Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty Rau quả Việt Nam" doc - Pdf 90

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Một số giải pháp nhằm mở rộng thị
trường xuất khẩu và thúc đẩy hoạt
động xuất khẩu của Tổng công ty Rau
quả Việt Nam
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
VÀ THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA TỔNG CÔNG TY

trong nước mà cả thị trường nước ngoài.
Nước ta đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng
một nền kinh tế mở, hiện đại, Ngo
ại thương trở thành một nhân tố thúc đẩy sự
phát triển của ngành nông nghiệp và trở thành bộ phận của nhân tố này. Thực
tế cho thấy, các mặt mặt hàng và các sản phẩm chế biến từ rau quả nói riêng
và các sản phẩm nông nghiệp nói chung đối với các nước đang phát triển là
những mặt hàng xuất khẩu mang tính chiến lược thu ngoại tệ cho đất nước.
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá nói chung c
ũng như hoạt động xuất khẩu mặt
hàng rau quả nói riêng phức tạp hơn rất nhiều so với việc bán sản phẩm trên
thị trường nội địa, nhất là khi có nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cùng một loại
hàng hoá sẽ dẫn đến tình trạng cạnh tranh về tiêu thụ sản phẩm trên thị trường
(nội) Thế giới.
Để có thể tồn tại và phát triển, bất k
ỳ một doanh nghiệp kinh doanh
Quốc tế nào cũng đều phải có những biện pháp nhằm duy trì và phát triển thị
trường xuất khẩu của mình. Đó là yêu cầu tất yếu và cơ bản nhất của kinh
doanh hiện đại. Song để có được một chiến lược phát triển thị trường xuất
khẩu phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, doanh nghiệp cần
phải dựa vào ti
ềm lực của chính bản thân mình, xu hướng vận động của xã
hội mà đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển thị trường xuất
khẩu. Đây chính là vấn đề mà Tổng công ty Rau quả Việt Nam dành nhiều 3
mối quan tâm nhất trong chiến lược phát triển của Tổng công ty, tìm ra những
thị trường mới, xâm nhập củng cố và duy trì những thị trường truyền thống.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, sau những năm trau dồi kiến thức và
CHƯƠNG I

ĐÔI NÉT KHÁI QUÁT VỀ TỔNG CÔNG TY RAU
QUẢ
VIỆT NAM

I. LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN
1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN.
1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
Tổng công ty rau quả Việt Nam (VEGETEXCO) ra đời ngày 11 tháng
2 năm 1988 theo Quyết định số 63NN-TCCB/QĐ của Bộ Công nghiệp và
Nông nghiệp thực phẩm, nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn trên
cơ sở hợp nhất các đơn vị có quan hệ sản xuất chế biến và xuất khẩu rau quả của
ba bộ: Nông nghiệp, Công nghiệp thực phẩm và Ngoại thương, đó là các
đơn vị:
Liên hiệp các xí nghiệp công nghiệp Phủ Quì, Tổng công ty rau quả Trung ương
và Tổng công ty xuất nhập rau quả. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu một
chặng đường thăng trầm của ngành rau quả, trên đường vươn tới khẳng định
mình với tư cách là một chuyên ngành kinh tế kỹ thuật, có vị trí quan trọng trong
nền kinh tế quốc dân.
Trước ngày thành lập VEGETEXCO ngành rau quả được phân làm 3
khối: Kh
ối sản xuất rau quả (Tổng công ty rau quả TW - Bộ Nông nghiệp
quản lý), khối xuất nhập khẩu (Do các Công ty xuất nhập khẩu rau thuộc Bộ
Ngoại thương đảm nhiệm) và khối chế biến rau quả (Liên hiệp các xí nghiệp
công nghiệp Phủ Quì, do Liên hiệp các xí nghiệp đồ hộp - Bộ Công nghiệp
thực phẩm quản lý).
Điểm nổi bật của ngành rau quả thời kỳ này là: Gắn liề

ả năng phối hợp hỗ trợ thích ứng của cả 3 khu vực. Mặt khác
còn làm cho các bộ phận này có khi mâu thuẫn, cạnh tranh lẫn nhau, gây ảnh
hưởng xấu chung tới lợi ích của toàn ngành.
- Để thu hút vốn đầu tư nhằm phát triển ngành rau quả nếu duy trì hiện
trạng cũ của ngành thì rất khó tạo được sự hấp dẫn với nước ngoài bởi họ phải
làm việc với 3 đối tác. Ng
ược lại. nếu chỉ làm việc đầu tư cho khối sản xuất
rau quả thì họ ngại, bởi xưa nay đầu tư vào nông nghiệp là một việc làm rất
mạo hiểm.
- Trong cả 3 khu vực, sản xuất rau quả giữ vai trò nền tảng. Song trên
thực tế, khu vực này thường phải gánh nhiều thua thiệt, rủi ro nhất do ảnh 6
hưởng của thời tiết, do đặc thù của sản phẩm rau quả là loại thu hoạch theo
thời vụ, khó bảo quản. Bởi vậy, để tăng khối lượng, chủng loại hàng rau quả
xuất khẩu cần thiết phải có chính sách đầu tư, hỗ trợ về mặt tài chính cũng
như thu mua kịp thời về khu vực này. Nhưng nếu ngành bị chia cắt thì khó
thực hiệ
n.
- Nhận thức được những bất hợp lý trên và để mở ra những khả năng để
ngành rau quả thực sự trở thành một chuyên ngành kinh tế kỹ thuật, đủ khả
năng thích ứng với cơ chế thị trường, phát huy được tiềm năng về rau quả
nhiệt đới của đất nước, tháng 2/1988, Chính phủ đã quyết định hợp nhất 3
khối trên về 1 đầ
u mối, đó là Tổng công ty rau quả Việt Nam.

1.2. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN:
1.2.1 Giai đoạn: 1988 - 1990:
Là thời kỳ hoạt động theo cơ chế bao cấp, sản xuất kinh doanh của Tổng

chất lượng sản phẩm và mẫu mã chưa phù hợp dẫn đến chưa đủ sức cạnh
tranh trên thị trường thế giới. Nên khối lượng sản phẩ
m thời kỳ này chỉ đạt
61.712 tấn, bình quân mỗi năm 12.340 tấn.
1.2.3 Giai đoạn 1996 -nay :
Bắt đầu từ năm 1996 Tổng công ty hoạt động với mô hình mới theo
quyết định 90 CP. Trong giai đoạn này Tổng công ty đã xác định phương
hướng hoạt động, từng bước ổn định và phát triển.
Về nông nghiệp hầu hết các nông trường đã được bàn giao về địa phương
quản lý, Tổ
ng công ty chỉ còn lại 4 nông trường. Việc giao khoán vườn cây, đất
của nông trường còn lại cho người lao động vẫn được duy trì và củng cố, diện tích
gieo trồng và sản lượng thu hoạch hàng năm tăng 10 - 12%
Về công nghiệp; Vẫn còn gặp nhiều khó khăn, máy móc thiết bị trong
tình trạng lạc hậu chưa được đổi mới, nguyên liệu cho sản xuất thiếu do vùng
tài liệu chưa quy hoạch tập trung, giá nguyên liệu tăng giả
m thất thường, các
yếu tố đầu vào khác đều tăng giá làm giá thành sản phẩm tăng. Ngoài ra giá
các sản phẩm tương tự trên thị trường quốc tế tiếp tục giảm làm cho khối
lượng sản phẩm công ty đạt mức thấp ( năm 1996 là 9470 tấn, năm 1997 là
11321 tấn).
Về hoạt động xuất nhập khẩu, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ của các n
ước trong khu vực đã gây khó khăn cho hoạt động 8
XNK, biến động tăng tỷ giá đồng USD trong nước đã làm cho khả năng nhập
khẩu bị hạn chế. Kim ngạch trả nợ Nga giảm dần ( năm 91-95 là 40,2%, năm
1997 là 17,4%). Tổng kim ngạch XNK thời kỳ này bình quân mỗi năm là 4,96
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
KẾ TOÁN TÀI
CHÍNH
PHÓ GIÁM ĐỐC I
PHỤ TRÁCH
KINH DOANH
PHÒNG
KẾ TOÁN
TÀI VỤ
PHÒNG
KỸ
THUẬT
CÔNG
NGHỆ
PHÓ GIÁM
ĐỐC II PHỤ
TRÁCH NỘI
CHÍNH

HÀNH
CHÍNH

SẢN
XUẤT
TẠI
NHÀ
MÁY
NÔNG 9
10

A. Hội đồng quản trị (5 người)
Hội đồng quản trị gồm 5 thành viên do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và
phát triển Nông thôn thực hiện chức năng quản lý, giám sát mọi hoạt động
của Tổng công ty, chịu trách nhiệm về sự phát triển của Tổng công ty theo
nhiệm vụ mà Nhà nước giao.
Thành phần:
- Chủ tịch
- Một thành viên kiêm Tổng giám đốc
- Một thành viên kiêm trưởng ban kiểm sát
- Hai chuyên gia giỏi về lĩnh vực hoạt động của Tổng công ty.
Hội đồng quản trị Công ty làm việc theo chế độ tập thể, họp thường kỳ
hàng Quý, ngoài ra có thể có những cuộc họp bất thường để giải quyết những
vấn đề cấp bách của Tổng công ty. Nhiệm kỳ của Hộ

điều kiện cho Tổng Giám đốc nắm bắt, điều chỉnh kế hoạch và triển khai kế
hoạch xuống các b
ộ phận.

B.3. Phòng Tổ chức cơ bản (4 người)
Có chức năng giúp việc, tham mưu cho Tổng Giám đốc thực hiện công
tác tổ chức nhân sự, công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật... trong Tổng công
ty, phụ trách công tác đời sống của cán bộ Tổng công ty, quan hệ đối ngoại,
quản lý chế độ tiền lương, tiền thưởng, an toàn lao động và chế độ bảo hiểm
xã hội theo chế độ, chính sách c
ủa Nhà nước, quản lý chặt chẽ số lượng, chất
lượng cán bộ công nhân viên, hồ sơ lý lịch cáon bộ, công nhân viên, bố trí sắp
xếp các vị trí công tác phù hợp với trình độ năng lực của người lao động.

B.4. Phòng Kinh tế tài chính (12 người)
Có nhiệm vụ lập kế hoạch thu chi tài chính hàng năm dựa trên kế hoạch
sản xuất kinh doanh của Tổng công ty. Theo dõi tài sản cố định và tình hình
sử dụng tài sản c
ố định của Tổng công ty. Phối hợp với Phòng sản xuất kinh
doanh điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh cho phù hợp với tình hình
thực trạng. 12
Quản lý các nguồn vốn, hoạch toán thu chi tài chính, thực hiện tính giá
thành sản phẩm, tham mưu cho Tổng Giám đốc sử dụng các loại nguồn vốn
để phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời kiểm tra tình hình thực hiện kế
hoạch sản xuất kinh doanh, làm công tác chi lương và các chế độ lao động
khác cho cán bộ nhân viên trong Văn phòng Tổng công ty, thanh quyết toán
thu chi tài chính kịp thời, thực hiện chế độ báo cáo tài chính giúp cho Ban

doanh - xuất nhập khẩu trình cấp trên phê duyệt, thường xuyên theo dõi nắm
bắt các thông tin kinh tế trong nước; nghiên cứu thực hiện kinh doanh xuất
nhập khẩu đạt hiệu quả cao, quan hệ tốt với khách hàng, đảm bảo uy tín cho
Tổng công ty, thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu, đặc
biệt chú trọng khâu thanh toán quốc tế.
Các phòng bình đẳng trong việc thự
c hiện nhiệm vụ được giao, có nhiệm
vụ phối hợp, hợp tác với nhau để giải quyết những việc có liên quan. Khi
không thống nhất ý kiến thì kịp thời trình với lãnh đạo phụ trách công việc đó
để giải quyết, không được gây cản trở và chậm trễ công việc khi cần thiết. Đối
với việc có liên quan đến nhiều phòng, Tổng Giám đốc chỉ định phòng chủ trì,
các phòng khác có trách nhiệm phối h
ợp giải quyết.
Các phòng kinh doanh được phân định thị trường như sau:
- Phòng xuất nhập khẩu I: Châu Á trừ Tây Á, các nước Châu Á thuộc
Liên Xô (cũ), úc, cửa khẩu Lạng Sơn.
- Phòng xuất nhập khẩu II: Liên Xô (cũ), Đông Âu
- Phòng xuất nhập khẩu III: Châu Mỹ, Phi, Âu (trừ Đông Âu), Tây Á
- Phòng kinh doanh tổng hợp: Thị trường nội địa, cửa khẩu Móng Cái.
- Phòng kinh doanh dịch vụ tổng hợp: Tất cả các thị trường, cửa
khẩu Lào Cai.
Việc phân định các thị trường chỉ mang tính tương đối, các Phòng khi có
khách hàng ở thị trường khác thì có thể làm trực tiếp nhưng không được chồng
chéo, cạnh tranh lẫn nhau. 3. NHÂN SỰ VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NHÂN SỰ.
Từ khi thành lập, tổng số lao động của Tổng công ty là 37463 người,
đến năm 2002 chỉ còn 5855 người, như vậy đã giảm đi 31608 người (khoảng
84,37%) do nhiều nguyên nhân:

8
16
6
2
6865
22
51
7
13
5,2
1,8
II Chia theo giới tính
- Lao động nam
- Lao động nữ
---
---
---

41,5
58,5

42
58
III Chia theo độ tuổi
- Dưới 30 tuổi
- Từ 31 tuổi đến 45 tuổi
- Trên 45 tuổi
---
---
---
15
4. KHẢ NĂNG TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY.
Năm 1988 tổng số vốn là 49,043 tỷ VNĐ
Năm 1991 tổng số vốn là 109,6 tỷ VNĐ
Năm 2000 tổng số vốn là 163,6 tỷ VNĐ
Năm 2002, tình hình tài chính của công ty như sau: 16
Bảng 2 : Bảng cân đối tài sản của Tổng công ty năm 2002
Đơn vị tính: tỷ VNĐ
Tài sản Nguồn vốn
Vốn lưu động
Vốn cố định
Tài sản cố định
Vốn XDCB
Vốn liên doanh
27,2
136,2
93,6
13,3
29,3
Ngân sách
Vốn tự bổ sung
Vốn vay
71,4
48,6
43,6

trong khi tỷ số nợ trên tổng tài sản nhỏ (27%) thể hiện tình trạng vốn lưu động
là rất nhỏ. Đây là khó khăn rất lớn đối với Tổng công ty. Do hoạt động sản
xuất kinh doanh mang tính thời vụ, cần vốn lưu động rất lớn để mua nguyên
liệu tập trung trong thời gian ngắn ( vì mua của nông dân không đượ
c mua
chịu).
- Tỷ trọng nguồn vốn của Tổng công ty chưa hợp lý, không tập trung
phát triển mạnh vào khâu tiêu thụ sản phẩm nên công ty chưa tận dụng hết
vốn có thể huy động được.
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định và vòng quay toàn bộ vốn của Tổng
công ty tương đối cao, nhưng chỉ tập trung vào một vài nhà máy và các đơn vị
thương mại. Các công ty XNK đã chủ độ
ng mở rộng kinh doanh ra ngoài sản
phẩm của Tổng công ty (năm 99, 2000 sản phẩm của Tổng công ty chỉ còn
chiếm 52,2% kim ngạch XNK) đây là dấu hiệu đáng lo ngại cho sản phẩm
Tổng công ty.
Hiện nay tỷ số về khả năng sinh lời thấp, trong khi tỷ số về hoạt động
khá cao thể hiện tình trạng hoạt động kém hiệu quả. Trong thực tế năm 2001
Tổng công ty có 7 doanh nghiệp thua l
ỗ (chiếm 28%), một số doanh nghiệp
có doanh số cao nhưng chỉ bù đắp cho chi phí, các doanh nghiệp có lãi cao
chủ yếu là các liên doanh nhưng phần hùn vốn của ta thường nhỏ (30%). Do
tình hình như vậy nên việc đầu tư phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào ngân
sách Nhà nước, không chủ động được trong kinh doanh.
Nhập khẩu trực tiếp rau, hoa quả, giống rau quả, thực phẩm, máy móc,
vận tư, thiết bị phương tiện vận tải nguyên vậ
t liệu phục vụ cho các đơn vị
trong và ngoài ngành.
* Các đơn vị thành viên của Tổng công ty: Thực hiện chức năng nghiên
cứu, sản xuất chế biến các sản phẩm Nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu của

6 Khối liên doanh 2 5
7 Phòng ban Tổng công ty 12 5 12
19
Bảng 5: Giá trị kim ngạch xuất khẩu giai đoạn (1997 - 2002) của Tổng
công ty Rau quả Việt Nam
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu
1999 22,9 15,1
2000 21 19,4
2001 20,100 19
2002 22,4 20,610

II. KẾT QUẢ KINH DOANH CHUNG CỦA TỔNG CÔNG TY.

Các Công ty xuất nhập khẩu đều rất chủ động trong việc tìm kiếm thị
trường, linh hoạt trong kinh doanh, thực hiện được chủ trương lãnh đạo của
Tổng Công ty là: Trong cơ chế thị trường khi xuất khẩu gặp khó khăn thì đẩy
mạnh nhập khẩu lấy nhập bù xuất sao cho đạt hiệu quả. Chính vì thế mà trong
thời gian qua tất cả các Công ty đề
u dạt mức tăng trưởng khá, đóng góp vào
thành tích chung của Tổng Công ty như bảng sau:
Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu của các đơn vị thời kỳ 1999−2001.
Kim ngạch xuất khẩu (RCN−USD)
Tỷ trọng %
Đơn vị
1999 2000 2001 1999 2000 2001
Cty XNK RQ1 3.082.665 5.791.858,8 6.649.054 15.63 15,22 16,44

khẩu Tân Bình đã triển khai nhanh chónh tìm kiếm thị trường XNK trực tiếp.
Chính vì thế mà so với năm 2000 và so với kế hoạch bởi các đơn vị trên đã
không còn uỷ thác xuất khẩu qua công ty rau quả III nữa.
Công ty vật tư xuất nhập khẩu cũng đóng góp phần lớn vào tổng kim
ngạch xuất khẩu của Tổ
ng công ty trong giai đoạn này với kim ngạch xuất
nhập khẩu tham gia đạt 23.015.241,6 USD đứng thứ 2 sau công ty xuất nhập
khẩu rau quả III chiếm tỷ trọng 20,09%. Đây cũng là đơn vị có mức tăng
trưởng cao nhất và đều đặn trong 3 năm 1999, 2000, 2001 cụ thể năm 2000
tăng 185,7% so với năm 1999 và năm 2001 tăng 45,5% so với kế hoạch năm
2001 và tăng 38% so với thực hiện năm 2000 góp pơhần xứ
ng đáng vào thực
hiện kế hoạch của Tổng công ty rau quả Việt nam.
Công ty xuất nhập khẩu rau quả I cũng góp phần đáng kể vào kim
ngạch xuất nhập khẩu chung của Tổng công ty với kim ngạch xuất nhập khẩu
là 15.523.577,8 USD đứng thứ 3 sau kim ngạch của Công ty xuất nhập khẩu
rau quả III và Công ty vật tư xuất nhập khẩu chiếm tỷ trọng 13,55%. Điều
đáng nói là kim ngạ
ch xuất nhập khẩu của Công ty XNK rau quả I ngày càng 21
tăng qua các năm. Cụ thể, năm 2000 tăng 87,88% so với năm 1999 và năm
2001tăng 14,8% so với năm 2000.
Văn phòng Tổng Công ty đóng góp cũng không nhỏ, đạt kim ngạch
13.090.056,5 USD chiếm tỷ trọng 11,43% đứng thứ 4 sau 3 đơn vị là Công ty
XNK rau quả III, Công ty vt XNK, Công ty XNK rau quả I.
Công ty thực phẩm xuất khẩu Tân Bình cũng đóng góp một phần không
nhỏ trong tổng kim ngạch XNK của Tổng công ty.


∑ Kim
ngạch
Xuất khẩu
Tỷ trọng
XK(%)
1 Nga Nghìn RCN 7272 7272 100
2 Nhật Nghìn RCN 5815 1742 30
3 Singapore Nghìn RCN 4491 2826 63
4 Hàn Quốc -------- 3977 202 5 23
5 Mỹ -------- 2157 1334 62
STT Thị trường Đơn vị
∑ Kim
ngạch
Xuất khẩu
Tỷ trọng
XK(%)
6 Đài Loan -------- 2093 1161 55
7 Hà Lan -------- 1618 83 5
8 Mông Cổ -------- 1343 1343 100
9 Thuỵ Sĩ -------- 834 368 44
10 Trung Quốc -------- 834 494 59
11 Italia -------- 705 244 35
12 Thái Lan -------- 636 17 3
13 Pháp -------- 570 218 38
14 Hồng Kông -------- 541 445 82
15 Đức -------- 522 291 54
Những thị trường có kim ngạch XNK trên 500.000 USD với tổng kim


Nhìn vào bảng trên ta thấy rõ sự biến động về cơ cấu thị trường nói
chung và thị trường xuất khẩu của Tổng công ty nói riêng. Nếu như những
năm trước 19994 Tổng công ty chỉ biết những thị trường ở các nước XHCN
chưa xuất khẩu sang Tây Âu, Nhật Bản thì đến nay đã có sự thay đổi.
Thị trường Nga vẫn là thị trường lớn nhất và tương đối
ổn định trong
những năm qua. Tuy nhiên tỷ trọng % giá trị hàng xuất khẩu sang thị trường
này cũng đang giảm dần trong những năm gần đây. Năm 2000 là 37,03%
xuống còn 22,53% vào năm 2002. Thị trường các nước Đông Âu cũng không
ổn định năm 2000 chiếm tỷ lệ 4,04% xuống còn 2,73% năm 2002. Như vậy là
quy mô thị trường truyền thống giảm dần trong thời gian qua do nền kinh tế
Nga gặp nhiều khó kh
ăn và điều đó ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu của
Tổng công ty. Thay vào đó là sự tăng lên của thị trường các nước ASEAN,
Nhật, Mỹ, Tây Âu.
Thị trường các nước ASEAN với tỷ lệ % giá trị hàng xuất khẩu dứng
thứ 2 sau thị trường Nga nhưng cũng không ổn định trong những năm gần
đây, năm 2000 là 16,39% năm 2001 là 18,36% và năm 2002 là 13,95%.

Trích đoạn Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status