Tài liệu Bàn về xu hướng hình thành các tập đoàn tài chính ở Việt Nam - Pdf 95

Bàn về xu hướng hình thành các tập đoàn tài chính ở Việt Nam
Mặc dù đã bắt đầu từ khá lâu nhưng quá trình đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước ở Việt
Nam được đánh giá vẫn đang ở giai đoạn "thử nghiệm". Một số quyết định gần đây của Chính
phủ về việc thành lập các tập đoàn kinh doanh, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước lớn,
đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính như ngân hàng, bảo hiểm được đánh giá
là động thái tích cực thể hiện quyết tâm đẩy mạnh quá trình này. Xu hướng hình thành các tập
đoàn tài chính, do đó, cũng bắt đầu hình thành ở Việt Nam. Bài viết không đi sâu phân tích
nên hay không nên thành lập các tập đoàn tài chính mà sẽ đề cập đến một số vấn đề cần lưu
ý khi thành lập và vận hành các tập đoàn tài chính sau khi giới thiệu xu hướng phát triển các
tập đoàn kinh doanh trên thế giới.
1. Xu hướng phát triển các tập đoàn kinh doanh trên thế giới
Tập đoàn kinh doanh đa phần được tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con, theo đó
công ty mẹ (holding company) đóng vai trò là công ty đầu tư tài chính và nắm giữ một tỷ lệ cổ
phần hoặc tỷ lệ đầu tư vốn nhất định tại các công ty con. Mối quan hệ giữa công ty mẹ và
công ty con, do đó được xác lập trên cơ sở quan hệ tài chính và được xây dựng trên ở một số
nguyên tắc sau:
(1) Tăng cường vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm đảm bảo quỹ đạo chung cho tất
cả các đơn vị thành viên. Điều này đặc biệt đúng với các tập đoàn hoạt động trong lĩnh vực tài
chính, ngân hàng.
(2) Phối hợp chiến lược kinh doanh trên tất cả các mặt, các chức năng và ở mọi phương diện.
Phối hợp chiến lược khu vực hoá với toàn cầu hoá, chiến lược mũi nhọn với chiến lược đa
dạng hoá.
(3) Tăng cường vai trò trung tâm và sự chi phối của công ty tài chính nhằm hạn chế khả năng
bị thôn tính. Nhiều tập đoàn đã mở rộng quy mô vốn cho ngân hàng hoặc công ty tài chính
trực thuộc và cơ cấu lại danh mục đầu tư cho cả tập đoàn.
Từ khoảng cuối Thế kỷ 19, sau thời kỳ phát triển mạnh mẽ dưới sự tác động của cuộc cách
mạng công nghiệp, các công ty bắt đầu cần nhiều vốn hơn để mở rộng lĩnh vực và địa bàn
kinh doanh, đặc biệt là mở rộng ra thị trường quốc tế. Đến cuối Thế kỷ 20 thì quá trình này bắt
đầu diễn ra mạnh mẽ, hàng loạt các tập đoàn xuyên quốc gia, hoạt động đa lĩnh vực ra đời,
tồn tại và phát triển cho đến tận ngày nay.
Tại Hàn Quốc, các Cheabol bắt đầu phát triển mạnh từ những năm 1950-1960 theo mô hình

ngân hàng cải tổ để trở thành một công ty mẹ (Holding company) và hình thành một tập đoàn
ngân hàng lấy tên là First National City Corp (đến năm 1974 đổi tên thành CitiCorp) với hoạt
động trọng tâm vẫn là các dịch vụ tài chính và ngân hàng bán lẻ. Cuối năm 1968, Citibank đã
thế chỗ Chase Manhatta trở htành ngân hàng lớn nhất ở New York với tài sản trị giá 19,4 tỷ đô
la.
Vào những năm 1970, Citibank trở thành nhà phát hành chính thẻ tín dụng Master và VISA và
đã mua được Carte Blanche vào năm 1978, Diners Club vào năm 1981. Đến năm 1977,
Citibank là ngân hàng đầu tiên giới thiệu sản phẩm Máy rút tiền tự động (ATMs) với quy mô
hơn 500 chiếc trong nội thành New York và cuối năm 1980 vượt qua Bank America để trở
thành ngân hàng lớn nhất Mỹ. Trong những năm 80, Citibank đã mua được cả một số tổ chức
tài chính ở San Francisco, Chicago, Miami và Washington DC và đến năm 1998, thực hiện
sáp nhập với hãng Travellers Group - một công ty kinh doanh thẻ nổi tiếng để trở thành tập
đoàn ngân hàng – tài chính hàng đầu thế giới.
2. Những vấn đề cần lưu ý khi thành lập các tập đoàn tài chính ở Việt Nam
Nghiên cứu khái quát về xu hướng phát triển của các tập đoàn kinh doanh và trường hợp của
Citicorp, chúng tôi nhận thấy việc hình thành các tập đoàn tài chính ở Việt Nam là một xu thế
phù hợp với quá trình hội nhập. Tuy nhiên, cần chú ý một số điểm sau:
Thứ nhất, việc xuất hiện các mô hình tổ chức và vận hành doanh nghiệp là một phạm trù lịch
sử, có tính độc lập khách quan. Một mệnh lệnh hành chính là không đủ để biến một ngân
hàng thương mại hay một tổng công ty nào đó thành một tập đoàn tài chính. Nguyên lý này
mới nghe tưởng chừng như đơn giản nhưng lại khó vận dụng một cách hiệu quả trong thực
tế. Việc thành lập một loạt các tổng công ty 90-91 với kỳ vọng đưa chúng trở thành những
doanh nghiệp mạnh, có tầm ảnh hưởng không chỉ trong nước mà ở khu vực và trên thế giới
tuy không để lại những hậu quả đáng tiếc nhưng cũng không đạt hiệu quả như mong đợi.
Thực tế đó chứng tỏ, sự can thiệp của nhà nước chỉ là điều kiện cần, mang ý nghĩa hỗ trợ và
thúc đẩy. Xuất phát từ quan điểm đó, người viết cho rằng cần đặc biệt tôn trọng quy luật
khách quan, tránh việc hình thành các tập đoàn tài chính một cách nóng vội khi chưa thực sự
hội đủ những điều kiện tối cấn thiết.
Gắn liền với tập đoàn kinh doanh là mô hình công ty mẹ - công ty con. Tương tự như việc
hình thành tập đoàn, việc một công ty nào đó trong tập đoàn giữ vị trí công ty mẹ cũng không

Thứ ba, cần đảm bảo vai trò chi phối và kiếm soát của Công ty mẹ (ngân hàng) đối với các
công ty con thông qua mối quan hệ tài chính. Hiện tại, vai trò của Tổng công ty đối với các
công ty thành viên rất mờ nhạt, vốn của Tổng công ty chính là vốn nhà nước trên sổ kế toán
của các công ty thành viên cộng lại. Mỗi công ty thành viên là một pháp nhân độc lập. Vì vậy,
vai trò điều phối vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu của Tổng công ty chỉ tồn tại trên văn bản.
Thực chất, tổng công ty chỉ can thiệp vào hoạt động của các công ty thành viên bằng các
quyết định mang tính hành chính. Đây là một nguyên tắc tối kỵ trong việc tổ chức mô hình
hoạt động của tập đoàn. Đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại và công ty bảo
hiểm, cơ chế điều chuyển vốn rõ ràng hơn những vốn điều chuyển thực chất là vốn huy động
chứ không phải vốn điều lệ của công ty mẹ.
Việc mở rộng hoạt động theo hướng đa ngành, đa nghề, đa lĩnh vực sẽ đưa các tập đoàn tài
chính của Việt Nam trở thành một mô hình khép kín từ nghiên cứu, đầu tư, sản xuất đến lưu
thông phân phối và xuất khẩu. Chính sự khép kín của mô hình tập đoàn là một trong những
nguyên nhân khiến cảnh báo từ giới phân tích kinh tế về cơ chế kiểm soát hoạt động của mô
hình này ngày càng lớn. Đòi hỏi về việc công khai, minh bạch trong quản trị điều hành của mô
hình tập đoàn được đặt ra hết sức cấp thiết. Việc chuyển đổi sang hoạt động theo Luật doanh
nghiệp năm 2005 cũng đang được chờ đợi như một điều kiện để luật hoá hoạt động của các
doanh nghiệp này trên mặt bằng pháp lý chung.
Trường hợp của Bảo Việt
Bảo Việt là Tổng Công ty duy nhất tại Việt Nam có khả năng cung cấp cả dịch vụ bảo hiểm
nhân thọ và phi nhân thọ. Cùng với quá trình phát triển thành một tập đoàn tài chính đa
ngành, Bảo Việt cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tài chính kết hợp khác gồm môi giới
chứng khoán, đầu tư. Bảo Việt quan hệ đầu tư để kết hợp với các tổ chức khác cung cấp cho
khách hàng các dịch vụ như ngân hàng, bất động sản, vui chơi giải trí, khách sạn, in ấn và các
lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác.
Kể từ tháng 10 năm 2003, hoạt động kinh doanh của Bảo Việt đã được tổ chức lại theo mô
hình tập đoàn tài chính với vốn điều lệ là 3000 tỷ VNĐ (tức 200 triệu USD). Bên cạnh đó, bắt
đầu từ ngày 01 tháng 01 năm 2004, hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ được thực hiện
bởi Bảo Việt Nhân Thọ, một đơn vị thành viên hạch toán độc lập trực thuộc Bảo Việt. Bảo Việt
Nhân Thọ hoạt động với một mạng lưới toàn quốc bao gồm 61 công ty thành viên, 250 phòng

4.PGS.TS. Phan Thị Thu Hà (chủ biên), Giáo trình Ngân hàng thương mại
5.PGS.TS. Phạm Quang Trung và các cộng sự: "Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính
của các Tổng công ty 90-91 theo mô hình công ty mẹ - công ty con". Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp bộ mã số B2003.38.53
6.PGS.TS. Lưu Thị Hương và các cộng sự "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các
doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay". Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ mã số
B2003.38.54
7.Vũ Đình Hiển: "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Tổng công ty dầu khí Việt Nam". Luận
án Tiến sỹ kinh tế, Hà Nội - 2004.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status