-QUẢN LÝ NHÓM-
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
I.HÌNH THÀNH NHÓM 5
1. Khái niệm nhóm: 5
2. Phân loại nhóm: 5
2.1 Các nhóm chính thức : 6
2.2 Nhóm không chính thức : 7
2.3 Nhiệm vụ và đặc điểm của hình thức nhóm: 8
2.4. So sánh nhóm chính thức và nhóm không chính thức 10
2.5 Cách thức nhóm hoạt động: 11
II.NHỮNG YẾU TỐ ĐẦU VÀO CỦA QUÁ TRÌNH LÀM VIỆC NHÓM 12
1. Kết cấu nhóm: 12
1.1 Tiềm năng đặc trưng của các thành viên: 12
1.2 Thu hút các thành viên gia nhập nhóm: 17
2. Vai trò của các thành viên: 20
2.1 Vai trò nghiệp vụ nhóm: 21
2.2 Vai trò duy trì nhóm: 22
2.3 Vai trò tự định hướng: 23
3. Quy mô nhóm: 25
3.1 Quy mô nhóm và sự tương tác: 25
3.2 Quy mô nhóm và hiệu suất: 25
3.3 Tại sao hiệu suất nhóm ổn định và thậm chí giảm kể cả khi kích thước tăng lên? 26
4.Vai trò của người lãnh đạo: 27
Nhóm 6 Đêm 6 – Cao học Khóa 20 Trang 1
-QUẢN LÝ NHÓM-
III.QUÁ TRÌNH LÀM VIỆC NHÓM 31
1.Chuẩn mực làm việc của nhóm: 31
1.1 Các tuyên bố công khai : 32
1.2 Các sự kiện quan trọng : 32
2.1 Buổi gặp mặt đầu tiên 55
2.2 Các buổi họp nhóm tiếp theo: 55
2.3 Một số lưu ý khi tiến hành họp và thảo luận một vấn đề: 56
Nhóm 6 Đêm 6 – Cao học Khóa 20 Trang 3
-QUẢN LÝ NHÓM-
LỜI MỞ ĐẦU
àm việc theo nhóm là một xu thế làm việc rất phát triển
và hiệu quả trong các doanh nghiệp hiện nay. Đối với
người Việt trẻ, từ "team work" hay "work in group" đã
được nói đến nhiều nhưng hình như nó vẫn chỉ được "nghe nói" chứ chúng ta
chưa thực hiện nó đúng nghĩa. Họ ít khi thành công trong những dự án làm việc
theo nhóm và nhận được sự hỗ trợ của nhiều thành viên, nhiều bộ phận chuyên
biệt trong công ty.
L
Những hiểu biết từ việc thành lập nhóm, tạo văn hóa cho nhóm cho đến đối đầu
với những mâu thuẫn và thay đổi trong nhóm là một điều rất cần thiết cho mọi
người và các nhà quản lý Việt Nam. Hầu hết mọi người đều nhận thức được lợi
ích của làm việc nhóm tuy nhiên lại không chú tâm đầy đủ các yếu tố quan trọng
trong quá trình làm việc nhóm, phương pháp và cách thức để xây dựng một
nhóm làm việc hiệu quả nhất. Thông qua bài tiểu luận về “Quản lý nhóm”,
Nhóm 6 sẽ đề cập thông qua những nội dung cơ bản sau:
1. Hình thành nhóm
2. Các yếu tố cơ bản của quá trình làm việc nhóm
3. Quá trình làm việc nhóm
4. Nhóm đặc nhiệm
5. Ứng dụng thực tiễn
Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy và các bạn lớp Đêm 6 – K20.
Chân thành cám ơn!
Nhóm 6 Đêm 6 – Cao học Khóa 20 Trang 4
-QUẢN LÝ NHÓM-
Nhóm
nhiệm vụ
Nhóm bạn
bè
Nhóm sở
thích
-QUẢN LÝ NHÓM-
2.1 Các nhóm chính thức :
Các nhóm chính thức là những nhóm đã được xác định bởi một cơ cấu tổ chức
chính thức nào đó cho một mục đích riêng. Các nhóm loại này người ta thường
xác định các công việc một cách rõ ràng và phân chúng thành những thao tác
được chính thức hóa. Trong nhóm chính thức thì hành vi của các thành viên sẽ
được đính ước và được quy định trực tiếp theo hướng những mục đích của tổ
chức.
Nhóm chính thức bao gồm: nhóm điều khiển và nhóm theo nhiệm vụ công việc:
+ Nhóm điều khiển được quy định bởi sơ đồ tổ chức. Nó được bao gồm từ những
người dưới quyền phải báo cáo trực tiếp cho người quản lý đã được quy định.
Một ông cửa hàng trưởng của một cửa hàng và 12 nhân viên bán hàng của ông ta
hợp thành một nhóm điều khiển.
+ Nhóm nhiệm vụ: là nhóm những người cùng làm việc với nhau để hoàn thành
một nhiệm vụ công việc. Điểm đặc thù trong sự hình thành của nhóm này là
không bị hạn chế bởi ranh giới tổ chức chính thức và không bị hạn chế đối với
những người là cấp trên theo thứ bậc trực tiếp của nó. Nó có thể xuyên qua mối
quan hệ điều khiển. Ví dụ, chẳng hạn, khi một sinh viên của một trường đại học
bị kết tội vi phạm quy chế ký túc xá, lúc này có thể đòi hỏi việc thông tin và phối
hợp giữa những người như: Chủ nhiệm khoa cùng giáo viên chủ nhiệm lớp anh ta
học, cán bộ phòng công tác chính trị sinh viên, phụ trách bảo vệ và vị cố vấn đỡ
đầu của sinh viên. Như trong ví dụ này, một hệ thống tổ chức sẽ hình thành một
nhóm theo nhiệm vụ. Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng tất cả các nhóm điều
khiển cũng chính là các nhóm theo nhiệm vụ; tuy nhiên bởi vì nhóm theo nhiệm
một đội bóng, cùng giống nhau về quan điểm chính trị, cùng quê hương, cùng họ,
cùng đi học ở nước ngoài về v.v…
Các hình thức thể hiện của nhóm làm việc không chính thức:
• Nhóm theo dự án tạm thời cùng làm việc với nhau để thực hiện một nhiệm
vụ cụ thể;
• Nhóm tạo ra sự thay đổi thảo luận chiến lược hoặc xử lý sự cố khi một
vấn đề cụ thể xảy ra chỉ một lần;
Nhóm 6 Đêm 6 – Cao học Khóa 20 Trang 7
-QUẢN LÝ NHÓM-
• Nhóm “nóng” thảo luận lấy ý kiến đối với những đề án đòi hỏi có sự sáng
tạo nhưng vẫn đảm bảo được tính độc lập và dự do phát biểu trong thảo luận;
• Nhóm công tác tạm thời giải quyết không chính thức những vấn đề và
công việc cụ thể trong thời gian ngắn.
2.3 Nhiệm vụ và đặc điểm của hình thức nhóm:
HÌNH THỨC NHÓM NHIỆM VỤ VÀ ĐẶC ĐIỂM
NHÓM ĐIỀU HÀNH
Nhóm đa chức năng do một
nhóm trưởng điều hành. Các
thành viên được chọn theo vai
trò, chẳng hạn như giám đốc tài
chính
- Quản lý các hoạt động hàng ngày của một tổ
chức hoặc của một bộ phận. Thường xuyên có
những cuộc họp theo chương trình hoặc theo
báo cáo.
- Căn cứ thông tin của các bộ phận cấp dưới.
Nếu việc kiểm tra biểu hiện yếu kém, nên tổ
chức cuộc họp để giải quyết các tranh chấp cá
nhân.
NHÓM ĐA CHỨC NĂNG
thống thông tin, hành chính và
bố trí nhân sự.
- Phụ thuộc vào quy trình làm việc, đưa ra
phạm vi nâng cao năng suất theo cách làm
việc nhóm, có khuynh hướng cục bộ.
NHÓM DỰ ÁN
Một nhóm gồm những người
được tuyển chọn và làm việc với
nhau trong thời hạn của một dự
án, chẳng hạn xây dựng một
công trình mới.
- Yêu cầu có nhiều tiểu nhóm và công việc
được chia nhỏ, lập kế hoạch chi tiết và kỷ luật
làm việc nghiêm.
- Phụ thuộc vào hiểu biết gần gũi giữa các
thành viên và làm việc được tổ chức tốt.
NHÓM TẠO RA SỰ THAY
ĐỔI
Một nhóm gồm các chuyên gia
có nhiệm vụ tạo ra sự thay đổi.
Giá trị công việc phụ thuộc vào
khả năng của tập thể nhóm. Đôi
khi công việc này không thuộc
sở trường của nhóm
- Tạo ảnh hưởng văn hóa công ty để cải thiện
căn bản các kết quả thông qua ứng dụng các
phương pháp mới.
- Lãnh đạo bởi những người tin tưởng vào sự
thay đổi và cống hiến nhiều cho tổ chức.
NHÓM “NÓNG”
của nhóm không chính thức có thể được đưa ra không thường xuyên.Tuy nhiên,
điều quan trọng cần lưu ý là các nhóm phải luôn hướng đến những kết quả, cho
dù nhóm đó là chính thức hay không chính thức. Ví dụ, do đặc thù tính chất của
nhóm “nóng” là sự tạm thời, không thường xuyên, việc thảo luận một đề án
không phải là lý do để làm mất đi nguyên tắc chung của nhóm.
Nhóm 6 Đêm 6 – Cao học Khóa 20 Trang 10
-QUẢN LÝ NHÓM-
2.5 Cách thức nhóm hoạt động:
Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của nhóm chính thức. Từ việc phân tích những điều này, nó giúp ích trong việc
xem các nhóm như một hệ thống trong đó sử dụng các yếu tố đầu vào, tiến trình thực hiện, và kết quả đầu ra. Hình 2.4 liệt kê
một số yếu tố có ích trong việc hiểu được sự tương tác qua lại của nhóm và kết quả đầu ra.Chúng được nhóm lại thành các loại
đầu vào, quá trình và kết quả.Lưu ý là kết quả quan trọng không phải chỉ đơn giản là các thước đo nhóm về hiệu suất như số
lượng, chất lượng và chi phí, mà còn là sự thỏa mãn của thành viên. Hơn thế nữa, trong những nhóm làm việc hiệu quả, làm việc
nhóm làm tăng hiệu quả hoạt động và sự chuẩn bị của các thành viên khi làm việc lại với nhau.
Hình 2 : Mô hình hành vi nhóm
Nhóm 6 Đêm 6 – Cao học Khóa 20 Trang 11
MÔI TRƯỜNG
(ENVIRONMENT)
MÔI TRƯỜNG
(ENVIRONMENT)
Bộ máy tổ chức
Nguồn lực tổ
chức
Chiến lược tổ
chức
Hệ thống đánh
giá khen
thưởng
Lãnh đạo
nhóm
Sự gắn kết
trong nhóm
Sự phát triển
nhóm
-QUẢN LÝ NHÓM-
II. NHỮNG YẾU TỐ ĐẦU VÀO CỦA QUÁ TRÌNH LÀM VIỆC
NHÓM
1. Kết cấu nhóm:
Thành phần nhóm chính là yếu tố quan trọng đầu tiên mà người quản lý cần quan
tâm, khi xem xét lựa chọn thành viên cho nhóm làm việc, cần quan tâm đến 2
yếu tố sau: Tiềm năng đặc trưng của các thành viên và Lý do thu hút các
thành viên gia nhập nhóm
1.1 Tiềm năng đặc trưng của các thành viên:
Kết quả làm việc của mỗi nhóm phụ thuộc rất nhiều vào tiềm năng của các thành
viên tham gia vào nhóm đó. Những nguồn tiềm năng cơ bản của các thành viên
tham gia nhóm thể hiện ở: khả năng và những đặc tính về nhân cách của các
thành viên.
- Khả năng các thành viên: khả năng thực hiện công việc của cả nhóm
không đơn thuần là tổng khả năng của các thành viên riêng lẻ. Ví dụ trong bài
báo về một đội thể thao gồm những vận động viên cỡ trung bình nhưng được
luyện tập và huấn luyện kỹ càng, dưới sự dẫn dắt của một huấn luyện viên tài
năng, có ý chí và quyết tâm cao, có sự hợp tác ăn ý chính xác lại chơi hơn hẳn
một đội của các ngôi sao. Những trường hợp tương tự như thế đã làm nên “điều
kỳ diệu”. Điều căn bản ở đây không phải là khả năng tuyệt vời của mỗi thành
viên hay họ là những người khác thường. Cái chính là họ đã hợp tác làm việc ăn
ý với nhau trong một nhóm có tổ chức chặt chẽ. Thực tế luôn chỉ ra rằng, những
khả năng riêng lẻ của nhiều người trong một nhóm nếu được hòa trộn, phối hợp,
bổ khuyết cho nhau một cách hợp lý sẽ mang lại kết quả và hiệu quả thực hiện
công việc của cả nhóm và của mỗi cá nhân cao hơn nhiều.
- Thực hiện tốt những vấn đề
mang tính phức tạp, sự đa dạng
của các thành viên trong nhóm
sẽ rất có lợi như: tính cách, giới
tính, văn hóa, dân tộc, thái độ,
nền tảng và kinh nghiệm.
- Sáng tạo nhiều
NHƯỢC
ĐIỂM
- Hạn chế ý tưởng mới, ít sáng
tạo.
- Khó thực hiện những vấn đề
- Xung đột nhiều
- Phát triển nhóm chậm
- Khó khăn trong việc phối hợp
Nhóm 6 Đêm 6 – Cao học Khóa 20 Trang 13
-QUẢN LÝ NHÓM-
mang tính phức tạp. các thành viên trong nhóm.
- Khó đạt được sự thỏa mãn cao
Nhóm 6 Đêm 6 – Cao học Khóa 20 Trang 14
-QUẢN LÝ NHÓM-
Một nghiên cứu về văn hóa giữa nhóm có văn hóa đồng nhất so với các nhóm có
văn hóa khác nhau (khác về quốc tịch và nguồn gốc dân tộc) cho thấy nhóm văn
hóa đa dạng hoạt động kém lúc ban đầu, nhưng theo thời gian thực hiện tốt hơn
so với những nhóm có văn hóa đồng nhất trong việc đánh giá và giải quyết các
tình huống kinh doanh.
Nhà quản lý phải nhận ra rằng họ cần kiên nhẫn để được hưởng lợi từ sự đa dạng
của nhóm. Những khó khăn mà nhà quản lý có thể gặp khi điều hành một nhóm
đa văn hóa:
- Khác biệt trong giao tiếp trực tiếp và không trực tiếp giữa các nền văn hoá có
chia thành nhiều Đội nhỏ hoặc các thành viên cảm thấy tự hào, bảo thủ, hoặc khó
chịu với những rập khuôn mang tính bị động. Tuy nhiên kỹ thuật phân tổ cũng có
rủi ro. Dù vì lý do này hay lý do khác, kỹ thuật này cũng giúp những người vốn
không hợp tác được với nhau tránh phải mâu thuẫn thường xuyên, nhưng dù sớm
hay muộn, thành quả của các tổ cũng phải được tập hợp lại. Do vậy, để thực hiện
kỹ thuật phân tổ thành công, người quản lý nhóm phải là người biết cách lắp các
miếng “bánh” sao cho hợp lý để nhóm đạt được mục tiêu đề ra.
c. Chiến lược can thiệp quản trị: Ngay từ đầu đã đặt ra các quy tắc hoặc
chuyển vấn đề mâu thuẫn đến quản lý cấp cao hơn
Khi người quản lý đóng vai trò như một quan toà hay thẩm phán, là người đưa ra
các quyết định cuối cùng, thì hẳn sẽ rất khó tìm hiểu tại sao hiệu quả làm việc
của nhóm lại đi vào bế tắc. Tuy nhiên, vẫn có cách để thoát khỏi vấn đề này, đó
là sử dụng sự can thiệp bằng quản trị. Can thiệp bằng quản trị bằng cách đặt ra
những tiêu chuẩn, quy định ngay từ đầu thành lập nhóm cũng là một cách giúp
Nhóm làm việc hiệu quả.
Nhóm 6 Đêm 6 – Cao học Khóa 20 Trang 16
-QUẢN LÝ NHÓM-
d. Chiến lược thuyên chuyển: Chuyển một thành viên trong nhóm sang làm việc
khác khi thấy đó là lựa chọn cần
Đối với những Nhóm được thành lập chỉ phục vụ cho dự án , chúng ta có thể áp
dụng phương pháp này. Trong quá trình thực hiện dự án, nếu có thành viên nào
cảm thấy không hài lòng, anh ta có quyền rút lui. Đối với các nhóm thực hiện
công việc thường trực như nhóm sản xuất sản phẩm hay dịch vụ khách hàng thì
việc rút thành viên ra khỏi nhóm là biện pháp cuối cùng, khi những phương pháp
giải quyết vấn đề khác thất bại.
1.2 Thu hút các thành viên gia nhập nhóm:
a. Các yếu tố thu hút các cá nhân vào nhóm:
Một sự cân nhắc khác đối với nhóm đó là sự thu hút các thành viên tiềm năng.
Tại sao các cá nhân tham gia vào nhóm? Không có một lý do đơn giản về sự gia
nhập nhóm của một cá nhân. Một cá nhân có thể và thường tham gia nhiều nhóm.
Trong xã hội chúng ta có rất nhiều người giàu có nhưng họ không từ bỏ công
việc bình thường với mức lương có thể thấp vì họ thích mối quan hệ với những
người đang làm việc. Nhóm có thể thỏa mãn các nhu cầu xã hội của cá nhân. Con
người sẽ thỏa mãn với các tương tác khi họ là thành viên của nhóm. Bạn sẽ
không ngạc nhiên khi thấy phần lớn bạn bè của mình là những người cùng làm
việc.
Yếu tố quyền lực và sức mạnh:
Những điều mà các nhân không thể đạt tới khi đứng một mình thì lại có thể đạt
được thông qua các hoạt động của nhóm. “Đoàn kết là sức mạnh” là điều mà mỗi
chúng ta điều hiểu rất rõ. Bằng việc gia nhập nhóm, cá nhân không chỉ tạo ra sức
mạnh để bảo vệ mình mà còn tạo ra sức mạnh trong công việc đòi hỏi người
khác. Rõ ràng người lao động gia nhập công đoàn là để bảo vệ mình tốt hơn, và
kiến nghị về cải thiện môi trường làm việc nếu được đưa ra bởi một cá nhân có
thể không được quan tâm song nếu nó được đưa ra bởi một nhóm sẽ được lắng
nghe và giải quyết bởi cấp quản lý.
Yếu tố đạt mục tiêu:
Nhóm 6 Đêm 6 – Cao học Khóa 20 Trang 18
-QUẢN LÝ NHÓM-
Sự phát triển sản xuất đã dẫn tới việc chuyên môn hóa các hoạt động và điều này
dẫn tới đòi hỏi của sự hợp tác. Dù tài giỏi đến đâu con người ta nhiều khi vẫn cần
phải hợp thành nhóm để chung sức chung lòng giải quyết những vấn đề mà mỗi
cá nhân không làm nổi hay không hiểu quả bằng. Nói một cách khác nhóm theo
nhiệm vụ đã được thành lập để đạt mục tiêu, mà việc thực hiện mục tiêu này sẽ
khó khăn hơn rất nhiều nếu được theo đuổi đơn thuần bởi mỗi cá nhân. Khi hợp
thành nhóm thích hợp các cá nhân có khả năng phối hợp với nhau phát huy tài
năng, hiểu biết, sức lực, trí tuệ, kinh nghiệm, để thực hiện được những nhiệm
vụ phức tạp hay đạt được mục tiêu khó khăn một cách nhanh chóng. Trong
những tình huống như thế, ban lãnh đạo sẽ dựa vào việc sử dụng nhóm chính
thức là chủ yếu.
b. Lý do phụ thuộc vào nhóm:
cơ chế phòng vệ).
2. Vai trò của các thành viên:
Vai trò là hệ thống khuôn mẫu hành vi quen thuộc mà một cá nhân phát triển để
phục vụ cho nhóm và cho kỳ vọng của chính mình. Đó là quy tắc về hành vi mà
cá nhân đó chấp hành.
Song song vai trò có vị trí: vị trí lãnh đạo hay vị trí một thành viên bình thường,
chỉ biết tuân thủ theo tôn ti trật tự. Có nhóm thì mọi nhóm viên đều có vị trí như
nhau (trường hợp nhóm trưởng thành, ai cũng có thể là người lãnh đạo). Theo
thời gian hoạt động ở nhóm, các thành viên phát triển dần các vai trò khác nhau.
Mỗi cá nhân trong nhóm đều có nhiều vai trò được thể hiện. Nhóm hoạt động
hiệu quả khi các thành viên biết linh hoạt điều chỉnh vai trò đương đầu với những
bất trắc xảy ra nhờ vào khả năng thích ứng của họ. Khả năng thích ứng chính là
sản phẩm của sự tăng cường và phát triển. Sự chấp nhận thay đổi là thực chất của
sự thích ứng.
Nhóm 6 Đêm 6 – Cao học Khóa 20 Trang 20
-QUẢN LÝ NHÓM-
Các vai trò được thể hiện do nhu cầu, nhân cách, có khi tĩnh, có khi động tùy
theo đặc điểm của từng nhóm, tùy theo tình huống khác nhau.Vai trò của các
nhóm thường rơi vào ba loại: nghiệp vụ, duy trì và vai trò tự định hướng. Chúng
ta có thể phân biệt hai loại vai trò: vai trò hỗ trợ và vai trò cản trở, nhưng cũng
cần lưu ý là có những vai trò trong tình huống này là hỗ trợ nhưng trong tình
huống khác lại là cản trở. Vai trò không luôn ở thế tĩnh và có thể thay đổi theo
thời gian. Một nhóm được gọi là năng động hay không tùy thuộc vào mức độ có
hay không sự chuyển dịch về vai trò và vị trí của từng nhóm viên và sự chuyển
dịch này có hay không lại thuộc về khả năng của người lãnh đạo.
2.1 Vai trò nghiệp vụ nhóm:
Giúp các nhóm phát triển và hoàn thành mục đích.
Nhóm 6 Đêm 6 – Cao học Khóa 20 Trang 21
-QUẢN LÝ NHÓM-
Người khởi xướng - đóng góp: Đưa ra các mục tiêu, nhiệm vụ cho thấy cách
tương đối thụ động.
2.3 Vai trò tự định hướng:
Liên quan đến nhu cầucá nhân của các thành viên trong nhóm và có thể ảnh
hưởng tiêu cực đến hiệu quả của nhóm.
Người tấn công, gây hấn: làm giảm sự đóng gópcủa người khác bằng cách tấn
côngý tưởng của họ, chế nhạo cảm xúc và biểu hiện khả năng cạnh tranh quá
mức.
Người cản trở, thiết lập quan điểm riêng: Có xu hướng tiêu cực, bướng bỉnhvà
cản trở những ý tưởng mới, đôi khi buộc nhóm phải tranh luận thảo luận lại một
quan điểm đã đượcxử lý.
Người tìm kiếm sự công nhận,cạnh tranh: tìm kiếm sự chú ý, tự hào về những
thành tíchvà năng lực, để ngăn chặn vị trí thấp kém trong nhóm.
Người thích kiểm soát :Cố gắng khẳng định sự kiểm soát và điều khiển nhóm
hoặc thành viên trong nhóm nhất định bằng cách nịnh hót, ra lệnh hoặc làm gián
đoạn những người khác.
Các vai trò nêu trên không tự chúng hỗ trợ hay cản trở từ nguồn gốc. Một vai trò
có thể là hỗ trợ hay cản trở tùy thuộc vào tình huống. Mỗi người chúng ta đảm
nhận nhiều vai trò khác nhau trong những tình huống khác nhau, miễn sao đừng
cố định thường xuyên ở một hay hai vai trò nào đó. Sự nhận thức đúng về các vai
trò này sẽ giúp chúng ta một cách thiết thực nâng cao hiệu lực của mình trong
nhóm. Nhóm các nhà lãnh đạo có thể gánh vác nhiều nhiệm vụ vai trò. Ngoài ra,
họ có thể sử dụng một số vai trò duy trì để giúp nhóm tiến bộ. Tuy nhiên, một
lãnh đạo không thể gánh vác tất cả các công việc cần thiết và hành vi duy trì mà
không có sự hỗ trợ từ những người khác trong nhóm.
Trong quá trình hoạt động của nhóm, sự tương tác giúp cho thành viên bộc lộ,
hiểu nhau và thu hút nhau nếu có những điểm tương đồng, tạo thành nhóm nhỏ
trong nhóm nhỏ và có người lãnh đạo ngầm (cơ cấu phi chính thức) song song
với lãnh đạo chính thức của nhóm (cơ cấu chính thức). Một số thành viên có thể
Nhóm 6 Đêm 6 – Cao học Khóa 20 Trang 23
-QUẢN LÝ NHÓM-