1
Chợ nông thôn - một không gian công cộng cho
sự hình thành dư luận xã hội (Nghiên cứu
trường hợp chợ Mai Trang và chợ Mộc, huyện
Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An)
Nguyễn Thị Bích Thủy
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Xã hội học
Chuyên ngành: Xã hội học; Mã số: 60 31 30
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Quý Thanh
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Tìm hiểu cơ cấu, thành phần của người dân tham gia vào các cuộc thảo luận.
Xác định được những chủ đề được người dân quan tâm chú ý và đem ra thảo luận. Đưa
ra nguồn thông tin của những chủ đề trên. Tìm hiểu con đường lan truyền thông tin từ
cá nhân này đến cá nhân khác trong quá trình thảo luận ở chợ.
Keywords. Xã hội học; Chợ nông thôn; Dư luận xã hội; Giao tiếp xã hội; Nghệ An
Content.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Không gian công cộng (public space) là nơi chốn mà mọi người có thể tự do thoải
mái đến đó không phân biệt giới tính, độ tuổi, học vấn, dân tộc, mức sống. Ở đó công
chúng có thể tự do bàn luận những vấn đề xã hội hay riêng tư mà họ quan tâm. Nói cách
khác các không gian công cộng có thể được xem như là “c v chung cho
nhu cu ca nhii s dng vi
i vc hay hong ca
mng ti nh
nhà nghiên cứu về DLXH, các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng
của chợ nông thôn trong việc tạo môi trường cho sự giao tiếp, thảo luận, trao đổi thông
tin để từ đó hình thành nên những luồng ý kiến thống nhất về một vấn đề chung;
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm hiểu thành phần người dân tham gia vào quá trình trao đổi,
thảo luận ở chợ nông thôn; các vấn đề mà người dân quan tâm, thảo luận; nguồn thông
tin cho các thảo luận; tác động của truyền thông đại chúng đối với quá trình hình thành
DLXH. Đặc biệt, nghiên cứu nhằm tìm hiểu mô hình, con đường lan truyền của một số
vấn đề xã hội cụ thể giữa các cá nhân thông qua giao tiếp, thảo luận tại chợ tạo thành ý
kiến chung và tạo cơ sở hình thành nên DLXH.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ cấu, thành phần của người dân tham gia vào các cuộc thảo luận.
- Xác định được những chủ đề được người dân quan tâm chú ý và đem ra thảo
luận.
- Đưa ra nguồn thông tin của những chủ đề trên.
- Tìm hiểu con đường lan truyền thông tin từ cá nhân này đến cá nhân khác trong
quá trình thảo luận ở chợ.
4. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Sự hình thành Dư luận xã hội ở nông thôn thông qua
không gian công cộng là chợ nông thôn
4.2. Khách thể nghiên cứu:
+ Những người kinh doanh ở chợ.
+ Những người mua hàng, sử dụng dịch vụ ở chợ.
3
+ Nhóm cán bộ quản lý chợ.
4.3. Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: nghiên cứu tại chợ Mai Trang và chợ Mộc của huyện Nghi Lộc,
tỉnh Nghệ An.
+ Thời gian: từ tháng 05/2011 đến tháng 04/2012.
Các loại quan sát được sử dụng trong nghiên cứu:
- Quan sát thành phần của những người tham gia thảo luận ở chợ.
- Quan sát cách thức trao đổi bàn bạc, thái độ của người dân khi thảo luận.
- Quan sát quá trình trao đổi, thảo luận, chuyển tải thông tin về một vấn đề xã hội
từ cá nhân này sang cá nhân khác. 4
7.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Đây là phương pháp chủ yếu, quan trọng nhất của nghiên cứu. Tác giả tiến hành
điều tra, thu thập thông tin bằng đề cương các nội dung cần thu thập với mẫu thuận tiện.
Tiến hành phỏng vấn 40 trường hợp gồm:
- Những người kinh doanh ở chợ:
Chợ Mai Trang: 6 người; Chợ Mộc: 8 người.
- Những người mua hàng, sử dụng dịch vụ ở chợ
Chợ Mai Trang: 13 người; Chợ Mộc: 11 người.
- Những người trông xe, cán bộ quản lý chợ
Chợ Mai Trang: 1 người; Chợ Mộc: 1 người.
Cơ cấu giới tính của mẫu định tính:
- Chợ Mai Trang: 4 nam; 16 nữ
- Chợ Mộc : 3 nam; 17 nữ.
7.4. Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
Những thông tin thu thập được từ phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
mang tính định lượng sẽ bổ sung bằng chứng cho việc chứng minh những luận điểm của
đề tài. Số người được hỏi: 120 người (60 trường hợp ở xã Nghi Xuân, 60 trường hợp ở
xã Nghi Thái). Mẫu bảng hỏi được trình bày trong mục Phụ lục.
Cơ cấu mẫu khảo sát định lượng (đơn vị tính: %)
Chợ Mai Trang
Chợ Mộc
Trên trung học phổ thông
20,0
11,7
Tình trạng hôn nhân
Hiện có vợ/chồng
85,0
95,0
Hiện không có vợ/chồng
15,0
5,0
Nghề nghiệp
Công nhân và thợ thủ công
5,0
8,3
Nông dân
26,7
26,7
Công chức và viên chức
18,3
5,0
Buôn bán và dịch vụ
40,0
48,3
Lao động tự do
3,3
3,3
5
Nội trợ
6,7
8,3
cũ vẫn tồn tại và cường độ được tăng cường, mặt khác, xuất hiện DLXH mới về cách
thức giải quyết [32, tr.191-192].
ng
Không gian công cộng là không gian phục vụ chung cho nhu cầu của nhiều
người. Có hai thể loại không gian công cộng chính:
- Không gian “vật thể” ví dụ như quảng trường, đường phố, công viên;
- Không gian “phi vật thể” ví dụ như các diễn đàn trên Internet, hay các cuộc đối
thoại tranh luận trên báo chí, tivi.
Sự hình thành, phát triển, và thay đổi của không gian công cộng phụ thuộc vào sự
phát triển và đặc điểm của đời sống công cộng, vốn không giống nhau giữa các nền văn
hóa khác nhau và ở các thời điểm khác nhau [43].
6
1.1.1.5. Ch
- Chợ là “nơi gặp nhau giữa cung và cầu các hàng hoá, dịch vụ, vốn; là nơi tập
trung hoạt động mua bán hàng hoá giữa người sản xuất, người buôn bán và người tiêu
dùng. Quy mô, tính chất của chợ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế. Chợ có vai trò
chủ yếu là nơi tiêu thụ hàng hoá, đồng thời cũng có ảnh hưởng kích thích ngược lại đối
với sản xuất. Quy mô và tính chất của chợ rất đa dạng: có chợ nông thôn tự sản tự tiêu,
có loại chợ mang tính chất khu vực hay một vùng rộng lớn. Thông thường, mặt hàng
mua bán ở chợ rất phong phú, nhiều loại. Nhưng cũng có chợ chỉ mua bán những mặt
hàng nhất định như chợ trâu bò, chợ gạo, chợ vải, Tuỳ theo điều kiện, địa điểm và nhu
cầu, Chợ có thể họp hằng ngày, nhưng cũng có chợ chỉ họp theo phiên nhất định trong
tháng, có chợ một năm chỉ họp mấy ngày Tết. Vì vậy, có thể xem chợ là sự phản ánh
trình độ phát triển và nếp sống kinh tế - xã hội của một địa phương” [36, tr.486].
- Chợ nông thôn là chợ xã của các huyện và ở khu vực ngoại thành, ngoại thị [18,
tr.1].
1.1.2. Chợ nông thôn dƣới góc nhìn từ lý thuyết về lĩnh vực công cộng của Jürgen
Habermas
Jürgen Habermas (sinh 18/06/1929) là một nhà xã hội học và triết học người Đức.
Ông được biết đến với nghiên cứu khái niệm lĩnh vực công cộng trong tác phẩm The
theo hướng khoa học xã hội rất ít. Trước tiên, phải kể đến nghiên cứu của Nguyễn Quý
Thanh – Trịnh Ngọc Hà với đề tài: “
ng hi”. Nghiên cứu này tập trung vào sự hình
thành DLXH thông qua không gian bán công cộng là quán cà phê.
Nghiên cứu của Mai Văn Hai – Nguyễn Hồng Giang với đề tài: “
m Hi g”
(Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội). Qua việc khảo
sát ở khu đô thị mới Văn Quán, Hà Nội đề tài đã mô tả thực trạng của việc xây dựng, sử
dụng cũng như tâm tư, nguyện vọng của cư dân đối với không gian công cộng trong các
khu cư trú của họ.
Những nghiên cứu của ngành xây dựng, kiến trúc về không gian công cộng có thể
kể đến nghiên cứu của Phạm Trọng Thuật (2002): “T chng trong
ti”, luận án tiến sĩ kiến trúc, trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.
Trên cơ sở khảo sát thực tế, luận án đã xác định thực trạng cụ thể của hệ thống không
gian công cộng tại đơn vị xây dựng có quy hoạch từ trước đến nay.
- Nghiên cứu về sự hình thành DLXH
Đề tài nghiên cứu cấp viện năm 2008 của Viện Xã hội học trực thuộc Viện Khoa
học Xã hội Việt Nam do Trần Cao Sơn làm chủ nhiệm: “
hi ” (trường hợp Tân Hồng – Phù Lưu, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
Nghiên cứu DLXH nông thôn để nhận biết suy nghĩ, nguyện vọng, quan điểm của người
nông dân là khâu không thể thiếu trong xây dựng chính sách. [29].
Đề tài nghiên cứu khoa học do Nguyễn Đình Tấn làm chủ biên “
u tra DLXH v ct c c Lc” đã đưa ra
những ý kiến, đánh giá của người dân với các thủ tục hành chính. Cụ thể là sự phản ánh,
nhận xét của người dân về thái độ và hành vi của các cán bộ hành chính trong quá trình
tiếp dân để giải quyết các thủ tục hành chính [30].
Đề tài của Trần Thị Hồng Thúy –Ngọ Văn Nhân làm chủ nhiệm: “ng ca
i vt c c” đã
phân tích thực trạng, tác động của DLXH đối với ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ
cấp xã, bao gồm tác động tích cực và tiêu cực và các giải pháp sử dụng DLXH để nâng
Hiện tại trên địa bàn huyện chưa có siêu thị, hoạt động mua bán của người dân chủ yếu
diễn ra tại chợ.
1.2.2.2. Xã Nghi Xuân và xã Nghi Thái – huyện Nghi Lộc
Nghi Xuân là xã nằm phía Đông Nam của huyện Nghi Lộc. Phía Đông giáp
Phường Nghi Hòa, Nghi Hải – thị xã Cửa Lò, phía Tây giáp xã Nghi Phong, phía Nam
giáp xã Phúc Thọ, phía Bắc giáp xã Nghi Thạch. Xã được chia thành 16 đơn vị xóm
hành chính, với nhiều ngành nghề khác nhau, là địa danh có truyền thống cách mạng
kiên cường, có 2 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, đã hai lần được Nhà nước phong
tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Mức sống người dân nhìn chung khá cao, đặc biệt là khu vực thị tứ của xã
(mặt đường Vinh – Cửa Hội), truyền thông đại chúng phát triển với hệ thống loa
phát thanh của xóm, truyền hình cáp – kỹ thuật số, mạng internet phổ biến ở các hộ
dân khu vực này. Chợ Mai Trang có diện tích nằm toàn bộ trên địa bàn xã Nghi
Xuân.
Nghi Thái là một xã thuộc vùng biển nằm ở phía Đông Nam huyện Nghi Lộc,
cách thành phố Vinh 15km, phía Bắc và phía Nam xã có đường tỉnh lộ 535 và đường
Sinh Thái Nam Đàn – Cửa Hội chạy qua thuận lợi cho việc lưu thông, phát triển kinh tế
- xã hội, dịch vụ, thương mại, du lịch, thu hút lao động trong giai đoạn mới. Phía Đông
9
giáp xã Phúc Thọ huyện Nghi Lộc, phía Tây giáp xã Hưng Lộc – thành phố Vinh, phía
Nam giáp xã Hưng Hòa – thành phố Vinh, phía Bắc giáp xã Nghi Phong.
Hệ thống phương tiện truyền thông đại chúng ở mức trung bình, chủ yếu là:
truyền hình, radio, báo in,… internet chưa phát triển, quán internet ít, không có nhiều hộ
gia đình nối mạng cá nhân. Chợ Mộc có diện tích nằm toàn bộ trên địa bàn xã Nghi
Thái.
CHƢƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH DƢ LUẬN XÃ HỘI
THÔNG QUA KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG LÀ CHỢ NÔNG THÔN
2.1. Một số nét về chợ nông thôn ở hai xã Nghi Xuân – xã Nghi Thái
Chủ thể của DLXH là đơn vị xã hội mà ý kiến được coi là dư luận (ý kiến) xã hội chứ
không phải là một dạng ý kiến nào khác [32, tr.48].
Qua khảo sát bằng phỏng vấn sâu, quan sát chúng tôi nhận thấy phụ nữ thường
hay trao đổi, thảo luận ở chợ hơn nam giới; những người thường xuyên đi chợ hay trao
đổi, nói chuyện với những người khác hơn là những người ít đi chợ, những người có độ
tuổi cao hơn thường nói chuyện, trao đổi thảo luận nhiều ở chợ hơn những người có độ
tuổi thấp hơn,… Đặc tính của người dân nông thôn là hòa nhã, dễ gần, đi chợ họ có thể
hỏi thăm, nói chuyện với những người không quen thân. Tuy nhiên để nói chuyện lâu và
truyền tải những thông tin mà người dân cho là “” hay “” thì họ chỉ
trao đổi với những người họ cho là đáng tin cậy, hơn nữa chỉ những người thân quen thì
họ mới dành thời gian dài để trao đổi, thảo luận với nhau: “
xung quanh,
,
,
(PVS số 12, nữ, 31 tuổi, bán bánh và mía ở chợ, xóm Xuân Tân – xã
Nghi Xuân). Trong giao tiếp nam giới và nữ giới có những điểm khác nhau. Phụ nữ
10
Khách thể của DLXH đó chính là những sự kiện, vấn đề mà nó đề cập đến. Xét
về bản chất đó là sự kiện, vấn đề mà người ta cảm thấy là có ý nghĩa với họ hoặc động
chạm tới lợi ích chung. Nhưng nếu như người tiếp cận thông tin không tìm thấy ý nghĩa
khi cá nhân hóa thông tin về sự vi phạm lợi ích chung thì về cơ bản họ sẽ không phản
ứng hoặc phản ứng không mạnh mẽ [32, tr.51].
Theo kết quả khảo sát thì các cuộc thảo luận, trao đổi thông tin của người dân ở
chợ Mai Trang và chợ Mộc tập trung vào các chủ đề sau: 11 Sơ đồ 2.1: Các chủ đề thảo luận của ngƣời dân ở chợ Mai Trang và chợ Mộc
Sau đây là bảng số liệu thể hiện các vấn đề người dân quan tâm thảo luận ở hai
chợ:
Bảng 2.5: Các vấn đề thảo luận ở hai chợ (Đơn vị tính: %)
Chủ đề thảo luận
Chợ Mai
75,0
- 11,7
8. Tôn giáo, tín ngưỡng
20,0
20,0
0,0
Mức độ quan tâm thảo luận các vấn đề ở chợ của người dân ở hai chợ có sự khác
nhau. Trong khi người đi chợ ở chợ Mai Trang lựa chọn thảo luận nhiều tới các vấn đề:
1, 3, 5, 2, 7 thì người đi chợ ở chợ Mộc lại lựa chọn thảo luận nhiều tới các vấn đề: 1, 4,
2, 7.
Trong đó, có thể nhận thấy vấn đề giá cả hàng hóa là vấn đề được đại đa số
người dân ở cả hai chợ quan tâm. Số người đi chợ quan tâm thảo luận về vấn đề giá cả
hàng hóa ở chợ Mai Trang là 93,3%, trong khi đó mức độ quan tâm tới chủ đề này của
người dân chợ Mộc cao hơn 6,7% khi tất cả người dân đi chợ đều lựa chọn thảo luận
chủ đề này (100,0%), người dân dành nhiều quan tâm tới vấn đề giá cả hàng hóa khi họ
thảo luận ở chợ: “k u nh
D, c
na ” (PVS số 1, nam, 70 tuổi,
nông dân, xóm Phong Hồ, xã Nghi Xuân).
Khách thể của DLXH ở chợ Mai Trang và chợ Mộc có sự khác nhau. Người dân
ở chợ Mai Trang quan tâm nhiều hơn tới các vấn đề thời sự, chính trị, còn người dân ở
chợ Mộc lại quan tâm nhiều hơn tới các chủ đề sự kiện trong xóm làng hay văn hóa lối
sống. Chợ Mộc là chợ mang tính chất truyền thống, có từ rất lâu đời, hàng quán trong
Vấn đề giá cả
hang hóa
Chủ đề
thảo luận
Vấn đề giá cả
hàng hóa
Tội phạm,
tin
Khuynh hướng của DLXH thể hiện ở chỗ nó luôn tỏ thái độ đồng tình, phản đối
hay lưỡng lự đối với vấn đề xã hội mà nó đề cập đến. Cường độ là đặc tính thể hiện sức
căng về ý kiến của DLXH [32, tr.52-53]. Con đường lan truyền thông tin ở chợ nông
thôn diễn ra theo những cách thức khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Khuynh
hướng, cường độ cũng như con đường lan truyền thông tin cần được xem xét đối với
những vấn đề xã hội cụ thể mà người dân đem ra thảo luận tại chợ.
Khi đề cập đến con đường lan truyền thông tin, hay quá trình truyền thông ở chợ
nông thôn, chúng ta nhận thấy có thể áp dụng mô hình dòng truyền thông hai bậc của
Elihu Katz – giáo sư chuyên nghiên cứu về truyền thông tại Đại học Pennsylvania [33]: Sơ đồ 2.2: Mô hình dòng truyền thông hai bậc của Elihu Katz
Dòng truyền thông bậc 1
Dòng truyền thông bậc 2
Các phƣơng tiện
truyền thông
đại chúng
Sơ đồ 2.3: Mô hình khái quát về sự trao đổi thông tin ở chợ nông thôn
1
Trên đây là mô hình lý tưởng về sự trao đổi, truyền tải thông tin ở chợ nông thôn
mà nhà nghiên cứu đưa ra. Ở mô hình này bác Lý đóng vai trò là thủ lĩnh ý kiến
(opinion leader). Bác tiếp nhận thông tin từ phương tiện truyền thông đại chúng và/hoặc 1
Tên các nhân vật không phải là tên thật
Bác Lý (Thủ
lĩnh ý kiến)
Chị
Lan
Bà Huệ
Bác
Biên
Hộp 1
9 giờ sáng ngày 23 tháng 11 năm 2011, bác B.T.Đ 59 tuổi, trú tại xóm
Xuân Sơn xã Nghi Xuân đi chợ như thường lệ. Bác là bệnh binh, bây giờ có làm
thêm ở xã là quét sân vào buổi sáng cho Ủy ban xã. Sáng dậy bác quét sân xong
về nhà soạn sửa công việc, ăn sáng và cứ tầm 9 giờ sáng hàng ngày bác lại đi mua
hàng ở chợ Mai Trang. Chợ Mai Trang cách nhà bác khoảng 800m, bác thường đi
bộ. Bác không đi đường chính, mà đi đường tắt băng qua cánh đồng trước nhà, đi
thêm một đoạn là đến chợ. Khi gần đến chợ bác gặp Bác N.T.L là bạn sinh hoạt
cùng chi hội phụ nữ xóm với bác. Hai bác chào nhau, bác L. có thông báo về việc
chiều nay xóm có tổ chức họp Hội phụ nữ. Bác Đ. thắc mắc với bác L. lý do vì
sao Hội phụ nữ lại họp đột xuất, bác L. liền kể cho bác Đ. nghe về vụ đánh ghen
của một phụ nữ trong chi hội. Chẳng là bà M. có chồng ngoại tình, bà M. bắt
được quả tang rồi làm to chuyện lên, hai vợ chồng bà M. đã làm đơn ly hôn, cho
nên chiều nay chi Hội phụ nữ xóm phải họp để hòa giải. Nghe được chuyện này,
bác Đ. tỏ ra rất bất ngờ vì ông H. chồng bà M. tuổi đã khá cao, vậy mà vẫn còn
sinh chuyện ngoại tình. Bàn luận chuyện gia đình ông H. và bà M. một lúc thì bác
L. chào bác Đ. để về vì nhà đang có khách, hẹn chiều nói chuyện tiếp.
Sau khi gặp bác L. bác Đ. tiếp tục đi đến chợ. Vào đến cổng chợ, bác gặp
bác L. là người trông giữ xe, hai người chào hỏi. Sau đó bác Y. hỏi chuyện bác Đ.
về việc xã đang chuẩn bị xây trạm xá ngay trước cửa nhà bác Đ. Bác Y. cho rằng
việc xây trạm xá trước nhà bác Đ. thì sẽ rất đông vui, không vắng vẻ như trước
nữa. Bác Đ. nghe bác Y. nói vậy cũng hưởng ứng, và nói thêm xây trạm xá sẽ tiện
hơn trong việc khám chữa bệnh của bà con trong xã. Tuy nhiên, sau đó bác Y. hỏi
bác Đ. về công trình thoát nước của trạm xá vì mối lo ô nhiễm môi trường. Bác Đ.
trả lời rằng thực ra thì bác cũng không biết chính xác, song bác nghe nói là trạm
xá có xây dựng một đường ống ngầm để thoát nước. Cũng như bác Y., bác Đ.
cũng có mối lo về nguồn nước sẽ bị ô nhiễm sau khi trạm xá xã được xây. Bác Y
còn nói thêm rằng, nếu như không có công trình thoát nước thì sẽ rất ô nhiễm, vì
nước thải của trạm xá thường rất bẩn, mất vệ sinh. Sau đó, bác Đ. chào bác Y. để
Sơ đồ 2.7: Con đƣờng đi chợ và trao đổi thông tin của bác B.T.Đ
Nhà nghiên cứu có đi cùng bác B.T.Đ đi chợ trong một số buổi, tuy nhiên trong
số đó nhà nghiên cứu thấy trường hợp nêu trong hộp là điển hình cho việc trao đổi
thông tin mang tính chất hình thành DLXH. Còn những trường hợp khác bác B.T.Đ có
trao đổi, bàn luận với những người khác khi bác đi chợ nhưng những cuộc tranh luận
chưa hướng vào những sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội để nhằm góp phần hình
thành DLXH, do vậy nhà nghiên cứu đã lựa chọn trường hợp đã nêu ở hộp 1. Theo quan
sát và cảm nhận của nhà nghiên cứu thì bác B.T.Đ là người khá nhiều tuổi, tuy nhiên
Bác Đ.
Thảo luận, trao
đổi với bác L.
Bác L.
Thảo luận, trao
đổi với bác Y.
Bác Y.
Thảo luận, trao
đổi với bác H.
Bác Y.
Nguồn thông tin thứ hai góp phần hình thành DLXH là thông qua giao tiếp cá
nhân. Giao tiếp là mối quan hệ qua lại giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp
xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó mà con người trao đổi với nhau về thông
tin, về cảm xúc, tri giác, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Giao tiếp là điều kiện tồn
tại của cá nhân và của xã hội loài người, nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu xã
hội cơ bản xuất hiện sớm nhất của con người. Nhờ giao tiếp, con người gia nhập vào
mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hoá xã hội, quy tắc đạo đức, chuẩn mực xã hội, đồng
thời nhận thức được chính bản thân mình, tự đối chiếu so sánh với người khác vơí chuẩn
mực xã hội, tự đánh giá bản thân mình như một nhân cách để hình thành thái độ, giá trị,
cảm xúc. DLXH hình thành và phát tán qua các kênh giao tiếp: “ yi
ngu tho lun ch giao ti
ng ki
” (PVS số 16, nữ 45 tuổi, nội trợ, xóm
Xuân Sơn – xã Nghi Xuân).
17
Ngoài hai nguồn tin từ phương tiện truyền thông đại chúng và giao tiếp cá nhân
còn có nguồn thông tin từ việc bản thân trực tiếp chứng kiến và xảy ra trong cuộc sống
của cá nhân/ gia đình. Hai nguồn này nhìn chung cung cấp thông tin về các chủ đề thảo
luận ít hơn nguồn thông tin từ truyền thông đại chúng và giao tiếp cá nhân. Những sự
kiện, hiện tượng nảy sinh từ hai nguồn này cũng ít khi hình thành DLXH, chủ yếu đó là
những vấn đề cục bộ, cá nhân. Cũng có thể đó là những vấn đề quan tâm của dư luận,
tuy nhiên trường hợp này không nhiều. Hơn nữa vấn đề xã hội từ bản thân trực tiếp
chứng kiến hay xảy ra trong cuộc sống gia đình chủ yếu là nguồn thông tin cho các chủ
đề như sự kiện trong xóm làng, sức khỏe y tế,…
Có sự khác nhau về nguồn thông tin cho các chủ đề thảo luận giữa chợ Mai
Trang và chợ Mộc, điều đó được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.6: Nguồn thông tin của các vấn đề thảo luận ở hai chợ (Đơn vị tính: %)
Vấn đề xã hội
Nguồn thông tin
Các phƣơng
Chợ
Mộc
1. Vấn đề giá cả hàng hóa
63,3
35,0
90,0
95,0
71,7
60,0
15,0
16,7
2. Tội phạm, pháp luật
60,0
60,0
55,0
48,3
16,7
11,7
8,3
11,7
3. Sức khỏe, y tế
50,0
28,3
61,7
55,0
21,7
23,3
46,7
36,7
4. Sự kiện xảy ra trong xóm
51,7
65,0
23,3
51,7
21,7
10,0
8. Tôn giáo, tín ngưỡng
6,7
3,3
18,3
15,0
3,3
1,7
10,0
3,3
Nhìn vào bảng số liệu, ta thấy trước hết là nguồn thông tin của chủ đề giá cả hàng
hóa nhiều nhất là từ giao tiếp cá nhân - ở chợ Mai Trang chiếm 90,0%, còn chợ Mộc
nhiều hơn với 95,0%. Nguồn thông tin từ việc bản thân trực tiếp chứng kiến cho vấn đề
giá cả hàng hóa đứng vị trí thứ hai: chợ Mai Trang chiếm 71,7% còn chợ Mộc chiếm
60,0%. Đứng thứ ba mới là nguồn thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng:
chợ Mai Trang nhiều hơn với 63,3%, chợ Mộc ít hơn với 35,0%. Qua khảo sát và như
trên đã phân tích giá cả hàng hóa là chủ đề được người dân quan tâm thảo luận nhiều
nhất khi đi chợ. Người dân biết được những thông tin về giá cả chủ yếu là do họ trao đổi,
tiếp nhận với những người khác, ngoài ra khi họ đi chợ trực tiếp mua bán các hàng hóa,
dịch vụ thì bản thân họ cũng nhận biết được sự lên xuống của giá cả hàng hóa. Các
phương tiện truyền thông đại chúng cũng thường xuyên đưa tin về vấn đề giá cả như: sự
lên xuống của giá vàng, giá USD, giá xăng dầu, giá rau củ quả,… cho nên đây cũng là
18
nguồn thông tin quan trọng cho thảo luận về vấn đề giá cả hàng hóa của người dân: “N
.
, ”(PVS số 15, nữ,
53 tuổi, bán hàng, xóm Xuân Sơn – xã Nghi Xuân).
2.2.5. Vấn đề tin đồn
Ở chợ nông thôn qua quá trình khảo sát nhận thấy rằng bên cạnh tạo điều kiện
thuận lợi cho việc người dân trao đổi, thảo luận hình thành ý kiến chung, hình thành
DLXH thì chợ nông thôn cũng là môi trường hình thành của tin đồn. Tin đồn chủ yếu
dựa vào cảm xúc chủ quan nên tin đồn có tính tự phát lớn, lan truyền nhanh. Tin đồn
thường quan tâm tới các vấn đề thời sự, thời sự - xã hội. Những người có độ tuổi càng
19
cao càng có sự quan tâm tới các vấn đề sức khỏe, y tế. Những người có trình độ học vấn
cao thường quan tâm tới các vấn đề thời sự trong nước, thời sự quốc tế, còn những
người có trình độ học vấn thấp hơn thì thường quan tâm tới những sự kiện xảy ra trong
xóm làng hay vấn đề văn hóa lối sống. Tuy nhiên tất cả đều có một điểm chung là dành
mối quan tâm đặc biệt cho vấn đề giá cả hàng hóa và ít quan tâm nhất tới vấn đề tôn
giáo tín ngưỡng.
Thứ hai, đề tài hướng đến tìm hiểu Khách thể của DLXH ở hai
chợ có một số nét khác nhau. Người dân ở chợ Mai Trang quan tâm nhiều hơn tới các
vấn đề thời sự, còn người dân ở chợ Mộc lại quan tâm nhiều hơn tới các vấn đề về sự
kiện trong xóm làng hay văn hóa lối sống. Sự tham gia trao đổi, thảo luận của người dân
hai chợ có sự khác nhau.
Câu hỏi nghiên cứu cuối cùng đề cập đến Nhà nghiên
cứu tìm hiểu các khía cạnh: khuynh hướng, cường độ, con đường chuyển tải thông tin,
nguồn thông tin cho thảo luận, vấn đề tin đồn. Sự trao đổi thông tin trong chợ diễn ra
phức tạp, có những trường hợp cá nhân tiếp nhận thông tin không phải trực tiếp từ người
nắm giữ thông tin mà vô tình họ nghe được, rồi họ lại nói chuyện, trao đổi với những
người khác. Trong nhiều trường hợp thông tin bị biến đổi khi chuyển tải từ người này qua
người khác. Có những cá nhân tiếp nhận được những thông tin về các vấn đề xã hội sau
đó họ sẽ tiếp tục thảo luận với những cá nhân khác, thông tin sẽ được chuyển tải đi rất
nhiều nơi trong chợ. Song cũng có những cá nhân họ tiếp nhận thông tin nhưng họ giữ lại
không trao đổi với những người khác. Tiếp đến là yếu tố nguồn thông tin, cơ sở hình
thành DLXH chính là từ thực tiễn, từ sự biến đổi của thực tế xã hội, và được phản ánh
qua các kênh khác nhau: phương tiện truyền thông đại chúng, giao tiếp cá nhân, bản thân
trực tiếp chứng kiến hay xảy ra trong đời sống gia đình.
quá trình khảo sát nhà nghiên cứu nhận thấy rằng bên cạnh việc tạo điều kiện
thuận lợi cho việc người dân trao đổi, thảo luận hình thành ý kiến chung, hình thành
DLXH thì chợ nông thôn cũng là môi trường hình thành tin đồn. Thực tế ở hai chợ Mai
Trang và chợ Mộc người dân cũng thường trao đổi, thảo luận những tin đồn. Mặt
NV, ĐHQGHN.
10. Đỗ Thị Thanh Hà (2010),
, Tạp chí Tuyên giáo của Ban Tuyên giáo trung ương, số 9, tr 70 – 72.
11. Trần Thị Hồng (2009),
Khai Luận văn thạc sĩ ngành Xã hội học, trường ĐH
KHXH & NV, ĐHQGHN.
12. Trần Thị Hiên (2009),
Luận văn thạc sĩ ngành Xã hội học, trường
ĐH KHXH & NV, ĐHQGHN.
13. Tô Duy Hợp (2004), Tìm hiểu sự thay đổi cơ cấu xã hội ở nông thôn trong thời kỳ
đổi mới, , NXB Khoa học xã hội,
Hà Nội, tr 151 – 177.
14. Phạm Thị Thanh Huyền (2010),
- , Khóa luận tốt nghiệp Đại học, ngành Xã hội học,
ĐHKHXH & NV, ĐHQGHN.
15. Lương Khắc Hiếu (1999), , NXB Thời sự
Quốc gia, Hà Nội.
16. Lê Ngọc Hùng (2002),
, Tạp chí Tâm lý học, số 4, tr 6 – 11.
17. Trần Lan Hương (1995),
, Tạp chí Xã hội học, số 2, tr 51 – 54.
18. Lê Thị Mai (2004),
NXB Thế giới, Hà Nội.
21
19. Nghị định số114/2009/NĐ-CP (2009) ngày 23/12/2009 sửa đổi bổ sung một số điều
của Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản
lý chợ.
, Đại học Quốc gia Hà Nội.
35. Hoàng Bá Thịnh (2006), , Tạp chí
Khoa học xã hội và nhân văn.
36. Lưu Minh Trị (1997),
, NXB Thời sự Quốc gia, Hà Nội.
37. Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (1995),
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
38. Nguyễn Đức Truyến (1999),
, Tạp chí Xã hội học, số 1 (65), tr 40 – 53.
22
39. Lê Thị Tuyền (2007),
Luận văn thạc sĩ ngành Xã hội học, trường ĐH KHXH & NV, ĐHQGHN.
40. Ủy ban Nhân dân xã Nghi Thái (2010),
.
41. Viện Dư luận xã hội – Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (1989),
, Hà Nội.
Tài liệu tham khảo từ Internet
42. Tổng cục thống kê, các kết quả chủ
yếu, tr 33: http://www.gso.gov.vnt.aspx?tabid=512&idmid=5&ItemID=9812, truy cập
ngày 20/5/2011.
43. Từ điển mở Wikipedia tiếng Việt: Mục từ “Không gian công cộng”,
http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%B4ng_gian_c%C3%B4ng_c%E1%BB%99ng,
truy cập ngày 25/05/2011.
44. Từ điển mở Wikipedia tiếng Việt: “Chợ”,
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A3, truy cập ngày 22/05/2011.
45. Từ điển mở Wikipedia tiếng Việt: “Jurgen Habermas”,
http://vi.wikipedia.org/wiki/J%C3%BCrgen_Habermas, truy cập ngày 22/05/2011.
46. Từ điển mở Wikipedia tiếng Anh: “Pulic sphere”,