Phân tích thực trang rủi ro trong tín dụng nông thôn và biện pháp khắc phục
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống tín dụng nông thôn đóng vai trò không thể
thiếu trong quá trình phát triển kinh tế. Nó cung cấp dịch vụ tài chính có chi phí
phù hợp với khả năng của người dân nông thôn để phát triển sản xuất, tăng thu
nhập, và nhờ đó vượt ra khỏi vòng nghèo đói. Ngoài ra, hệ thống tín dụng còn có
vai trò quan trọng trong nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của hoạt động kinh tế
xã hội. Nhưng bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng luôn tiềm ẩn những rủi ro, nhất là
với thị trường tín dụng nông thôn. Rủi ro tín dụng luôn luôn là vấn đề cần được
quan tâm, do hoạt động tín dụng có tính nhạy cảm cao, ảnh hưởng đến sự ổn định
kinh tế xã hội. Rủi ro tín dụng có thể xảy ra ít hay nhiều phụ thuộc vào chất lượng
tín dụng. Vì vậy, việc tìm hiểu và giải quyết những rủi ro luôn là vấn đề quan
trọng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của thị trường tín dụng nông thôn. Do đó
em chọn đề tài “Phân tích thực trạng rủi ro trong tín dụng nông thôn và biện
pháp khắc phục” để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
a. Mục tiêu chung:
Tìm hiểu và phân tích những rủi ro trong hoạt động của thị trường tín dụng
nông thôn và đưa ra giải pháp khắc phục.
b. Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu đặc điểm của thị trường tín dụng nông thôn.
- Phân tích những rủi ro trong tín dụng nông thôn.
- Đề ra những biện pháp để đạt hiệu quả cao trong hoạt động tín dụng nông
thôn, đồng thời cải thiện đời sống của người nông dân.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu: số liệu thứ cấp qua sách, báo, tạp chí,
internet,…
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu các ngân hàng thương mại
trong hệ thống tín dụng nông thôn ở Việt Nam.
hộ gia đình.
Tuy nhiên, tín dụng nông thôn cũng có thuận lợi là có điều kiện gần gũi,
hiểu rõ khách hàng, thành viên hơn vì cùng sống chung trong khu vực làng, xã.
SV thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Nhiên
2
Phân tích thực trang rủi ro trong tín dụng nông thôn và biện pháp khắc phục
1.2.2. Yếu tố tự nhiên
Kinh tế nông thôn chủ yếu là hoạt động sản xuất nông nghiệp, yếu tố thời
tiết, khí hậu, biến động giá cả ảnh hưởng nhiều đến kết quả sản xuất. Nếu thời
tiết, khí hậu, giá cả bất thường sẽ mang lại trong sản xuất nhiều rủi ro, tổn thất cho
khách hàng và cả ngân hàng thương mại.
1.2.3. Yếu tố thông tin, kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật tại chỗ
Yếu tố này cũng có thể đem lại các rủi ro nhất định, ảnh hưởng kết quả
sản xuất, kinh doanh của người dân trong vùng. Ví dụ: Những nơi mà điều kiện
thông tin còn hạn chế, kiến thức tiến bộ khoa học, kỹ thuật đến với dân chưa đầy
đủ, thì việc cập nhật thông tin, áp dụng kỹ thuật vào sản xuất chưa phổ biến, kịp
thời làm năng suất, hiệu quả sử dụng vốn trong sản xuất thấp, không đồng đều;
hay việc qui hoạch phát triển kinh tế vùng, địa phương có những điểm chưa hợp
lý (việc chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi chưa phù hợp, thị trường tiêu thụ
không ổn định, khó khăn cho đầu ra sản phẩm…) cũng sẽ mang lại những tác
động không tốt, làm giảm thu nhập cho các hộ nông dân và họ sẽ gặp khó khăn
trong việc trả nợ vốn vay cho các tổ chức tín dụng.
SV thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Nhiên
3
Phân tích thực trang rủi ro trong tín dụng nông thôn và biện pháp khắc phục
Chương 2
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG TÍN DỤNG
NÔNG THÔN
2.1. Thực trạng chung của các ngân hàng
Trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài nguồn vốn tự có
- Tổng dư nợ năm sau cao hơn năm trước, biểu hiện sự tăng trưởng về tín
dụng của nền kinh tế.
- Tỉ lệ phần trăm nợ quá hạn ổn định và có xu hướng giảm là biểu hiện tốt.
Nhưng đến năm 2006 lại tăng vì Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) nên vốn đầu tư vào các doanh nghiệp tăng, đa số là từ việc vay ngân hàng.
Đến năm 2007 thì tỉ lệ phần trăm nợ quá hạn giảm, tuy phần trăm nợ quá hạn có
xu hướng giảm, song tính số tuyệt đối thì đây là khoản nợ quá hạn rất lớn của nền
kinh tế. Nếu số nợ này trở thành nợ khó đòi, nợ xấu thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại và hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp vay vốn trong nền kinh tế. Thực tế hiện nay một số ngân hàng
thương mại nhìn cục bộ, có phần trăm nợ quá hạn cao, được biết là số nợ tồn đọng
kéo dài chưa hoặc không giải quyết được. Ở các nước trên thế giới hoặc trong khu
vực, phần trăm nợ quá hạn của ngân hàng thương mại phải đạt tỉ lệ phần trăm là
dưới 5%. Như vậy, tỉ lệ này của nước ta còn cao. Trong xu hướng hội nhập quốc
tế, chúng ta phải phấn đấu hạ thấp phần trăm quá hạn trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng thương mại.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, nếu nợ quá hạn không xử lý kịp thời
thì sẽ trở thành nợ xấu. Tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỉ lệ để đánh giá chất lượng
tín dụng của tổ chức tín dụng.
Bảng 2: Tình hình nợ xấu của các ngân hàng thương mại (2002 – 2007)
Nguồn : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Bảng 2 cho ta thấy được tỉ lệ nợ xấu của các ngân hàng qua các năm có thay
đổi từ 7,2% năm 2002 đã giảm xuống 5,4% ở năm 2007. Nhưng khoản nợ xấu này
vẫn còn rất cao trong nền kinh tế nước ta. Do đó, các ngân hàng phải luôn quan
tâm và theo dõi tỉ lệ nợ xấu. Việc ngân hàng đầu tư, cho vay vốn nhưng chậm hoặc
không thu được vốn dẫn đến nợ quá hạn, thậm chí rủi ro mất vốn là điều khó tránh
SV thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Nhiên
Năm
Tiêu chuẩn
2002 2003 2004 2005 2006 2007
nghiệp bình quân chỉ đạt 4,4% (riêng trồng trọt 4%), lâm nghiệp tăng 1,4%, cộng
với những hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu, năng suất chất lượng tăng trưởng đã
đặt ra câu hỏi: Các chính sách hỗ trợ vốn và tín dụng của Nhà nước - đòn bẩy
chính đã chưa thực sự hiệu quả?
SV thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Nhiên
6
Phân tích thực trang rủi ro trong tín dụng nông thôn và biện pháp khắc phục
Bên cạnh đó, tăng trưởng tín dụng trong kinh tế nông, lâm nghiệp thời gian
qua có tốc độ nhanh, nhưng mới chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu vay vốn của các
tổ chức kinh tế và hộ gia đình. Tỷ lệ hộ nông dân được vay vốn cũng chỉ đạt
khoảng 70%, lại gặp nhiều vướng mắc trong việc thực hiện các qui định về thế
chấp, thu hồi nợ… Các kênh tín dụng còn phân tán, việc cho vay ưu đãi được thực
hiện qua nhiều đầu mối (như Quỹ hỗ trợ phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, Ngân hàng chính sách xã hội) với các mức lãi suất cho vay
khác nhau, dẫn đến người thụ hưởng khó nhận biết đầy đủ để tiếp cận khoản vay
ưu đãi. Trong khi đó, tín dụng thương mại và tín dụng chính sách chưa tách bạch
rõ ràng, một số khoản vay theo chỉ định khó có khả năng thu hồi. Cơ cấu và qui
mô vay phát triển ngành nghề, vùng chuyên canh sản xuất còn chưa tập trung cho
mục tiêu trọng điểm, một số chương trình cho vay kém hiệu quả, cơ chế đảm bảo
tiền vay còn khó khăn, ách tắc.
Năm 2007 là năm các hoạt động sản xuất kinh tế nói chung, ngành ngân
hàng nói riêng chịu nhiều tác động mạnh mẽ, do chỉ số giá tiêu dùng tăng nhanh,
bên cạnh thuận lợi cho người sản xuất, kinh doanh, thì đồng thời cũng gây áp lực
về nguồn vốn tín dụng; những biến động về giá vàng, giá USD, giá bất động sản
gây ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của nhà sản xuất và người người gửi tiền,
khí hậu thay đổi ảnh hưởng đến sản xuất... Điển hình ở huyện Thanh Sơn - tỉnh
Phú Thọ là một trong ba huyện bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ những đợt rét đậm,
rét hại hồi đầu năm 2008, tổng thiệt hại về sản xuất của Thanh Sơn lên đến hơn 3
tỷ đồng, trong đó riêng nguồn vốn vay tín dụng thương mại đã chiếm trên 2,3 tỷ
đồng. Để giúp người nông dân nhanh chóng khắc phục tình trạng khó khăn trước