng thu lợi nhuận và danh tiếng của khách hàng
trong tương lai, đặc điểm và tính chính trực của ban quản lý và
của người chủ doanh nghiệp khách hàng trong tương lai.
- Những vấn đề liên quan đến kinh doanh, ví dụ: rủi ro chi phí
(liệu có bất kỳ lí do nào cho thất bại trong kiểm toán hay
không) như việc thực hiện chi trả các phí và liệu việc hợp tác
của ta với một khách hàng nào đó trong tương lai có gây tác hại
cho hình ảnh của công ty chúng ta xét về mặt chuyên môn hay
không.
- Những vấn đề liên quan đến kiểm toán, ví dụ: những khó khăn
dự kiến trong việc thu lượm bằng chứng kiểm toán
Qua đó ta thấy sự khác nhau cơ bản giữa rủi ro kiểm toán và rủi ro kinh
doanh. Sự kiểm soát chặt chẽ rủi ro kiểm toán là yếu tố chủ yếu của quá trình
kiểm soát rủi ro kinh doanh của công ty kiểm toán. Do đó, trong các loại rủi
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
6
Luận văn tốt nghiệp
ro trên thì rủi ro kiểm toán là rủi ro được đề cập đến nhiều nhất và quan trọng
nhất.
Theo Nguyên tắc Kiểm toán Quốc tế Số 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm
toán”, trong Mục 9 Liên đoàn Kiểm toán Quốc tế soạn thảo định nghĩa rủi ro
kiểm toán như sau: “Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà KTV có thể mắc
phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và
đó là các sai sót nghiêm trọng. Ví dụ KTV có thể đưa ra ý kiến chấp nhận
toàn bộ về một BCTC mà không biết rằng các báo cáo này có những sai phạm
nghiêm trọng”.
Ở Việt Nam, kiểm toán ra đời tương đối muộn. Tuy nhiên, những
chuẩn mực về kiểm toán được ban hành kịp thời phục vụ cho quá trình phát

toán vẫn có khả năng xảy ra. Chi phí kiểm toán (số lượng bằng chứng kiểm
toán) và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với nhau. Số lượng bằng
chứng kiểm toán càng lớn thì rủi ro kiểm toán càng thấp và tiến dần về mức
rủi ro kiểm toán mong muốn.
1.1.2 Các loại rủi ro kiểm toán
Thứ nhất, Rủi ro tiềm tàng
Rủi ro tiềm tàng là khả năng tồn tại những sai phạm trong bản thân của
các đối tượng kiểm toán mà chưa tính đến bất kì một sự tác động nào của hoạt
động kiểm toán kể cả hệ thống kiểm soát nội bộ.
Nguyên tắc Kiểm toán Quốc tế Số 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm toán”
cho rằng: “Rủi ro tiềm tàng là những yếu điểm của số dư tài khoản hoặc của
một loại nghiệp vụ, đối với những sai sót này có thể đơn lẻ hoặc có thể kết
hợp với các sai sót ở những số dư, các nghiệp vụ khác (ở đây giả định là
không có các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan). Rủi ro tiềm tàng nằm
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
8
Luận văn tốt nghiệp
trong chức năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong môi trường
kinh doanh cũng như trong bản chất của số dư tài khoản hoặc các nghiệp vụ”.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400) “Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ” cho rằng: “Rủi ro tiềm tàng là loại rủi ro tiềm ẩn, vốn có do
khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng
những sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không
có hệ thống kiểm soát nội bộ.”
Như vậy, về bản chất, rủi ro tiềm tàng là mức độ mà KTV ước tính là
có một sai số cao hơn mức có thể chấp nhận trong một bộ phận trước khi xét
đến tính hiệu quả của các quá trình kiểm soát nội bộ về kế toán. Mức độ rủi ro
tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm tình hình kinh doanh của khách thể kiểm
toán, loại hình kinh doanh và năng lực nhân viên của khách thể kiểm toán.
Mức rủi ro này còn tuỳ thuộc vào đặc điểm từng loại tài sản, nghiệp vụ. KTV

ngăn chặn hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời”
Như vậy rủi ro kiểm soát là mức độ mà KTV ước tính là có sai số cao
hơn mức có thể chấp nhận trong một bộ phận mà cơ cấu kiểm soát nội bộ của
khách hàng không ngăn chặn được. Rủi ro kiểm soát là loại rủi ro có liên quan
đến sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ. Cơ cấu kiểm soát nội bộ của
khách hàng càng hiệu quả thì rủi ro kiểm soát càng thấp và ngược lại.
Rủi ro kiểm soát có mối quan hệ tỉ lệ thuận với số lượng bằng chứng
kiểm toán cần thu thập và quan hệ tỉ lệ nghịch với rủi ro phát hiện. Rủi ro
kiểm toán luôn luôn xuất hiện và khó tránh khỏi do những hạn chế cố hữu của
bất kì hệ thống kiểm soát nội bộ nào.
Thứ 3, Rủi ro phát hiện
Theo cách đơn giản, rủi ro phát hiện là loại rủi ro liên quan đến khả
năng các thủ tục kiểm toán do kiểm toán viên và các công ty kiểm toán đã tiến
hành nhưng không phát hiện được các sai phạm trọng yếu.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
10
Luận văn tốt nghiệp
Văn bản chỉ đạo Kiểm toán Quốc tế Số 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm
toán” cho rằng: “Rủi ro phát hiện là những rủi ro mà kiểm toán viên không
phát hiện ra các sai sót hiện có trong các số dư tài khoản, các loại nghiệp vụ.
Các sai sót này là có thể là các sai sót nghiêm trọng xảy ra đơn lẻ hoặc có thể
kết hợp với các sai sót trong số dư các nghiệp vụ khác. Mức rủi ro phát hiện
có quan hệ trực tiếp với những phương pháp của kiểm toán viên.”
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 (VSA – 400) “Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ” cho rằng: “Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng
yếu trong từng nghiệp vụ và từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính
riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, KTV và công ty kiểm
toán không phát hiện được.”
Những yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro phát hiện như sau:
Thứ nhất: Các bước kiểm toán không thích hợp. Điều này xảy ra với

kiểm toán viên không tạo ra và cũng không thể kiểm soát được chúng. Kiểm
toán viên chỉ có thể thông qua thu thập bằng chứng kiểm toán tại đơn vị
khách hàng và bằng kinh nghiệm của mình để đánh giá mức độ của chúng.
Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có mức độ lớn hay nhỏ phụ thuộc rất lớn
vào ngành nghề kinh doanh cũng như môi trường pháp lí mà khách hàng đang
hoạt động. Không những thế, hai loại rủi ro này còn phụ thuộc vào bản chất
của các số dư tài khoản và nghiệp vụ kinh tế đặc thù tương ứng với ngành
nghề kinh doanh của khách hàng. Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có mối
quan hệ tỷ lệ nghịch nên trong các cuộc kiểm toán, kiểm toán viên thường kết
hợp cùng một lúc đánh giá mức độ của hai loại rủi ro này. Ngược lại, KTV có
thể kiểm soát được rủi ro phát hiện thông qua việc điều chỉnh nội dung, thời
gian và phạm vi của các thử nghiệm. Do vậy, cần phải thiết kế các thủ tục
kiểm toán hợp lý để giảm thấp rủi ro kiểm toán như mức mong muốn với chi
phí hợp lý.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
12
Luận văn tốt nghiệp
Mối quan hệ giữa rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện
với rủi ro kiểm toán được thể hiện qua mô hình rủi ro kiểm toán như sau:
DAR = IR x CR x DR (1)
Trong đó:
DAR: Rủi ro kiểm toán
IR: Rủi ro tiềm tàng
CR: Rủi ro kiểm soát
DR: Rủi ro phát hiện
Các loại rủi ro kiểm toán có thể được đánh giá cụ thể bằng các con số
theo tỷ lệ phần trăm hoặc được đánh giá một cách khái quát theo yếu tố định
tính như: thấp, trung bình, cao.
Hai mô hình trên có cùng bản chất và giá trị song mô hình (2) được ưa
chuộng hơn để xác định rủi ro phát hiện và số lượng bằng chứng thích hợp.

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 (VSA - 300) “Lập kế hoạch
kiểm toán” cho thấy vai trò của việc đánh giá rủi ro kiểm toán trong quá trình
lập kế hoạch: “Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm
đảm bảo phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn; và đảm bảo cuộc
kiểm toán được hoàn thành đúng thời hạn” và “khi xây dựng chương trình
kiểm toán, KTV phải xem xét các đánh giá về rủi ro tiềm tang, rủi ro kiểm
soát, cũng như mức độ đảm bảo phải đạt được thông qua thử nghiệm cơ bản”.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 530 (VSA – 530) “Lấy mẫu kiểm
toán và các thủ tục lựa chọn khác” quy định về cỡ mẫu như sau: “Kiểm toán
phải đảm bảo rủi ro kiểm toán do áp dụng phương pháp lấy mẫu giảm xuống
mức có thể chấp nhận được khi xác định cỡ mẫu. Cỡ mẫu chịu ảnh hưởng bởi
mức rủi ro kiểm toán. Rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận được càng thấp, thì
cỡ mẫu cần thiết sẽ càng lớn”. Như vậy rủi ro kiểm toán có ảnh hưởng một
cách trực tiếp đến cỡ mẫu đồng thời ảnh hưởng tới quá trình thu thập bằng
chứng, cũng như ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả cuộc kiểm toán. Trong quá
trình thu thập bằng chứng kiểm toán, KTV phải sử dụng khả năng xét đoán
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
14
Luận văn tốt nghiệp
nghề nghiệp để đánh giá rủi ro tiềm tàng xuống thấp đến mức có thể chấp
nhận được.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA – 240) “Gian lận và sai
sót” cũng quy định: “Khi lập kế hoạch và khi thực hiện kiểm toán, KTV và
công ty kiểm toán phải đánh giá rủi ro về những gian lận và sai sót có thể có,
làm ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC và phải trao đổi với Giám đốc (hoặc
người đứng đầu đơn vị) về mọi gian lận hoặc sai sót quan trọng phát hiện
được”.
Như vậy có thể nói rủi ro kiểm toán được đề cập đến trong suốt cuộc
kiểm toán, cho thấy tầm quan trọng và mức ảnh hưởng của nó tới công việc
kiểm toán BCTC. Chính vì vậy mà công việc đánh giá rủi ro kiểm toán là rất

lớn. Quy mô cụ thể của các trắc nghiệm cũng như trình tự và cách thức kết
hợp giữa chúng phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm và kĩ năng phán đoán
của KTV với mục đích có được bằng chứng đầy đủ và tin cậy với chi phí
kiểm toán thấp nhất.
Bước 3: Hoàn tất công việc kiểm toán: Kết quả các trắc nghiệm trên
phải được xem xét trong quan hệ hợp lý chung và kiểm nghiệm trong quan hệ
với các sự việc bất thường, những nghiệp vụ phát sinh sau ngày lập bảng khai
tài chính. Chỉ trên cơ sở đó mới đưa được kết luận cuối cùng và lập báo cáo
kiểm toán.
1.2.2 Trình tự đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.2.2.1 Phương pháp tiếp cận kiểm toán
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 330 (VSA – 330) “Thủ tục
kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro”: “Để giảm rủi ro kiểm toán xuống mức
thấp nhất có thể chấp nhận được, KTV và công ty kiểm toán phải đưa ra
phương pháp tiếp cận tổng quát trên cơ sở đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
16
Luận văn tốt nghiệp
trong BCTC; phải thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán để xử lý các rủi
ro có sai sót trọng yếu trong các cơ sở dẫn liệu.”
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần đưa ra phương pháp tiếp cận
tổng quát để xác định rủi ro có sai sót trọng yếu trong BCTC. Phương pháp
tiếp cận tổng quát đòi hỏi KTV phải giữ thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong
quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán, bổ nhiệm KTV có nhiều
kinh nghiệm hoặc có các kĩ năng chuyên môn đặc biệt; sử dụng các chuyên
gia, giám sát nhiều hơn hoặc kết hợp các yếu tố bổ sung cho các vấn đề không
thể dự đoán trước khi lựa chọn thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung. KTV
và công ty kiểm toán có thể thay đổi nội dung, lịch trình và phạm vi của các
thủ tục kiểm toán. Ví dụ: việc thực hiện các thử nghiệm cơ bản vào giai đoạn
cuối kỳ thay vì vào giai đoạn giữa kỳ.

sử dụng, đặc biệt là hoạt động kiểm soát này được thực hiện
thủ công hay tự động;
- KTV có kỳ vọng thu thập được bằng chứng kiểm toán để xác
định liệu các hoạt động kiểm soát của đơn vị có hiệu quả trong
việc ngăn chặn, phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu hay
không.
1.2.2.2 Xác định rủi ro kiểm toán mong muốn
Rủi ro kiểm toán mong muốn là mức rủi ro được xác định một cách chủ
quan: Khi quyết định mức rủi ro kiểm toán mong muốn thấp hơn, KTV muốn
chắc chắn hơn để có được các báo cáo (quyết định) kiểm toán không bị sai
phạm trọng yếu.
Mức rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định phụ thuộc vào hai yếu
tố cơ bản:
• Mức độ quan tâm của những người sử dụng bên ngoài đến BCTC:
Khi có nhiều người bên ngoài quan tâm đến BCTC, mức rủi ro kiểm
toán phải giảm vì những sai lệch trọng yếu trên BCTC đã kiểm toán
dễ gây tác hại trên phạm vi rộng.
• Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn tài chính sau khi báo cáo
kiểm toán được công bố: Nếu một số khách hàng buộc phải xin phá
sản hoặc phải chịu một sự thiệt hại lớn sau khi báo cáo kiểm toán
được công bố thì KTV phải bảo vệ kết quả cuộc kiểm toán. Vì thế,
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
18
Luận văn tốt nghiệp
rủi ro kiểm toán mong muốn sẽ thấp cho dù chi phí kiểm toán cao
hơn.
Thông thường, rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định cho từng bộ
phận trong suốt cuộc kiểm toán. Trong trường hợp rủi ro kiểm toán mong
muốn ở mức trung bình (vì số lượng người sử dụng báo cáo tài chính hạn chế
và vì lợi nhuận ở mức bình thường), có thể sử dụng mức rủi ro kiểm toán

là hoàn toàn trung thực trong mọi trường hợp. Khi Ban Giám Đốc bị
kiểm soát bởi một hoặc một số ít các các nhân thiếu tính trung thực
thì khả năng các BCTC bị báo cáo sai nghiêm trọng sẽ tăng lên rất
cao, do vậy việc rủi ro tiềm tàng được đánh giá ở mức cao.
• Kết quả các lần kiểm toán trước: Đối với tài khoản được phát hiện
có sai phạm trong các lần kiểm toán của năm trước, rủi ro tiềm tàng
được xác định ở mức cao. Lý do nhiều loại sai phạm có tính chất hệ
thống và các đơn vị thường chậm chạp không tiến hành các biện
pháp sửa chữa chúng trên các sai phạm đã sảy ra trong năm trước có
thể vẫn tiếp tục xảy ra trong năm nay.
• Hợp đồng kiểm toán lần đầu và hợp đồng kiểm toán dài hạn: Trong
các hợp đồng kiểm toán lần đầu, KTV thường thiếu hiểu biết và
kinh nghiệm về các sai sót của đơn vị khách hàng nên họ thường
đánh giá rủi ro tiềm tàng cao hơn so với hợp đồng kiểm toán gia
hạn.
• Các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên: Các nghiệp vụ này có
khả năng bị vào số sai nhiều hơn là các nghiệp vụ diễn ra hàng ngày
do khách hàng thiếu kinh nghiệm trong hạch toán các nghiệp vụ đó.
• Các ước tính kế toán: Rủi ro tiềm tàng của các tài khoản phản ánh
các ước tính kế toán (dự phòng các khoản phải thu khó đòi, dự
phòng giảm giá hàng tồn kho,…) thường được đánh giá là cao vì
việc vào sổ đúng đắn các khoản mục này không những đòi hỏi sự
hiểu biết về bản chất các khoản mục, lý thuyết liên quan mà còn cả
kinh nghiệm và sự phán xét chủ quan của người có trách nhiệm.
• Số lượng tiền của các số dư tài khoản: Các tài khoản có số dư bằng
tiền lớn thường được đánh giá là rủi ro tiềm tàng cao hơn so với tài
khoản có số dư bằng tiền nhỏ.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
20
Luận văn tốt nghiệp

Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
21
Luận văn tốt nghiệp
ban giám đốc với bản chất và phạm vi của sổ sách kế toán để được thỏa mãn
là bằng chứng đủ thích hợp và có sẵn để chứng minh cho các số dư trên
BCTC. Qua đó KTV có thể nhận diện và đánh giá các sai phạm tiềm tàng; có
mức đánh giá thích hợp về rủi ro kiểm soát ảnh hưởng đến rủi ro phát hiện từ
đó ảnh hưởng đến quyết định số lượng bằng chứng cần thu thập, và có kế
hoạch thiết kế các cuộc khảo sát thích hợp.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
22
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ 1.1: Khái quát việc nghiên cứu HTKSNB và
quá trình đánh giá rủi ro kiểm soát
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B

Đạt được sự hiểu biết về HTKSNB của khách
hàng đủ để lập kế hoạch kiểm toán BCTC
Đánh giá xem liệu các BCTC
có thể kiểm toán được hay
không
Ý kiến từ chối
hoặc rút ra khỏi
hợp đồng
Quá trình đánh giá rủi ro
kiểm soát
Mức được chứng minh
bằng sự hiểu biết đã có
Mức thấp hơn khả năng đã
có thể chứng minh được

Luận văn tốt nghiệp
Trong giai đoạn này cần tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ trên hai
mặt: Thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ (bao gồm thiết kế về quy chế kiểm
soát và thiết kế về bộ máy kiểm soát) và tính liên tục, hiệu lực trong hoạt
động của hệ thống kiểm soát nội bộ. Trên cơ sở hiểu biết đó nhận diện các rủi
ro tiềm tàng, đánh giá mức rủi ro kiểm soát, các nhân tố ảnh hưởng gây ra sai
lệch trên BCTC, từ đó xác định khối lượng các nghiệp vụ kinh tế phát sinh,
xây dựng các thủ tục kiểm toán thích hợp.
Các thủ tục kiểm soát:
- Lập, kiểm tra, so sánh và phê duyệt các số liệu, tài liệu liên quan
đến đơn vị;
- Kiểm tra tính chính xác số liệu tính toán;
- Kiểm tra chương trình ứng dụng và môi trường tin học;
- Kiểm tra số liệu giữa sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết;
- Kiểm tra và phê duyệt các chứng từ kế toán, tài liệu kế toán;
- Đối chiếu số liệu nội bộ với bên ngoài;
- So sánh, đối chiếu kết quả kiểm kê thực tế với số liệu trên sổ kế
toán;
- Giới hạn việc tiếp cận trực tiếp với các tài sản và tài liệu kế toán;
- Phân tích, so sánh giữa số liệu thực tế với dự toán, kế hoạch.
Sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ, cần lập hồ sơ về những
thông tin đã thu thập để chứng minh việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ.
Lập hồ sơ kiểm toán để mô tả hệ thống kiểm soát nội bộ thường được thực
hiện dưới dạng bảng tường thuật, bảng câu hỏi về kiểm soát nội bộ, lưu đồ
hoặc kết hợp các hình thức đó.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
24
Luận văn tốt nghiệp
Bước 2: Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch kiểm toán
Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát là việc đánh giá hiệu quả hệ thống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status