Chợ nông thôn - Một không gian công cộng cho sự hình thành dư luận xã hội (nghiên cứu trường hợp chợ Mai Trang và chợ Mộc, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An - Pdf 25

2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
2.1. Ý nghĩa khoa học 5
2.2. Ý nghĩa thực tiễn 6
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6
3.1. Mục đích nghiên cứu 6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 7
5. Câu hỏi nghiên cứu 7
6. Giả thuyết nghiên cứu 7
7. Phương pháp nghiên cứu 8
NỘI DUNG CHÍNH 11
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1. Cơ sở lý luận 11
1.1.1.Các khái niệm công cụ 11
1.1.2. Chợ nông thôn dưới góc nhìn từ lý thuyết về lĩnh vực công cộng của Jürgen
Habermas 15
1.2. Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1. Lược sử tình hình nghiên cứu 17
1.2.2. Bối cảnh địa bàn nghiên cứu 22
1.2.2.1. Huyện Nghi Lộc – tỉnh Nghệ An 22
1.2.2.2. Xã Nghi Xuân và xã Nghi Thái – huyện Nghi Lộc 23
CHƢƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH DƢ LUẬN XÃ HỘI THÔNG QUA
KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG LÀ CHỢ NÔNG THÔN 24
2.1. Một số nét về chợ nông thôn ở hai xã Nghi Xuân – xã Nghi Thái 25
2.2. Quá trình hình thành Dư luận xã hội tại chợ nông thôn 27
2.2.1. Chủ thể của Dư luận xã hội 33
2.2.2. Khách thể của Dư luận xã hội 48

Biểu đồ 2.1: Chủ đề thảo luận của nam và nữ ở chợ Mai Trang 35
Biểu đồ 2.2: Chủ đề thảo luận của nam và nữ ở chợ Mộc 37
Biểu đồ 2.3: Sự phân bố chủ đề thảo luận theo độ tuổi ở chợ Mai Trang 43
Biểu đồ 2.4: Sự phân bố chủ đề thảo luận theo độ tuổi ở chợ Mộc 45

Sơ đồ

Sơ đồ 2.1: Các chủ đề thảo luận của người dân ở chợ Mai Trang và chợ Mộc 50
Sơ đồ 2.2: Mô hình dòng truyền thông hai bậc của Elihu Katz 60
Sơ đồ 2.3: Mô hình khái quát về sự trao đổi thông tin ở chợ nông thôn 62
Sơ đồ 2.4: Con đường lan truyền thông tin trong chợ nông thôn (1) 63
Sơ đồ 2.5: Con đường lan truyền thông tin trong chợ nông thôn (2) 64
Sơ đồ 2.6: Con đường lan truyền thông tin trong chợ nông thôn (3) 65
Sơ đồ 2.7: Con đường đi chợ và trao đổi thông tin của bác B.T.Đ 68
Sơ đồ 2.8: Con đường đi chợ và trao đổi thông tin của chị N.T.D 71
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Không gian công cộng (public space) là nơi chốn mà mọi người có thể tự
do thoải mái đến đó không phân biệt giới tính, độ tuổi, học vấn, dân tộc, mức
sống. Ở đó công chúng có thể tự do bàn luận những vấn đề xã hội hay riêng tư
mà họ quan tâm. Nói cách khác các không gian công cộng có thể được xem như
là “không gian phc v chung cho nhu cu ca nhi
công ci s dng vi quan sát, li vi tham gia các
hong chung. Hình thc hay hong ca mi trong không gian công
cng gây ng ti nhi khác, vì th, không gian công cng
t xã ha các hòa gii xã
hi gia các t chc cá nhân [43]. Các không gian công cộng có thể kể đến như
là: công viên, đường phố, quảng trường, chợ,…
Trong số đó, chợ cũng là một không gian công cộng quan trọng của nước

người chiếm 70,5% (trong tổng số 85,7 triệu người) sinh sống tại nông thôn
[42], cho nên việc điều tra, nắm bắt những ý kiến người dân nông thôn, cũng như
xem xét việc hình thành DLXH từ những luồng ý kiến trên là rất quan trọng. Đó
là những lý do khiến tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Ch nông thôn  mt
không gian công cng cho s n xã hi” (nghiên cứu tại chợ
Mai Trang và chợ Mộc, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Đề tài này tập trung làm
rõ vai trò của chợ nông thôn với tư cách là không gian công cộng cho sự hình
thành DLXH như thế nào? Chợ có phải là một trung tâm giao tiếp, trao đổi thông
tin, bàn bạc thảo luận của người dân không? Quá trình hình thành DLXH về một
vấn đề chung diễn ra ở không gian công cộng là chợ nông thôn diễn ra như thế
nào?
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1. Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu tiếp cận từ góc độ lý thuyết về  c công cng của
Habermas để nhìn nhận, đánh giá sự hình thành DLXH ở các chợ khu vực nông
6
thôn. Tìm hiểu quá trình hình thành DLXH về những vấn đề xã hội cụ thể, ngoài
ra còn tìm hiểu chủ đề, thời gian, nguồn thông tin,… thảo luận của người dân.
Qua nghiên cứu này, tác giả mong muốn tìm hiểu được vai trò của chợ nông thôn
như là trung tâm giao tiếp, thảo luận, trao đổi ý kiến từ đó hình thành nên DLXH.
Hơn nữa, tác giả còn hy vọng nghiên cứu này sẽ góp phần nhỏ vào việc bổ sung
phần thực tiễn của lý thuyết về lĩnh vực công cộng.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu nhằm tìm hiểu quá trình hình thành DLXH ở các chợ thuộc
khu vực nông thôn tỉnh Nghệ An qua đó tác giả mong muốn kết quả nghiên cứu
sẽ giúp cho các nhà nghiên cứu về DLXH, các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ
vai trò, tầm quan trọng của chợ nông thôn trong việc tạo môi trường cho sự giao
tiếp, thảo luận, trao đổi thông tin để từ đó hình thành nên những luồng ý kiến
thống nhất về một vấn đề chung; sự khác biệt trong sự hình thành DLXH ở chợ
nông thôn và chợ đô thị, từ đó sẽ có những chính sách thiết thực nhằm định

4.3. Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: nghiên cứu tại chợ Mai Trang và chợ Mộc của huyện Nghi
Lộc, tỉnh Nghệ An.
+ Thời gian: từ tháng 05/2011 đến tháng 04/2012.
5. Câu hỏi nghiên cứu
: Đặc điểm xã hội của những người tham gia thảo luận
ở hai chợ Mai Trang và chợ Mộc?
:
- Người dân thường quan tâm, thảo luận những vấn đề nào? Có sự khác nhau
về vấn đề thảo luận giữa hai chợ của hai xã hay không?
- Nguồn thông tin của các vấn đề thảo luận là từ đâu?
3. Quá trình hình thành DLXH: Con đường lan truyền thông tin trong cuộc thảo
luận, trao đổi giữa các cá nhân dẫn đến hình thành DLXH diễn ra như thế nào? Có sự khác
nhau giữa chợ Mai Trang và chợ Mộc không?
8
6. Giả thuyết nghiên cứu
- Người dân có giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn khác nhau thì sự tham gia
thảo luận khi đi chợ Mai Trang và chợ Mộc của họ cũng khác nhau.
- Khi thảo luận tại hai chợ, người dân quan tâm đến nhiều chủ đề, trong đó
có: giá cả hàng hóa, sự kiện trong xóm làng, thời sự,… Mức độ quan tâm tới các
chủ đề này của người dân ở chợ Mai Trang khác với người dân ở chợ Mộc.
- Nguồn thông tin cho các chủ đề thảo luận từ truyền thông đại chúng,
giao tiếp cá nhân và từ việc bản thân trực tiếp chứng kiến hay xảy ra trong đời
sống gia đình.
- Con đường lan truyền thông tin tại chợ diễn ra khá phức tạp, đan chéo và
khó kiểm soát.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Các tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu gồm: Báo cáo tình hình phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương; niên giám thống kê của huyện Nghi Lộc –

bảng hỏi mang tính định lượng sẽ bổ sung bằng chứng cho việc chứng minh
những luận điểm của đề tài. Số người được hỏi: 120 người (60 trường hợp ở xã
Nghi Xuân, 60 trường hợp ở xã Nghi Thái). Mẫu bảng hỏi được trình bày trong
mục Phụ lục.
Cơ cấu mẫu khảo sát định lượng (đơn vị tính: %)

Chợ Mai Trang
Chợ Mộc
Giới tính
Nam
31,7
6,7
Nữ
68,3
93,3
Tuổi
Dưới 25 – 35 tuổi
16,7
20,0
Từ 35 – 45 tuổi
25,0
28,3
10
Từ 45 – 55 tuổi
23,3
30,0
Trên 55 tuổi
35,0
21,7
Trình độ học vấn

40,0
48,3
Lao động tự do
3,3
3,3
Nội trợ
6,7
8,3 11
NỘI DUNG CHÍNH

thành DLXH có các giai đoạn sau:
1. Các cá nhân biết đến sự kiện/vấn đề.
2. Hình thành ý kiến cá nhân trên cơ sở tâm thế và tiền tâm thế của họ. Có
thể nhận thấy rằng giai đoạn 1 và 2 diễn ra gần như đồng thời.
3. Sự tương tác các ý kiến, tạo thành ý kiến chung của nhóm nhỏ rối tới
nhóm lớn.
4. Hình thành ý kiến chung gọi là DLXH.
Tuy nhiên, đến đây, sự phát triển DLXH không phải đã dừng lại mà tiếp
tục. Nó phụ thuộc cách thức giải quyết (những vấn đề mà DLXH đề cập đến).
5.1. Nếu vấn đề DLXH đề cập tới được giải quyết triệt để và thoả đáng,
DLXH sẽ theo hướng bị triệt tiêu, hình thành DLXH mới ủng hộ cách giải quyết.
5.2. Nếu vấn đề không được giải quyết triệt để và thoả đáng, thì một mặt,
DLXH cũ vẫn tồn tại và cường độ được tăng cường, mặt khác, xuất hiện DLXH
mới về cách thức giải quyết [32, tr.191-192].
Quá trình hình thành DLXH là quá trình biện chứng, tức là các giai đoạn
có quan hệ mật thiết, gắn kết với nhau. Giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn
sau, có những giai đoạn diễn ra dường như đồng thời với nhau. Giai đoạn đầu
tiên là việc cá nhân biết đến các sự kiện, vấn đề. Thực tế có rất nhiều sự kiện, vấn
đề xảy ra trong một khoảng thời gian, tuy nhiên cá nhân chỉ chú ý đến những vấn
đề, sự kiện có liên quan đến tính “tư lợi” của họ, hoặc được họ “nội tâm hóa”,
chuyển những vấn đề của người khác thành vấn đề của mình. Khi cá nhân biết
vấn đề, sự kiện và thực sự quan tâm sâu sắc tới vấn đề thì cá nhân sẽ đưa ra ý
kiến của mình. Hai giai đoạn này diễn ra gần như đồng thời. Giai đoạn thứ ba là
tương tác ý kiến giữa các cá nhân với nhau, hình thành ý kiến chung trong nhóm
nhỏ, rồi đến nhóm lớn, giai đoạn này diễn ra không giới hạn thời gian. Nhanh hay
13
chậm tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Tiếp đến là sự hình thành ý kiến chung, ý kiến
của công chúng, gọi là DLXH. Sau khi DLXH được hình thành nó sẽ đi theo hai
hướng: nếu vấn đề DLXH đề cập tới được giải quyết triệt để và thoả đáng,
DLXH sẽ đi theo đúng hướng bị triệt tiêu, hình thành DLXH mới ủng hộ cách

tập trung hoạt động mua bán hàng hoá giữa người sản xuất, người buôn bán và
người tiêu dùng. Quy mô, tính chất của chợ phụ thuộc vào trình độ phát triển
kinh tế. Chợ có vai trò chủ yếu là nơi tiêu thụ hàng hoá, đồng thời cũng có ảnh
hưởng kích thích ngược lại đối với sản xuất. Quy mô và tính chất của chợ rất đa
dạng: có chợ nông thôn tự sản tự tiêu, có loại chợ mang tính chất khu vực hay
một vùng rộng lớn. Thông thường, mặt hàng mua bán ở chợ rất phong phú, nhiều
loại. Nhưng cũng có chợ chỉ mua bán những mặt hàng nhất định như chợ trâu bò,
chợ gạo, chợ vải, Tuỳ theo điều kiện, địa điểm và nhu cầu, Chợ có thể họp
hằng ngày, nhưng cũng có chợ chỉ họp theo phiên nhất định trong tháng, có chợ
một năm chỉ họp mấy ngày Tết. Vì vậy, có thể xem chợ là sự phản ánh trình độ
phát triển và nếp sống kinh tế - xã hội của một địa phương” [36, tr.486].
Chợ là nơi mà diễn ra hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ
bằng tiền tệ hoặc hiện vật (hàng đổi hàng). Chức năng chính của chợ là nơi diễn
ra hoạt động mua bán hay trao đổi các sản phẩm, hàng hóa khác nhau. Hàng hóa
trong chợ rất đa dạng, từ những loại sản phẩm dùng trong cuộc sống hàng ngày
của mỗi người đến các chủng loại sản phẩm khác [44].
- Chợ nông thôn là chợ xã của các huyện và ở khu vực ngoại thành, ngoại
thị [18, tr.1].
Chợ quê là nơi người mua và người bán cùng một loại sản phẩm hoặc dịch
vụ tụ họp lại với nhau tại một địa điểm nhất định. Đây là nơi diễn ra hoạt động
kinh doanh hàng hóa và dịch vụ ở khu vực nông thôn [17, tr.51]. Ở khu vực nông
thôn, chợ là một thị trường với tư cách như một thể chế đưa những người tiểu
15
nông, thợ thủ công, những người buôn bán nhỏ và những thương nhân chuyên
nghiệp từ những làng xã hoặc những vùng, miền, đô thị,… lại với nhau. Đây là
một thể chế tổ chức và phối hợp các tương tác xã hội như các hành vi kinh
doanh, thương mại,… của nhiều người ở nhiều địa điểm khác nhau trong một
hoạt động chung [17, tr.52].
1.1.2. Chợ nông thôn dƣới góc nhìn từ lý thuyết về lĩnh vực công cộng của
Jürgen Habermas

trao đổi thông tin. Mức độ tiếp xúc, giao lưu ở chợ nông thôn rất lớn, vì hầu hết
những người mua và người bán quen biết nhau, thậm chí thân thiết, là họ hàng,
anh em cho nên họ có thể bỏ qua cảm giác ngại ngùng, xa lạ để trao đổi rất nhiều
về những câu chuyện liên quan đến đời sống cá nhân hay những vấn đề xã hội
mang tính chung cho cả cộng đồng. Mỗi một cá nhân trong môi trường chợ nông
thôn được tự do bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề chung nào đó, sau đó có sự
thảo luận xã hội giữa những người mua, người bán hay đúng hơn là những người
thường xuyên có mặt ở chợ, cuối cùng sẽ có sự đồng thuận xã hội – đây chính là
cơ sở cho sự hình thành DLXH. Theo quan điểm của Habermas thì chợ chính là
không gian công cộng cho các cá nhân thảo luận các vấn đề thuộc địa hạt của lĩnh
vực công cộng.
Khi bàn về xã hội nông thôn, các nhà nghiên cứu không thể bỏ qua không
gian công cộng là chợ nông thôn. Ở nông thôn, chợ đóng vai trò rất quan trọng
cho việc giao thương buôn bán của người dân, ngoài ra nó còn đóng vai trò như
là không gian thuận lợi cho các cá nhân trao đổi, thảo luận các vấn đề thuộc “lĩnh
vực công cộng” theo quan điểm của Habermas. Người dân có thể tự do ra vào
chợ, tự do trao đổi, thảo luận để đưa ra ý kiến chung.
Trong tác phẩm “The Structural Transformation of the Public Sphere”,
Habermas chỉ ra ba cái gọi là “tiêu chuẩn về thể chế” như là điều kiện tiên quyết
cho sự xuất hiện của lĩnh vực công cộng mới. Những nơi chốn thảo luận, như
17
quán cà phê của nước Anh, tiệm ở nước Pháp và nhà hàng của nước Đức “có thể
có khác nhau về kích thước và thành phần của công chúng, phong cách của thảo
luận, không khí của các cuộc tranh luận, và chủ đề hướng tới”, nhưng “tất cả
cuộc thảo luận giữa mọi người có xu hướng tiếp diễn, vì vậy họ đã có một số tiêu
chuẩn về thể chế chung” . Tiêu chuẩn thể chế đó là: a) Không quan tâm đến địa
vị xã hội; b) Lĩnh vực quan tâm thảo luận; c) Giới hạn tham gia [46].
Theo quan điểm của Habermas thì chợ nông thôn là một không gian công
cộng giúp cho các cá nhân có thể tự do thảo luận các vấn đề thuộc địa hạt của
lĩnh vực công cộng, từ đó có thể hình thành ý kiến chung, hình thành DLXH.

Qua việc khảo sát ở khu đô thị mới Văn Quán, Hà Nội đề tài đã mô tả thực trạng
của việc xây dựng, sử dụng cũng như tâm tư, nguyện vọng của cư dân đối với
không gian công cộng trong các khu cư trú của họ. Sự cần thiết của không gian
công cộng và những giải pháp để duy trì và phát huy giá trị tích cực của không
gian đó. Nghiên cứu này chỉ tập trung vào sự thiếu hụt các không gian công cộng
trong đời sống người dân tại khu đô thị mới Văn Quán và cần những giải pháp để
khắc phục thực trạng đó.
Những nghiên cứu của ngành xây dựng, kiến trúc về không gian công
cộng có thể kể đến nghiên cứu của Phạm Trọng Thuật (2002): “T chc không
gian công c   ti Hà Ni”, luận án tiến sĩ kiến trúc, trường
Đại học Kiến trúc Hà Nội. Trên cơ sở khảo sát thực tế, luận án đã xác định thực
trạng cụ thể của hệ thống không gian công cộng tại đơn vị xây dựng có quy
hoạch từ trước đến nay. Từ đó, tác giả đề xuất mô hình mang tính mềm dẻo cho
cấu trúc hệ thống không gian công cộng tại các đơn vị ở Hà Nội. Nghiên cứu này
chỉ tập trung vào lĩnh vực xây dựng, kiến trúc, quy hoạch đô thị.
19
- Nghiên cu v s hình thành DLXH
DLXH có vai trò rất lớn trong đời sống kinh tế - xã hội. Cho nên đây là
một vấn đề được khá nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Ở Việt Nam hiện
nay, có một số nghiên cứu về DLXH:
Đề tài nghiên cứu cấp viện năm 2008 của Viện Xã hội học trực thuộc
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam do Trần Cao Sơn làm chủ nhiệm: “u
tìm hin xã hi  nông thôn” (trường hợp Tân Hồng – Phù Lưu, huyện
Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Nghiên cứu DLXH nông thôn để nhận biết suy nghĩ,
nguyện vọng, quan điểm của người nông dân là khâu không thể thiếu trong xây
dựng chính sách. Nông thôn chiếm 75,0% dân số, họ có chung dư luận với toàn
xã hội, đồng thời có riêng mảng dư luận nông thôn của người sống trong khu vực
nông thôn, gắn với ruộng đồng, làng quê. Đề tài tập trung tìm hiểu tác động của
kinh tế thị trường đến sự thay đổi văn hóa, lối sống truyền thống; Việc di chuyển
đi các địa bản khác để tìm hiểu điều kiện sống mới của người nông dân, chuyển

Thị Hiên: “DLXH v tính thiêng ca các di tích lch s i vi vic bo
tn giá tr ca các di tích này  Hà Ni hin nay  Nghiên cng hp Ph
Tây H n Th ”; Vũ Hào Quang – Trần Thị Hồng: “DLXH v
vic gii quyt khiu ni, t cáo cng hin nay  Nghiên cng
h  ng Minh Khai, Qu
Ni”. Những nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào mảng tác động của DLXH
hoặc là DLXH đánh giá về một vấn đề nào đó, đã cho thấy tầm quan trọng của
DLXH trong đời sống, những tác động của nó đối với đời sống người dân cũng
như hoạt động quản lý của cán bộ, việc bảo tồn các di tích văn hóa. Song các
nghiên cứu này chưa đi vào tìm hiểu quá trình hình thành DLXH ở một không
gian nhất định.
- Nghiên cu v ch nông thôn
Hiện nay, có một số nghiên cứu về chợ nông thôn, tuy nhiên những nghiên
cứu này tập trung vào chức năng kinh tế của chợ, chứ chưa chú ý tới chức năng
văn hóa – xã hội của chợ.
21
Cuốn sách “Ch quê trong quá trình chuyi” của Lê Thị Mai là một
trong những nghiên cứu tiêu biểu về chợ nông thôn, là công trình được biên soạn
trên cơ sở luận án tiến sĩ xã hội học năm 2003 với đề tài “Ch nông thôn châu
th Sông Hng trong quá trình chuyi kinh t - xã h. Nghiên cứu này tập
trung vào việc tìm hiểu nguồn gốc xã hội của chợ quê; cấu trúc xã hội các quan
hệ thương mại và hành vi ứng xử của chủ thể kinh tế tại chợ quê; tìm hiểu những
kiểu/ mô hình hành vi kinh tế khác nhau trước tác động của những yếu tố can
thiệp (giá trị xã hội, chuẩn mực, thể chế, tập quán, tâm lý xã hội,…); sự vận
động, xu hướng phát triển của chợ quê và những điều chỉnh hành vi của chủ thể
kinh tế tại chợ có tác động như thế nào đối với từng cá nhân và cộng đồng? Tác
giả nghiên cứu chợ quê dưới góc độ tìm hiểu vai trò của nó trong hoạt động sản
xuất hàng hóa và đối với sự chuyển đổi xã hội của cộng đồng làng - xã nông
thôn; sự thay đổi cấu trúc xã hội các quan hệ thương mại tại chợ quê trong quá
trình mở cửa thị trường nông thôn [17, tr.12].

giáp huyện Đô Lương, phía Tây Bắc giáp huyện Yên Thành, và phía Bắc giáp
huyện Diễn Châu. Năm 2008: diện tích tự nhiên trên 34.000 ha, dân số hơn
200.000 nhân khẩu.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 5 năm gần đây đạt 12,01 %,
tổng giá trị sản xuất năm 2010 ước đạt 1.944 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu
người ước đạt 13,7 triệu đồng. Sản lượng lương thực bình quân hàng năm ước đạt
80.000 tấn. Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp xây dựng giai đoạn 2005 –
2010 tăng bình quân 21,29 % / năm. Tỷ trọng dịch vụ đạt 37,5 – 38 % trong cơ
cấu kinh tế.
Hệ thống truyền thông đại chúng khá phát triển. Các phương tiện phổ
biến: truyền hình, radio, báo in, hệ thống loa truyền thanh của khối xóm…
Internet phát triển, ở các khu thị tứ có khá nhiều quán internet, đã có nhiều hộ gia
đình lắp mạng internet cá nhân.
23
Huyện Nghi Lộc hiện nay có 27 chợ, với mức độ sầm uất và phát triển
khác nhau. Hiện tại trên địa bàn huyện chưa có siêu thị, hoạt động mua bán của
người dân chủ yếu diễn ra tại chợ.
1.2.2.2. Xã Nghi Xuân và xã Nghi Thái – huyện Nghi Lộc
* Xã Nghi Xuân
Nghi Xuân là xã nằm phía Đông Nam của huyện Nghi Lộc. Phía Đông giáp
Phường Nghi Hòa, Nghi Hải – thị xã Cửa Lò, phía Tây giáp xã Nghi Phong, phía
Nam giáp xã Phúc Thọ, phía Bắc giáp xã Nghi Thạch. Xã được chia thành 16 đơn vị
xóm hành chính, với nhiều ngành nghề khác nhau, là địa danh có truyền thống cách
mạng kiên cường, có 2 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, đã hai lần được Nhà
nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Diện tích toàn xã 631 ha. Năm: 2010 số hộ là 2039, số khẩu là 9921. Trong
đó nữ là hơn 4800 người, nam hơn 5000 người. Đồng bào giáo dân có 410 hộ, hơn
2200 khẩu.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 14,8%, tổng giá trị sản xuất năm 2010 ước đạt
96 tỷ đồng. Giá trị nông lâm ngư nghiệp đạt 17 tỷ đồng, chiếm 17,7%. Cơ cấu kinh


25
CHƢƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH DƢ LUẬN XÃ HỘI
THÔNG QUA KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG LÀ CHỢ NÔNG THÔN
2.1. Một số nét về chợ nông thôn ở hai xã Nghi Xuân – xã Nghi Thái
Chợ Việt Nam có lẽ được hình thành từ thời lập quốc, theo truyền thuyết từ
thời Hùng Vương, người Việt đã biết giao lưu buôn bán với nước ngoài, chợ là nơi
trao đổi hàng hóa, sản phẩm giữa các cộng đồng người khác nhau. Cùng với tiến
trình của lịch sử dân tộc chợ Việt Nam còn mang đậm dấu ấn văn hóa. Chợ là bộ
phận quan trọng trong hạ tầng kinh - tế xã hội, trong phát triển thương mại - dịch vụ
tại địa phương, đặc biệt là đối với vùng nông thôn. Chợ nông thôn gắn liền với việc
phát triển thương mại nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực
nông thôn. Chợ nông thôn có đặc điểm chung là đều ở vị trí thuận lợi về giao thông
thủy, bộ, phục vụ thiết thực cho nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa của nhân dân
trong khu vực, cung ứng hàng tiêu dùng, vật tư nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng hàng ngày và sản xuất của nhân dân; được phân bố tương đối đều trên hầu
hết các xã vùng nông thôn. Người đến chợ không chỉ để trao đổi các sản phẩm và
tìm kiếm những sản phẩm thiết yếu của mình, mà còn để gặp gỡ, trao đổi thông tin
và tình cảm.
Huyện Nghi Lộc có 27 chợ đóng trên địa bàn 23 xã, thị trấn. Trong đó chỉ có
3 chợ bán kiên cố (tương đương chợ loại 3, số còn lại đều đang là chợ tạm. Hàng
năm, các tổ quản lý chợ thu lệ phí nộp ngân sách đạt bình quân trên 150 triệu
đồng/chợ. Nghi Lộc là huyện có nhiều chợ truyền thống như chợ Quán (Nghi Hoa),
chợ Cầu (Nghi Phương), chợ Mộc (Nghi Thái) Hiện chợ Mai Trang được xem là
một trong số chợ sầm uất nhất huyện, có quy mô vùng thuộc xã Nghi Xuân.

26

mặt hàng: quần áo, giày dép, hoa quả,
hàng khô,…
- Là một chợ truyền thống của xã Nghi
Thái, chợ được xây dựng từ trước khi
thành lập xã (năm 1946).
- Cơ sở hạ tầng của chợ Mộc khá sơ
sài, không khang trang, rộng rãi như
chợ Mai Trang, chủ yếu là các mái che
tạm bợ, rất đông những người bán
hàng ở ngoài trời, không có mái che.
Dù vậy, đây là chợ đầu mối khá quan
trọng cho các xã Nghi Phong, Phúc
Thọ của huyện Nghi Lộc, và xã Hưng
Lộc, Nghi Đức, Hưng Hòa của thành
phố Vinh.
- Diện tích 4.542 m
2
. Số hộ kinh doanh
thường xuyên từ 350 – 500 hộ.
- Chợ chỉ họp một buổi, vào buổi sáng,
khoảng từ 4 – 5 giờ sáng đến 10 – 11
giờ trưa.
- Mỗi phiên có hơn 1000 lượt người
đến trao đổi, mua bán hàng hóa.

- Không có đình chợ, chỉ có nhiều dãy
hàng với mái che tạm bợ, nhiều dãy
hàng không có mái che, quần áo, giày
dép ít mà chủ yếu là các mặt hàng
lương thực thực phẩm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status