Một số giải pháp cho vấn đề huy động & sử dụng vốn hiệu quả tại Cty bánh kẹo Hải Hà - Pdf 89

LỜI NÓI ĐẦU
Trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt hiện nay, các doanh nghiệp muốn
đứng vững thì việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều quan trọng. Các
doanh nghiệp phải bước đi từng bước vững chắc trong mọi hoạt động, phải tạo ra sự
tăng trưởng hiện tại và tạo những tiền đề vững chắc cho tương lai. Xong để tiến
hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cần phải có đủ vốn để đảm bảo
các xây dựng cần thiết, máy móc và thiết bị, mua nguyên vật liệu, đáp ứng những
chi phí quảng cáo và tiêu thụ, chi trả nhân công và trang trải vô số những chi phí
khác phát sinh. Như vậy có thể nói rằng vốn là máu của một doanh nghiệp, là điều
kiện cần thiết và không thể thiếu được. Nhưng vấn đề là ở chỗ vốn được huy động ở
đâu và sử dụng như thế nào cho có hiệu quả mà các doanh nghiệp cần quan tâm.
Thực tế hiện nay ở Việt Nam, các doanh nghiệp Nhà nước hầu hết đang ở
trong tình trạng kinh doanh không hiệu quả mà một trong những nguyên nhân gây
nên là thực trạng không hiệu quả ở khai thác và sử dụng nguồn vốn. Vì thế việc tìm
ra những giải pháp kịp thời để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính là
cần thiết.
Xuất phát từ tính cấp thiết đó và qua thời gian nghiên cứu, thực tập tại Công ty
Bánh kẹo Hải Hà, em xin trình bày một số vấn đề về “Một số giải pháp cho vấn đề
huy động và sử dụng vốn có hiệu quả tại Công ty bánh kẹo Hải Hà” làm Luận văn
tốt nghiệp.
Kết cấu của chuyên đề như sau:
- Lời nói đầu
- Phần I: Lý luận chung về huy động và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp.
- Phần II: Thực trạng nguồn vốn và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh ở Công
ty bánh kẹo Hải Hà.
- Phần III: Một số giải pháp để tạo vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh ở Công ty bánh kẹo Hải Hà.
Trang 1
Phần I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN SẢN XUẤT KINH

- Vốn là phương tiện để đạt mục đích phát triển kinh tế và nâng cao đời sống
vật chất tinh thần cho người lao động.
- Vốn có giá trị và giá trị sử dụng: tức là vốn có thể được mua, được bán, được
trao đổi trên thị trường cũng như có thể được sử dụng vào một khâu hay toàn bộ quá
trình tái sản xuất. Như vậy vốn cũng là một loại hàng hoá.
- Vốn có khả năng sinh lời: hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
có hiệu quả sẽ làm cho đồng vốn của doanh nghiệp sinh sôi nảy nở.
- Khia tham gia vào sản xuất kinh doanh, vốn luôn biến động và chuyển hoá
hình thái vật chất theo thời gian và không gian. Toàn bộ sự vận động của vốn khi
tham gia quá trình sản xuất đợc thể hiện ở sơ đồ sau:
TLSX
T - H - SX - H - T
SLĐ
Sự vận động của vốn trong doanh nghiệp thương mại có thể chỉ là: T -H- T’ và
trong doanh nghiệp ngân hàng là: T - T’
Qua sơ đồ ta thấy: quá trình vận động của vốn trải qua ba giai đoạn chủ yếu
sau đây:
Giai đoạn một: vốn hoạt động trong phạm vi lưu thông, lúc đầu là vốn tiền tệ
(T) tích luỹ được đem ra thị trường (đó là thị trường các yếu tố đầu vào) mua hàng
hoá bao gồm TLSX và sức lao động. Trong giai đoạn này vốn thay đổi từ hình thái
vốn tiền sang vốn sản xuất.
TLSX
T - H
SLĐ
Trang 3
Giai đoạn hai: Vốn rời khỏi lĩnh vực lưu thông bước vào hoạt động trong khau
sản xuất. Ở đây các yếu tố sản xuất hay còn gọi là các yếu tố hàng hoá dịch vụ được
sản xuất ra trong đó có phần giá trị mới (do giá trị sức lao động con người tạo ra).
Trang 4
TLSX

quá trình sản xuất như tư liệu lao động thì VLĐ là đối tượng lao động. Nếu như vốn
lao động tạo ra thực thể của sản phẩm hàng hoá thì VCĐ là phương thức để dịch
chuyển VLĐ thành sản phẩm hàng hoá.
Mặt khác nếu như VLĐ được kết chuyển một lần vào giá trị của sản phẩm
hàng hoá và thu hồi được ngay sau khi doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá còn
vốn cố định tham gia nhiều vào quá trình sản xuất kinh doanh và kết chuyển vào giá
trị sản phẩm hàng hoá dưới hình thức khấu hao.
4.1. Vốn cố định
* Khái niệm: Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư,
ứng trước về tài sản cố định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần
trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian
sử dụng.
Theo quy định của nhà nước chỉ các tư liệu sản xuất có đủ hai điều kiện: có
giá trị lớn (trên năm triệu đồng) và thời gian sử dụng ít nhất là một năm.
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định giữ một vai trò rất quan trọng trong quá
trình sản xuất. Nó quyết định đổi mới kỹ thuật, đổi mới công nghệ sản xuất, quyết
định việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, quyết định việc sử dụng các thành tựu
công nghệ mới, là nhân tố quan trọng bảo đảm tái sản xuất mở rộng và việc không
ngừng nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân. Vì vậy việc sử dụng vốn cố định là
một vấn đề quan trọng cả về mặt hiện vật và giá trị.
Về mặt hiện vật VCĐ bao gồm toàn bộ những TSCĐ đang phát huy tác dụng
trong quá trình sản xuất: nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải... Vốn
cố định tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất kinh doanh. Sau mỗi chu kỳ sản
xuất thì hình thái hiện vật của VCĐ không thay đổi nhưng giá trị của nó giảm dần
và chuyển vào giá trị sản phẩm hàng hoá dưới hình thức khấu hao.
* Cơ cấu của vốn cố định:
Là tỷ trọng của từng loại VCĐ so với tổng toàn bộ VCĐ của doanh nghiệp
trong một thời kỳ nhất định. Cần lưu ý rằng quan hệ tỷ lệ trong cơ cấu vốn là một
chỉ tiêu động mang tính biện chứng và phụ thuộc nhiều nhan tố như: khả năng tiêu
Trang 6

hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm, vật tư mua ngoài chế biến, vốn
tiền mặt...
Khác với VCĐ, VLĐ chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm sau mỗi chu kỳ sản
xuất. Trong quá trình sản xuất kinh doanh VLĐ được luân chuyển không ngừng qua
ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất và tiêu thụ. Trong mỗi giai đoạn đó VLĐ được biểu
hiện dưới nhiều hình thái khác nhau, có thể là hình thái hiện vật hay hình thái giá trị.
Có thể thấy rằng VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình
tái sản xuất. Nếu doanh nghiệp không đủ vốn thì việc tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp
nhiều khó khăn và do đó quá trình sản xuất cũng bị trở ngại hay gián đoạn.
* Cơ cấu vốn lưu động
Là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu động chiếm trong tổng số vốn
lưu động. Ở những doanh nghiệp khác nhau, kết cấu vốn lưu động không giống
nhau. Xác định được cơ cấu vốn lưu động hợp lý sẽ góp phần sử dụng tiết kiệm và
có hiệu quả vốn lưu động.
Để quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn lưu động thì cần thiết phải tiến hành
phân loại vốn khác nhau.
- Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn lưu động người ta chia
vốn là ba loại:
+ Vốn dự trữ: là một bộ phận dùng để mua nguyên liệu, phụ tùng thay thế... dự
trữ và đưa vào sản xuất.
+ Vốn trong sản xuất: là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn sản xuất
lưu thông như thành phẩm vốn tiền mặt.
- Căn cứ vào phương pháp xác định vốn người ta chia vốn làm hai loại:
+ Vốn lưu động định mức: là số vốn lưu động cần thiết tối thiểu thường xuyên
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bao gồm: vốn dự trữ, vốn
trong sản xuất và thành phẩm, hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm, vật
tư thuê ngoài chế biến.
Trang 8
+ Vốn lưu động không định mức: là số vốn lưu động có thể phát sinh trong quá
trình sản xuất kinh doanh nhưng không có căn cứ để tính định mức được.

làm xuất phát điểm cho mình. Phương pháp này hay được sử dụng cho những doanh
nghiệp mới thành lập hay những doanh nghiệp đã hoạt động nhưng cần thiết lập lại
cơ cấu vốn.
2. Các hình thức huy động vốn
Có nhiều cách phân loại nguồn cung ứng vón cho doanh nghiệp. Nếu căn cứ
vào nơi cung ứng có thể phân loại nguồn cung ứng ở dạng khái quát nhất thành
nguồn cung ứng từ nội bộ và nguồn cung ứng vốn từ bên ngoài. Trên cơ sở đó người
ta lại tiếp tục phân loại cụ thể hơn.
2.1. Tự cung ứng
- Khấu hao tài sản cố định: việc xác định mức khấu hao cụ thể phụ thuộc vào
thực tiễn sử dụng tài sản cố định cũng như ý muốn chủ quan của con người. Đối với
doanh nghiệp nhà nước trong chừng mực nhất định phải phụ thuộc ý đồ của Nhà
nước, các doanh nghiệp khác có thể tự lựa chọn thời hạn sử dụng và phương pháp
tính khấu hao cụ thể. Trong chính sách tài chính của mình, doanh nghiệp có thể lựa
chọn và điều chỉnh khấu hao tài sản cố định và coi đây là một nguồn cung ứng vốn
bên trong của mình.
- Tích luỹ tái đầu tư: phụ thuộc vào hai nhân tố cụ thể và tổng số lợi nhuận thu
được trong từng thời kỳ kinh doanh và chính sách phân phối lợi nhuận sau thuế của
doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà nước toàn bộ lợi nhuận thu được sẽ phải
sử dụng cho các khoản.
+ Nộp tiền sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định
+ Trả các khoản phải quy định
+ Lập các quỹ đặc biệt
- Điều chỉnh cơ cấu tài sản: Phương thức này tuy không làm tăng tổng số vốn
sản xuất - kinh doanh nhưng lại có tác dụng rất lớn trong việc tăng vốn cho các hoạt
động cần thiết trên cơ sở giảm vốn ở những nơi không cần thiết.
Trang 10
2.2. Phương thức cung ứng từ bên ngoài
* Cung ứng từ ngân sách nhà nước
Với hình thức này doanh nghiệp sẽ nhận được lượng vốn xác định từ ngân

cố định phải hỏ hơn tổng số vốn và nợ dài hạn của doanh nghiệp. Những doanh
nghiệp nào thoả mãn các điều kiện theo luật định mới được phép phát hành trái
phiếu.
* Vay vốn của các ngân hàng thương mại
Vay vốn từ các ngân hàng thương mại là hình thức doanh nghiệp vay vốn dưới
các hình thức cụ thể ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn từ các ngân hàng thương mại.
Đây là mối quan hệ tín dụng giữa một bên đi vay và một bên cho vay. Với hình thức
này doanh nghiệp có thể huy động được một lượng vốn lớn, đúng hạn và có thể mời
các doanh nghiệp cùng thamg gia thẩm định dự án nếu có cầu vay đầu tư lớn. Yêu
cầu doanh nghiệp phải có uy tín lớn, kiên trì đàm phán, chấp nhận các thủ tục thẩm
định ngặt nghèo. Nếu doanh nghiệp vay tiền của ngân hàng có thể bị ngân hàng
thương mại kiểm soát các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian
cho vay.
* Tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp:
Trong hoạt động kinh doanh, quan hệ mua bán trao đổi giữa các doanh nghiệp
thông thường không kết thúc tại một điểm, tức là xuất hiện sự chênh lệch về mặt
thời gian giữa dòng tài chính và dòng vật chất. Thực chất luôn diễn ra đồng thời quá
trình doanh nghiệp nợ khách hàng tiền và chiếm dụng tiền của khách hàng. Nếu tiền
doanh nghiệp chiếm dụng của khách hàng nhiều hơn số tiền doanh nghiệp bị chiếm
dụng thì số tiền dôi ra sẽ mang bản chất tín dụng thương mại hay tín dụng nhà cung
cấp. Ngoài tín dụng thương mại còn gồm cả khoản đặt cọc trước của khách hàng.
Đây là một hình thức tín dụng ngắn hạn quan trọng (thường phải thanh toán
trong vòng 30-90 ngày) đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh
nghiệp đang trong thời kỳ tăng trưởng.
* Tín dụng thuê mua:
Trang 12
Trong cơ chế thị trường hình thức này được thực hiện giữa một doanh nghiệp
có cầu sử dụng máy móc, thiết bị với một doanh nghiệp thực hiện chức năng thuê
mua diễn ra khá phổ biến. Hình thức này có ưu điểm rất cơ bản là giúp cho doanh
nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích, khi nào doanh nghiệp có cầu về sử dụng máy

Các doanh nghiệp nhà nước ngay từ khi mới thành lập đã được Nhà nước cấp
cho một lượng vốn nhất định. Đây là lượng vốn quan trọng để đầu tư xây dựng ban
đầu và mở rộng sản xuất. Khi sử dụng vốn này các DNNN phải nộp thuế sử dụng
vốn NSNN. Từ 01/01/1997, theo Nghị định số 59/NĐ-CP của Chính phủ và Thông
tư/TC-CSTC của Bộ Tài chính thì chỉ có các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có
lãi thì mới phải nộp thuế sử dụng vốn NSNN và được tính từ lợi nhuận sau thuế.
- Vốn hình thành do lợi nhuận để lại:
Đây là nguồn vốn do doanh nghiệp tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Vốn liên doanh liên kết:
Đây là một hình thức phổ biến ở Việt Nam hiện nay, là vốn do các doanh
nghiệp khác trong và ngoài nước đóng góp để cùng thực hiện quá trình sản xuất
kinh doanh. Nguyên tắc trong liên doanh, liên kết và các bên tham gia liên doanh,
liên kết phải bình đẳng với nhau, cùng chia sẻ lợi nhuận và rủi ro trong phạm vi tỷ lệ
vốn góp. Tuy nhiên trong trường hợp liên doanh, liên kết với nước ngoài, do trình
độ yếu kém nên bên Việt Nam thường chịu nhiều thiệt thòi, lượng vốn góp của Việt
Nam còn thấp (thường ở mức 30-35%) nên các quyết định của bên Việt Nam còn
thiếu trọng lượng.
Ngoài ra còn có thể huy động từ cán bộ công nhân viên chức của doanh
nghiệp.
- Vốn do cổ phần hoá DNNN mang lại:
Đây là nguồn vốn huy động từ việc DNNN phát hành cổ phiếu. Vốn cổ phần
cổ đông đóng góp thông qua việc mua cổ phiếu do doanh nghiệp phát hành. Mức lãi
của cổ phiếu phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (nếu lỗ
thì không phải trả).
Trang 14
3.2. Vốn vay:
- Vốn vay ngân hàng:
Ngày 31/5/1997, Ngân hàng trung ương đã có Công văn số 471 về điều kiện
cho các DNNN vay vốn mà không phải thế chấp, bảo lãnh, tín chấp,... không giới
hạn theo vốn điều lệ mà căn cứ vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Nghiên cứu tỷ mỷ các nguồn tài chính (chủ nợ) cũng là một sự cân nhắc tuyệt
đối quan trọng. Nếu đó là các ngân hàng, các tổ chức tài chính thì tiềm lực sức mạnh
kinh doanh của họ là một bảo đảm cần thiết trong trường hợp doanh nghiệp cần kéo
dài thời hạn các khoản nợ vì một lý do nào đó. Hơn nữa cùng cần xem xét động cơ
tham gia vào nguồn tài chính doanh nghiệp của họ.
4.5. Quyết định huy động nguồn vốn
Quyết định huy động các nguồn tài chính luôn là vấn đề sống còn đối với
doanh nghiệp, do vậy trước hết cần tập trung nghiên cứu và khai thác triệt để các
biện pháp quản trị khả thi đối với nguồn huy động. Điều này có ý nghĩa to lớn đối
với doanh nghiệp đang trong tình trạng tài chính khó khăn, khả năng thanh toán
thấp.
4.6. Kế hoạch huy động tài chính cho chi trả
Nguồn tài chính huy động hôm nay sẽ phải thanh toán chi trả khi đáo hạn (đối
với những khoản vay) do đó doanh nghiệp cần phải có kế hoạch huy động thanh
toán, chi trả.
5. Các chỉ tiêu liên quan đến huy động vốn:
Khi doanh nghiệp thực hiện huy động vốn từ các nguồn thì các chủ tài chính
như ngân hàng, các chủ đầu tư thường cân nhắc và xem xét các chỉ tiêu về khả năng
thanh toán, cơ cấu tài chính và các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi vốn của doanh
nghiệp.
- Các chỉ số về khả năng thanh toán:
+ Khả năng thanh toán chung =
Trang 16
Tuỳ thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh và từng thời kỳ kinh doanh song
chủ nợ ngắn hạn sẽ tin tưỏng hơn nếu chỉ số này lớn hơn 2.
+ Khả năng thanh toán nhanh =
Nếu chỉ số này ≥ 1 có nghĩa là doanh nghiệp không có nguy cơ bị rơi vào tình
trạng vỡ nợ và các chủ nợ ngắn hạn sẽ tin tưởng doanh nghiệp hơn.
+ Khả năng thanh toán tức thời =
- Các chỉ số mắc nợ:

C: hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả.
+ Suất hao phí:
Q =
Từ hai loại chỉ tiêu này ta sẽ đi xem xét với yếu tố đầu vào là vốn cố định và
vốn lưu động.
2. Mục đích của phân tích hiệu quả sử dụng vốn:
Làm thông tin giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có các quyết định đúng đắn,
kịp thời.
- Xác lập được một cơ cấu vốn hợp lý
- Giúp cho các nhà quản trị đánh giá được tình hình thực tế về vấn đề sử dụng
vốn.
- Từ đó tìm ra những mặt yếu kém, chưa có hiệu quả phát hiện ra những
nguyên nhân để tìm ra những biện pháp khắc phục. Tuy nhiên để công việc phan
tích hiệu quả sử dụng vốn là đúng, xác thực và phát huy được những mục đích trên
thì cần quán triệt một số nhiệm vụ sau:
+ Thông tin thu thập để phân tích được lấy từ các báo cáo tài chính, báo cáo
thực hiện kế hoạch,... của doanh nghiệp và nguồn thông tin từ bên ngoài doanh
nghiệp như báo cáo về tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp khác đặc biệt cùng
ngành.
+ Xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá thích hợp.
Trang 18
3. Quản lý vốn cố định và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng
3.1. Quản lý vốn cố định
* Hao mòn và khấu hao tài sản cố định:
Trong quá trình sử dụng tham gia vào sản xuất, do chịu sự tác động của nhiều
nhân tố khác nhau nên tài sản cố định bị hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
- Hao mòn hữu hình: là sự giảm dần về giá trị sử dụng (tức là sự giảm về chất
lượng và sự giảm về tính năng kỹ thuật) và giá trị do chúng được sử dụng trong sản
xuất hoặc do tác động của yếu tố tự nhiên gây ra. Tài sản cố định bị hao mòn hữu
hình trước hết là nó trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh

k
: mức khấu hao cố định hàng năm
NG: nguyên giá tài sản cố định
T: thời gian sử dụng định mức cả đời máy.
+ Phương pháp tính khấu hao gia tăng:
trong đó:
TK : tỷ lệ trích khấu hao năm
NG
t
: giá trị còn lại của tài sản cố định ở cuối năm thứ t
NG
0
: nguyên giá tài sản cố định.
* Kế hoạch khấu hao tài sản cố định:
Là một biện pháp quan trọng để quản lý vốn cố định cả trên phương diện bảo
toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Kế hoạch khấu hao tài sản cố định phản ánh các chỉ tiêu giá trị về tài sản cố
định trong năm kế hoạch, tổng giá trị tài sản cố định ở đầu kỳ, xác định tổng giá trị
tài sản cố định bình quân cần tính khấu hao, mức khấu hao phải tính trong năm và
tình hìnhh phân phối sử dụng quỹ khấu hao.
- Tài sản cố định không phải tính khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn
(như đất đai).
- Tài sản cố định tăng thêm trong năm kế hoạch: nếu tăng vào một ngày nào đó
của tháng thì tháng sau mới tính khấu hao.
Trang 20
=
Giá trị
TSCĐ
tăng
thêm

Kế hoạch khấu hao tài sản cố định được coi là biện pháp quan trọng để quản lý
vốn cố định.
3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu quả sử dụng vốn cố định =
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn cố định, cho biết một đồng
vốn cố định bỏ vào sản xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Khả
năng sinh lời của vốn cố định càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn cố định càng cao.
4. Quản lý vốn lưu động và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn
lưu động
Trang 21
4.1. Quản lý vốn lưu động
* Xác định nhu cầu thường xuyên tối thiểu về vốn lưu động của doanh nghiệp.
Xác định nhu cầu này nhằm mục đích đảm bảo đủ vốn lưu động cần thiết tối
thiểu cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục, tránh ứ đọng vốn và
ngược lại nếu quá ít sẽ gây cho doanh nghiệp nhiều khó khăn tác động xấu đén hoạt
động thu mua vật tư, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh.
- Muốn xác định vốn lưu động định mức kỳ kế hoạch doanh nghiệp phải lần
lượt tính toán vốn lưu động định mức ở từng khâu (dự trữ, sản xuất, lưu thông) và
đối với từng loại nguyên vật liệu (chính, phụ) sau đó tổng hợp lại vốn lưu động định
mức kỳ kế hoạch. Tuy nhiên sử dụng phương pháp này tương đối phức tạp.
- Phương pháp gián tiếp xác định nhu cầu vốn lưu động: nội dung phương
pháp này dựa vào thống kê kinh nghiệm để xác định nhu cầu vốn, chia làm 2 trường
hợp:
+ Thứ nhất: dựa vào kinh nghiệm thực tế của các doanh nghiệp cùng loại trong
ngành để xác định nhu cầu vốn lưu động cho doanh nghiệp.
+ Thứ hai: dựa vào tình hình thực tế sử dụng vốn lưu động ở thời kỳ trước của
doanh nghiệp để xác định nhu cầu vốn lưu động cho thời kỳ tiếp theo, đồng thời
xem xét với tình hình thay đổi quy mô sản xuất kinh doanh và sự cải tiến tổ chức sử
dụng vốn lưu động để xác định toàn bộ nhu cầu vốn lao động thường xuyên cần
thiết. Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản.

H
VSD
=
SXKD
V
D
trong đó:
H
VSD
: hiệu quả sử dụng vốn sản xuất
D : là doanh thu hoặc số lượng sản phẩm tiêu thụ
SXKD
V
: là số dư bình quân vốn sản xuất kinh doanh.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn sản xuất kinh doanh:
Trang 23
H
V
= x 100%
6. Phân tích khả năng thanh toán
Theo công thức:
K =
K : là hệ số khả năng thanh toán
Ý nghĩa:
+ Nếu K ≥ 1 chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán và tình trạng tài
chính của doanh nghiệp bình thường hoặc tốt.
+ Nếu K < 1 chứng tỏ doanh nghiệp không có khả năng thanh toán công nợ và
tình trạng tài chính ở mức không bình thường hoặc xấu.
- Các khoản nợ phải trả bao gồm:
+ Các khoản phải trả người bán, người mua

hưởng của việc n
*******
3. Những đặc điểm chủ yếu ảnh hưởng tới huy động và sử dụng vốn
3.1. Bộ máy tổ chức của công ty
Trang 25

Trích đoạn QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI HÀ Tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp Cơ sở vật chất kỹ thuật Về bảo toàn và phát triển vốn cố định
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status