.
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử phát triển của xã hội loài người gắn liền với giáo dục, giáo dục là một nhu cầu
không thể thiếu của xã hội loài người. Xét về nguồn gốc, giáo dục xuất hiện trong cuộc sống,
nhằm mục đích truyền thụ tri thức, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lao động từ người này
sang người khác, từ thế hệ này đến thế hệ khác, nó là chất kết dính biến cộng đồng loài người
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA
BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO CỦA PHÒNG GIÁO DỤC
TRONG XÂY DỰNG KẾ HOẠCH NĂM HỌC
Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
HUYỆN ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hường
Khoá : 54
Chức vụ : Cán bộ chuyên môn
Đơn vị công tác : Phòng Giáo dục và Đào tạo
huyện Đông Triều - tỉnh Quảng Ninh
Hµ Néi, th¸ng 4 n¨m 2008
thành một cấu trúc hoàn hảo. ở nước ta,nghĩa cử "Tôn sư trọng đạo" là truyền thống quý báu
của dân tộc, nhà giáo luôn được xã hội yêu mến, kính trọng .Các Nghị quyết Đại hội Đảng lần
MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu. 3
Phần Nội dung 5
đông triều tỉnh quảng ninh
14
2.1. Đặc điểm chung của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Đông Triều. 14
2.1.1.Đặc điểm địa lí, kinh tế, chính trị, xã hội. 14
2.2.Đặc điểm của Phòng GD&ĐT huyện Đông Triều. 15
2.3. Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch năm học ở các trường Tiểu
học trong huyện. 15
2.3.1. Về nhận thức 15
2.3.2. Về thời gian xây dựng kế họach năm học. 16
2.3.3. Các bước tiến hành xây dựng kế hoạch năm học 16
2.4. Thực trạng công tác chỉ đạo xây dựng kế hoạch năm học của
Phòng GD&ĐT huyện Đông Triều. 18
2.5. Đánh giá, nhận xét về thực trạng công tác xây dưng kế hoạch năm
học ở các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Đông Triều tỉnh Quảng
Ninh. 19
2.6. Nguyên nhân tồn tại trong việc xây dựng kế hoạch năm học ở các trường Tiểu học
trên địa bàn huyện Đông Triều. 21
chương III Biện pháp chỉ đạo của phòng giáo dục và
đào tạo trong việc xây dựng kế hoạch năm học ở các trường tiểu học huyện Đông triều tỉnh
Quảng Ninh 23
3.1. Chỉ đạo nâng cao nhận thức, lý luận về công tác xây dựng kế hoạch năm học.
23
3.2. Chỉ đạo việc xác định các căn cứ để xây dựng kế hoạch
3
một cách cụ thể 25
3.2.1 Các yếu tố, đặc điểm của địa phương nơi trường đóng. 25
3.2.2. Nghiên cứu nắm bắt, thấu suốt các nghị quyết, văn bản hướng dẫn
của Đảng, chính quyền địa phương và chính quyền cấp trên,
theo nghành và lãnh thổ. 25
3.2.3. Tình hình nhà trường 26
trò quan trọng của người quản lí Giáo dục với các chức năng cơ bản của nó : Chức năng kế
hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo, chức năng kiểm tra.
Chức năng kế hoạch là một trong những chức năng quan trọng và có quan hệ biện
chứng hữu cơ với các chức năng khác. Không có kế hoạch người quản lí không thể chỉ dẫn,
lãnh đạo người dưới quyền hành động một cách chắc chắn với những kì vọng đặt vào kết quả
mong đạt tới được.Không có kế hoạch không thể xác định được tổ chức hướng tới đúng hay
chệch mục tiêu và không biết khi nào đạt được mục tiêu và sự kiểm tra trở thành vô căn
cứ.Việc xây dựng kế hoạch càng cụ thể, chi tiết, khoa học thì tính hiệu quả càng cao.
Trong thực tế, mỗi người khi làm bất cứ công việc gì, dù ở lĩnh vực nào cũng cần có
kế hoạch" Kinh tế có kế hoạch, Giáo dục cũng cần phải có kế hoạch".( Lời phát biểu của
Bác Hồ trong Đại hội Giáo dục phổ thông toàn quốc).
Xác định rõ tầm quan trọng của kế hoạch trong sự nghiệp phát triển đất nước Đảng ta
chỉ rõ : " Đổi mới mạnh mẽ công tác kế hoạch hoá nâng cao tính định hướng, dự báo nâng cao
chất lượng của công tác quản lí và kế hoạch, gắn quản lí kế hoạch với kinh tế thị trường -
5
hoàn thành thông tin dự báo phục vụ kế hoạch, gắn kế hoạch với cơ chế chính sách". ( Văn
kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ I X, trang 325).
Tiểu học là bậc học nền móng của ngôi nhà tri thức. Một trong những nhân tố quan
trọng để tạo lên sự vững chắc của nền móng đó là đội ngũ các thầy cô giáo và để đội ngũ đó
phát huy tốt vai trò của mình thì người hiệu trưởng phải xây dựng được một bản kế hoạch chi
tiết, cụ thể,rõ ràng phù hợp với đặc điểm tình hình nhà trường, địa phương, phải bám sát yêu
cầu, chỉ thị nhiệm vụ năm học của ngành, cấp học đồng thời phải mang tính khả thi cao.
Phòng Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chức năng thuộc UBND huyện có trách nhiệm
quản lí, chỉ đạo các hoạt động Giáo dục trên địa bàn huyện.
Trong những năm qua, việc chỉ đạo của phòng GD và ĐT đối với các trường tiểu học
trong huyện đã có nhiều tích cực, việc duyệt kế hoạch đầu năm học của các trường là việc làm
thường xuyên. Thực tế cho thấy,việc lập kế hoạch năm học ở các trường Tiểu học của huyện
Đông Triều là việc làm được các nhà quản lí ưu tiên dành nhiều thời gian, công sức, trí tuệ
nhằm xây dựng cho nhà trường một chương trình làm việc tối ưu. Song do địa bàn huyện địa
lý phức tạp, trình độ cán bộ không đồng đều việc chỉ đạo xây dựng kế hoạch năm học của các
- Nghiên cứu các tài liệu sư phạm có liên quan đến xây dựng kế hoạch năm học.
5.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
5.3.Phương pháp nghiên cứu hỗ trợ
- Phương pháp thống kê toán học.
7
Phần Nội dung
Chương 1: cơ sở khoa học của công tác kế hoạch
hoá trong giáo dục và đào tạo.
1. Cơ sở lí luận của công tác kế hoạch hoá trong Giáo dục & Đào tạo.
1.1.Một số khái niệm liên quan.
1.1.1. Kế hoạch:
Kế hoạch là những điều vạch ra một cách có hệ thống về những công việc dự định
làm trong một thời gian nhất định với cách thức, trình tự thời hạn tiến hành.
1. 1.2.kế hoạch hoá:
Kế hoạch hoá là công cụ quản lí được thể hiện bằng hai đặc trưng cơ bản định hướng
có lượng hoá ở mức độ cho phép và giữ được trạng thái tương đối giữa các bộ phận cấu thành
của nền kinh tế ( ở tầm vĩ mô) trong từng thời kì.
" Kế hoạch hoá là làm phát triển một cách có kế hoạch"( Viện ngôn ngữ . Từ điển
Tiếng việt - NXB Đà Nẵng. Trung tâm từ điển học 1997)
1.1.3. Kế hoạch hoá trong Giáo dục và Đào tạo.
Kế hoạch hoá trong Giáo dục với nghĩa rộng nhất là áp dụng sự phân tích hệ thống và
hợp lí các quá trình phát triển Giáo dục với mục đích làm cho Giáo dục đạt được kết quả và
có hiệu quả hơn, phù hợp với yêu cầu của xã hội và nhiệm vụ người học đặt ra( Educcaion
Planning, Me xico. 1990).
1.1.4. Kế hoạch hoá năm học.
Trong quá trình quản lí nhà trường, nếu thực hiện tốt chức năng kế hoạch hoá sẽ giúp
cho hiệu trưởng ứng phó kịp thời các tình huống sảy ra đồng thời khi thực hiện tốt các chức
năng kế hoạch hoá cũng sẽ giúp cho hiệu trưởng thực hiện các chức năng quản lí khác một
cách có hiệu quả.
Bản kế hoạch là quyết định đầu tiên của người quản lí để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ
giáo dục- đào tạo của nhà trường.
1.2.3. Tác dụng.
- Xây dựng kế hoạch hoá để phối hợp các hoạt động trong tổ chức ( trường học).
- Xây dựng kế hoạch để khẳng định sự phát triển của tổ chức trong tương lai.
.Xây dựng kế hoạch là một dự báo trạng thái của hệ thống ( Tổ chức- trường học )
Trong một tương lai gần đối với kế hoạch ngắn hạn và tương lai xa đối với kế hoạch dài
hạn.Các chỉ tiêu, mục tiêu mà kế hoạch đặt ra là khẳng định bước tiến của nhà trường, nó là
động lực để thúc đẩy quá trình hoạt động của các bộ phận, tạo ra một cái đích để cá nhân và tổ
chức hướng tới.
- Xây dựng kế hoạch để đảm bảo cơ sở hợp lí cho hoạt động tổ chức và tạo khả năng
thực hiện các hoạt động một cách kinh tế. Khi xây dựng kế hoạch, chúng ta phải phân bố các
nguồn lực( nhân lực, vật lực, tài lực) một cách cân đối hợp lí, chú y ưu tiên cho những hoạt
động trọng tâm, trọng điểm
- Kế hoạch có tác dụng kiểm tra: Kế hoạch được xem như một công cụ quản lí.Kế
hoạch tạo điều kiện cho người quản lí điều tra, đánh giá việc thực hiện các hoạt động của cá
nhân, tập thể trong tổ chức.Người quản lí dùng kế hoạch để so sánh, đối chiếu, xem xét và
điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt mục tiêu đề ra.
1.2.4.Tính chất:
Kế hoạch trong GD&ĐT vừa có tính khái quát vừa có tính cụ thể.
- Tính khái quát: Kế hoạch là định hướng chung.
- Tính cụ thể: Kế hoạch đề ra những chỉ tiêu cụ thể, những biện pháp phù hợp khả thi
để đạt được các chỉ tiêu đó.
1.3. Nguyên tắc lập kế hoạch
Trong hoạt động quản lí nói chung và hoạt động quản lí GD nói riêng, việc đề ra và
chấp hành các nguyên tắc là việc làm cần thiết vì vậy đây là luận điểm có tính chất cơ sở và
cậy. Phải có các chỉ tiêu hợp lý,các chỉ báo, chuẩn mực rõ ràng để đo đếm được kết quả đầu ra
của sản phẩm.
- Tính thực tiễn: là kế hoạch phải phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường, địa
phương; phù hợp với khả năng, năng lực thực hiện và khả năng có thể có của nguồn lực. Khi
đó kế hoạch mới mang tính khả thi cao.
1.3.4. Nguyên tắc đảm bảo tính cân đối, thống nhất và ưu tiên nhiệm vụ trọng tâm.
Nội dung bản kế hoạch phải đảm bảo tính cân đối, thống nhất các mục tiêu, chỉ tiêu
cũng như các biện pháp thực hiện.
11
Hệ thống các mục tiêu phải sắp xếp một các hợp lý, chặt chẽ; mọi kế hoạch cục bộ của
các bộ phận cần được lồng ghép trong kế hoạch chung, có mối quan hệ tác động tương hỗ lẫn
nhau. Trong hệ thống các mục tiêu phải xác định được mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm một cách
hợp lý. Dành thời gian và kinh phí cho thực hiện từng nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể.
1.3.5 Nguyên tắc đảm bảo tính liên tục, kế thừa và phát triển
Khi xây dựng kế hoạch năm học phải dựa trên những thành tựu dã đạt được trong năm
quavà những năm học trước để làm cơ sở. Đồng thời kế hoạch năm học này cũng là tiền đề
căn cứ cho xây dựng kế hoạch năm học tiếp sau. Kế hoạch năm học sau phải phát triển những
thành tựu của năm học trướclên một bước cao hơn, đồng thời khắc phục được những yếu
điểm của năm trước để nhà trường ngày một phát triển đi lên.
1.3.6 Nguyên tắc đảm bảo tính pháp lệnh và tính linh hoạt
Bản kế hoạch năm học là quyết định quản lý hành chính tổng hợp do đó mọi chỉ tiêu,
nhiệm vụ đặt ra trong bản kế hoạch trở thành pháp lệnh đối với mọi thành viên trong nhà
trường, buộc mọi người liên quan phải nghiêm chỉnh thực hiện.
1.3.7.Nguyên tắc đảm bảo tínhkinh tế và tính hiệu quả.
Khi xây dựng kế hoạch, cần tính đến tính kinh tế và tính hiệu quả. Các biện pháp đề ra
để thực hiện mục tiêu, cần hạn chế mức thấp nhất các chi phí nhưng phải đạt được kết quả cao
nhất.
Các nguyên tắc của kế hoạch có liên quan mật thiết với nhau, nguyên tắc này bổ sung,
hỗ trợ nguyên tắc kia. Trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện, người hiệu trưởng cần
chú ý đến các nguyên tắc kể trên và phải vận dụng linh hoạt trong từng nhiệm vụ cụ thể.
thảo luận tập thể ( Thông qua hội nghị công chức đầu năm học).Trình cấp trên ( Phòng giáo
dục, chính quyền địa phương ) xét duyệt.
+ Lập chương trình hành động . Bước này bao gồm các công việc cụ thể:
. Phân tích thời gian thực hiện
. Phân công người phụ trách
. Phân bổ ngân sách cho các mục tiêu
. Lập kế hoạch hỗ trợ và kế hoạch điều hành của người quản lí.
Sau khi kế hoạch được phê duyệt,kế hoạch có giá trị pháp lí với toàn thể nhà trường,
địa phương và cấp trên.
1.5. Các phương pháp sử dụng trong xây dựng kế hoạch
1.5.1. Phương pháp cân đối : Thiết lập được sự tương xứng giữa nhu cầu và khả năng, từ đó
tìm cách làm cho hai phạm trù này đừng tách biệt nhau. Công cụ chủ yếu của phương pháp
này là xây dựng bảng cân đối trong đó cột nhu cầu lập trước, cột khả năng lập sau và độc lập
với nhau.
VD : Khi lập kế hoạch về công tác phát triển ở một trường thì hiệu trưởng đã sử dụng
phương pháp cân đối như sau:(Bảng 1)
13
Từ bảng trên cho thấy khi lập kế hoạch về công tác phát triển, người cán bộ quản lí
cần:
. Hoặc đưa ra chỉ tiêu về số lớp ít hơn so với nhu cầu trên.
. Hoặc đáp ứng nhu cầu bằng cách huy động các nguồn vốn để xây dựng thêm phòng
họ
Bảng 1 : Cân đối giữa nhu cầu và khả năng
Nhu cầu phát triển Khả năng
Khối 1 : 6 lớp
Khối 2: 5 lớp
Khối 3: 6 lớp
Khối 4: 7 lớp
Khối 5: 5 lớp
Số phòng học 24
. Trong đó diện
tích đất nông nghiệp 10536 ha, còn lại là đất đồi núi, sông suối. Đường xá đi lại có trục quốc
lộ 18A đi qua trung tâm huyện, còn lại là đường liên xã trải nhựa và đường đất. Nhiều trường
phải đi qua cầu nhỏ, suối sâu. Vào mùa mưa rất khó khăn cho việc đi lại. Dân số trên 15 vạn
người, có11 dân tộc anh em, dân tộc kinh chiếm 95%. Cư trú ở 21 đơn vị hành chính (19 xã, 2
thị trấn). Từ trước đến nay Đông Triều luôn là vị trí chiến lược quan trọng của Quảng Ninh và
cả nước về chính trị, kinh tế, Quốc phòng- An ninh. Đông Triều có tiềm năng phát triển kinh
15
tế tổng hợp : Nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch. Có đường
bộ, đường sắt, đường sông nối liền Hà Nội, Hải Phòng, và các tỉnh lân cận với Quảng Ninh.
Có nhiều bến bãi thuận lợi cho việc neo đậu tàu thuyền.
Đông Triều là mảnh đất có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời gắn liền với đời Trần,
có nhiều di tích văn hoá lịch sử được xếp hạng Quốc gia như : Đền Sinh và các lăng mộ vua
Trần, chùa Quỳnh Lâm, cụm di tích lịch sử văn hoá Yên Đức Cùng với các danh lam thắng
cảnh khác tạo nên một quần thể du lịch độc đáo, đa dạng. Lịch sử của nhân dân Đông Triều là
lịch sử đấu tranh bền bỉ dẻo dai, kiên cường, bất khuất để chinh phục tự nhiên, chiến thắng kẻ
thù, nhất là từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
60 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Đông Triều đã có nhiều
đóng góp xứng đáng vào cuộc đâú tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, được
Đảng và nhà nước tặng thưởng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được tặng
thưởng huân chương độc lập hạng ba trong thời kì đôỉ mới và nhiều huân, huy chương khác.
2 2.Đặc điểm của Phòng GD&ĐT huyện Đông Triều.
Huyện Đông Triều là một trong những đơn vị hoàn thành sớm phổ cập giáo dục tiểu
học (năm 1998), hổ cập THCS (năm 2003). Hệ thống mạng lưới trường lớp phát triển mạnh
mẽ với nhiều loại hình trường. Các xã, thị trấn đều có hệ thống trường từ Mầm non đến Tiểu
học và THCS. Toàn huyện có 71 trường trong đó có 24 trường Mầm non (có một trường Mầm
non tư thục), 24 trường Tiểu học, 23 trường THCS và 1 trường PTCS. Quy mô Giáo dục tăng
nhanh bước đầu đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh trên địa bàn huyện. Riêng trên địa bàn
Thị trấn Mạo Khê có ba vạn dân và có tới 5 trường Tiểu học, 3 trường THCS, 3 trường Mầm
non và nhiều nhóm lớp Mầm non tư thục khác.
nhiệm vụ năm học của ngành và địa phương.
- Xác định mục tiêu, nhiệm vụ năm học: Đã dựa vào các căn cứ đã xác định để đề ra
mục tiêu tổng quát của nhà trường, sau đó triển khai thành nhiệm vụ cụ thể.
- Giải pháp thực hiện:Căn cứ vào từng nhiệm vụ cụ thể, hiệu trưởng đề ra các giải
pháp xây dựng kế hoạch; trong 2 tháng 6 và tháng 7 hiệu trưởng tiến hành thu thập và xử lí
thông tin cần thiết phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch năm học mới
+ Bảng báo cáo chất lượng năm học mới.
+ Tình hình địa phương có ảnh hưởng đến nhà trường
+ Những biến động về đội ngũ cán bộ giáo viên của trường, ngành
+ Tình hình học sinh
+ Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho dạy học và học trong năm học mới
Từ những số liệu trên, hiệu trưởng lập kế hoạch sơ bộ cho năm học mới. Trong
đó xã định hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu cần đạt được của nhà trường, các điều kiện cần thiết
cho kế hoạch (nhân lực, vật lực, tài lực).
Đến giữa tháng 9(15/9) sau khi nhận được các văn bản, chỉ thị, hiệu trưởng cụ thể hoá
các chỉ tiêu, nhiệm vụ của nhà trường và đưa ra những định hướng chung cho bản kế hoạch.
Các cá nhân tự xây dựng kế hoạch cho mình theo nhiệm vụ được giao, đăng ký các danh hiệu
17
thi đua cá nhân, tập thể và thông qua trước tổ, khối , khối duyệt và tập hợp chung lại thành
nhiệm vụ chung. Căn cứ vào các kết quả đó, hiệu trưởng xây dựng thành kế hoạch của nhà
trường, thông qua Hội nghị cán bộ công chức đầu năm học. Lấy ý kiến thống nhất, trình lãnh
đạo phòng xét duyệt, sau đó trường tổ chức triển khai thực hiện.
- Chất lượng bản kế hoạch
Về nội dung và cấu trúc gồm 2 phần
I. Đặc điểm tình hình
1. Tình hình chung
2. Số lượng:
- Học sinh
- Đội ngũ
3. Những thuận lợi , khó khăn
văn bản và nội dung các văn bản đó phải được quán triệt trong kế hoạch.
- Các trường khi xây dựng kế hoạch phải căn cứ vào: nguyên tắc, nội dung, phương
pháp xây dựng kế hoạch.
- Chuẩn bị tốt khâu nhân lực, vật lực, nguồn tài chính. Muốn làm tốt vấn đề này yêu
cầu các trường phải tiến hành khảo sát về nhân lực( biên chế cho bao nhiêu),vật lực, nguồn tài
chính( lấy ở đâu ).
- Yêu cầu hiệu trưởng dự thảo xây dựng kế hoạch, các cán bộ giáo viên hợp tác tổ
chức đoàn thể tham gia có ý kiến. Hiệu trưởng điều chỉnh, căn cứ vào thực tế địa phương để
đề ra các chỉ tiêu, biện pháp thực hiện.
- Hiệu trưởng điều chỉnh xây dựng lại kế hoạch, địa phương và ngành tham gia góp ý
kiến.
- Duyệt kế hoạch chính thức của nhà trường vào cuối tháng 8, đầu tháng
2.5.Đánh giá, nhận xét về thực trạng công tác xây dưng kế hoạch năm học ở các trường
Tiểu học trên địa bàn huyện Đông Triều tỉnh Qunảng Ninh.
- Về nhận thức: Các hiệu trưởng đã nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của công tác xây
dựng kế hoạch năm học đối với hoạt đông của nhà trường.
- Về thời gian: Thời gian xây dựng kế hoạch ở các trường tiểu học. Ngay từ tháng 6 và tháng
7 việc thu thập các thông tin, số liệu đặc biệt là yêu cầu về cơ sở vật chất cho năm học mới là
hợp lí và cần thiết.
Thời gian xây dựng kế hoạch tuy rất dài nhưng thời gian thực tế cho việc xây dựng kế
hoạch lại rất ít. Chủ yếu thời gian này là dành cho việc xây dựng cơ sở vật chất nhà trường,
ngoài ra các việc còn lại hầu như đã bỏ sót (như kết quả năm học trước, tình hình học sinh )
thì hầu như đã có sẵn.Thời gian xây dựng kế họach thực tế lại rất ít, chỉ có khoảng 2 tuần.
Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do hiệu trưởng chưa nắm chắc lí luận về xây
dựng kế hoạch, còn xem nhẹ giai đoạn tiền kế hoạch và xây dựng kế hoạch sơ bộ. Nguyên
nhân nữa là do các văn bản chỉ thị, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học mới của các cấp
19
lãnh đạo gửi về trường còn chậm( khoảng giữa tháng 9), thời gian này nhà trường đã đi vào
hoạt động dạy và học, các hiệu trưởng lại tổ chức họp các tổ bộ phận để lấy các số liệu cần
thiết. Sau đó mới xây dựng kế hoạch chính thức trình phòng giáo dục duyệt.
động và gặp nhiều khó khăn.
20
- Về cấu trúc bản kế hoạch: Bản kế hoạch chỉ gồm 2 phần: phầnI (đặc điểm tình hình), phần 2
(phương hướng nhiệm vụ năm học)
Trong 2 phần trên đã đề ra nhiệm vụ cụ thể, các chỉ tiêu và biện pháp thực hiện. Như
vậy trong phần cấu trúc bản kế hoạch năm học đa số chưa thể hiện chương trình hoá bản kế
hoạch. Nếu không thể hiện phần này, khi tổ chức thực hiện kế hoạch năm học sẽ gặp nhiều
khó khăn cho việc theo dõi chỉ đạo, quản lý kế hoạch, dẫn đến bỏ sót công việc.
- Nội dung bản kế hoạch:
Qua xem xét, nghiên cứu, đối chiếu một số bản kế hoạch năm học gần đây của các
trường tiểu học trong huyện Đông Triều. Tôi thấy: ở cả 2 phần đặc điểm và tình hình nhiệm
vụ năm học của hiệu trưởng đã làm rõ ràng, cụ thể. Điều đó cho thấy hiệu trưởng đã có nhiều
kinh nghiệm, sâu xát trong quản lí, chỉ đạo. Các nhiệm vụ cụ thể đều chỉ ra yêu cầu, chỉ tiêu ,
biện pháp. Đó là phần cơ bản nhất của bản kế hoạch mà hiệu trưởng đã làm tốt.
Khi xây dựng kế hoạch năm học hiệu trưởng đã phân tích, đánh giá kỹ về tình hình
học sinh, thực lực của đội ngũ, căn cứ vào tình hình thực tiễn của địa phương nên các chỉ tiêu
đặt ra đều đã đạt được, kế hoạch có tính khả thi.
2.6. Nguyên nhân tồn tai trong việc xây dựng kế hoạch năm học ở các trường Tiểu học
trên địa bàn huyện Đông Triều.
Qua tìm hiểu, nghiên cứu cho thấy nguyên nhân của những bất cập nêu trên là:
Hiệu trưởng chưa nắm chắc lý luận, chưa xác định đúng đắn các căn cứ để xây dựng
kế hoạch năm học một cách cụ thể, chưa chú ý đến việc nâng cao nhận thức về công tác xây
dựng kế hoạch cho đội ngũ cán bộ, giáo viên trong nhà trường.
Trong xây dựng kế hoạch còn xem nhẹ các căn cứ, vẫn còn biểu hiện thiếu tập trung
dân chủ, không phát huy tính chủ động trong xây dựng kế hoạch, bản kế hoạch năm học vẫn
mang tính hình thức.
Các văn bản chỉ thị, hướng dẫn của các cấp gửi xuống trường còn chậm so với thời
gian quy định. do vậy hiệu trưởng hay bị động trong xây dựng kế hoạch năm học.
Trên đây là những nét cơ bản về thực trạng công tác xây dựng kế hoạch năm học ở các
trừơng Tiểu học trên địa bàn huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh. Trên cơ sở những lý luận đã
nhân không thành công. Trong đó đặc biệt chú ý đến việc xây dựng kế hoạch cho năm học,
các hoạt động trong năm như thế nào, có phù hợp, sát thực tiễn hay không, có khả năng thực
hiện hay không? Từ đó mọi người sẽ nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác xây dựng
kế hoạch và xây dựng kế hoạch năm học.
Làm cho tập thể thấy dược rằng: Việc xây dựng kế hoạch là công việc, trách nhiệm
của tập thể. Mọi người phải nhận thức được điều đó và tập trung trí tuệ xây dựng bản kế
hoạch năm học cho có chất lượng, có tính khả thi cao. Nếu làm không tốt sẽ ảnh hưởng lớn
đến hoạt động của một nhà trường.
Để làm dược điều đó, hiệu trưởng phải là người luôn biết lắng nghe các ý kiến đóng
góp của đội ngũ giáo viên, nhân viên trong nhà trường, không áp đặt ý kiến chủ quan trong
xây dựng kế hoạch năm học. Phải trân trọng những ý kiến đóng góp, sáng kiến của các thành
viên của nhà trường trong quá trình xây dựng kế hoạch năm học, đặc biệt trong việc tìm ra các
biện pháp thực hiện nhiệm vụ, chỉ tiêu đã đề ra.
Thường xuyên kiểm tra đôn đốc, nhắc nhở mọi người làm việc theo kế hoạch cá nhân,
kế hoạch của nhà trường để xem mình đã tiến hành thực hiện nhiệm vụ tới đâu, có gì phải bổ
sung, điều chỉnh? Biết công việc tiếp theo là gì, làm như thế nào và vào thời điểm nào? Có
như vậy mọi người mới thấy rõ thiết thực của bản kế hoạch, có thói quen làm việc theo kế
hoạch và như vậy bản kế hoạch năm học mới thực sự cần thiết, không thể thiếu với mỗi cá
nhân.
Bên cạnh việc nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý , đội ngũ giáo viên, nhân viên
về công tác xây dựng kế hoạch thì việc bồi dữơng lý luận về công tác xây dựng kế họach năm
học cũng là một việc rất cần thiết. Người hiệu trưởng nếu không nắm hoặc nắm không vững
lý luận xây dựng kế hoạch thì việc xây dựng kế hoạch sẽ không đảm bảo yêu cầu, dễ vi phạm
nguyên tắc khi soạn thảo.
23
Để khắc phục những hạn chế đó, người hiệu trưởng phải không ngừng nâng cao trình
độ lý luận của mình bằng cách:
- Tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng về công tác quản lý, luôn có ý thức tự học, tự
bồi dưỡng như nghiên cứu tài liệu, sách báo, học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp, tham khảo
các bản kế hoạch được đánh giá là đầy đủ cấu trúc, nội dung sát thực tế.
phương tạo điều kiệncho các hoạt động của nhà trường.
3.2.2. Nghiên cứu nắm bắt, thấu suốt các nghị quyết, văn bản hướng dẫn của Đảng, chính
quyền địa phương và chính quyền cấp trên, theo nghành và lãnh thổ.
Các chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ địa phương, nhiệm vụ năm học mà ngành triển
khai; các chỉ thị về kinh tế, chính trị; các chính sách trong các lĩnh vực cụ thể của trung ương
và địa phương liên quan tới giáo dục.
3.2.3. Tình hình nhà trường
Cần phải khảo sát thống kê, điều tra cụ thể những vấn đề sau:
- Tình hình đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường: Phân tích kỹ về số lượng, chất lượng
(điểm mạnh, điểm yếu), những biến động của đội ngũ này trong năm học mới.
Tình hình học sinh trong năm học mới: Số lượng, chất lượng học sinh năm học cũ;
số lượng, chất lượng học sinh năm học mới (nam, nữ, con gia đình chính sách, học sinh năng
khiếu, khuyết tật )
- Cơ sở thiết bị dạy và học của nhà trường: thống kê số lượng, chất lượng để có kế
hoạch sửa chữa, mua mới cho phù hợp.
- Nguồn tài chính của nhà trường: Cần phải tìm hiểu và nắm chắc nguồn tài chính cho
hoạt động của nhà trường( từ ngân sách nhà nước, địa phương, tự khai thác ), cân đối chi các
hạng mục, các công việc theo đúng nguyên tắc tài chính.
- Kết quả thực hiện năm học trước: Cần phải rút kinh nghiệm từ những thành công và
thất bại của năm học trước, phân tích những nguyên nhân để áp dụng cho có hiệu quả hơn
- Kế hoạch dài hạn của nhà trường.
3.2.4. Nắm vững mục tiêu giáo dục tiểu học.
Đây là căn cứ quan trọng vì nó định hướng chung cho sự phát triển của ngành mà các
trường tiểu học cần phải thực hiện. Hiệu trưởng cần nắm vững, hiểu thấu đáo để làm căn cứ
cho xây dựng kế hoạch năm học.
3.3. Chỉ đạo đảm bảo thời gian, quy trình xây dựng kế hoạch
Để đảm bảo khoa học và bản kế hoạch có tính khả thi cao, tuỳ theo từng trường, địa
phương mà hiệu trưởng chủ động sắp xếp thời gian một cách hợp lý. Nhìn chung có thể phân
bố thời gian theo các giai đoạn của quy trình xây dựng kế hoạch năm học như sau:
3.3.1. Giai đoạn tiền kế hoạch: Giai đoạn này triển khai từ đầu tháng 6 đến hết tháng 7.