Tài liệu Phát Họa Chân Dung Người Lính - Pdf 97

Thử Phát Họa Chân Dung Người Lính Thời Xưa
ĐÀO ĐỨC NHUẬN

Hơn bốn ngàn năm lập quốc, ngay từ những năm tháng sơ khai, dân tộc ta đã phải đương
đầu với tai họa chiến tranh. Cuộc chiến đấu vệ quốc đầu tiên của dân tộc Việt Nam xảy
ra dưới thời Hồng Bàng, cách nay hơn 4 ngàn năm. Truyền thuyết kể rằng : “ Đời Hùng
Vương thứ 6 có đám giặc gọi là giặc Ân, hùng mạnh lắm, không ai đánh nổi. Vua mới sai
sứ đi rao trong nước để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp nước. Bấy giờ ở làng Phù
Đổng, bộ Võ Ninh (nay là huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh) có đứa trẻ xin đi đánh giặc
giúp vua. Sứ giả về tâu vua, vua lấy làm lạ, cho đòi vào chầu. Đứa trẻ ấy xin đúc cho
một con ngựa và cái roi bằng sắt. Khi ngựa và roi đúc xong thì đứa trẻ ấy vươn vai một
cái, tự nhiên người cao lớn lên một trượng, rồi nhảy lên ngựa cầm roi đi đánh giặc.
Phá được giặc Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn thì biến đi mất. Vua nhớ ơn, truyền
lập đền thờ ở làng Phù Đổng, về sau phong là Phù Đổng Thiên Vương.” (1). Đứa-trẻ-
chiến-binh của làng Phù Đổng – chính là đại biểu của tuổi trẻ Việt Nam, một tuổi trẻ giàu
lòng yêu nước – trải qua mấy ngàn năm lịch sử vẫn được nhân dân ta gọi là Thánh Gióng
! Và hình ảnh của người chiến sĩ đầu tiên đó đã được nhân dân ta nhắc đến với một tấm
lòng kính phục và biết ơn sâu sắc :
Nhớ xưa đương thuở triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nổi ra kỳ tài
Lên ba đang tuổi anh hài
Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền
Một phen khói lửa dẹp yên
Sóc Sơn nhẹï gót thần tiên lên trời !
Và để tưởng nhớ người chiến binh anh hùng đầu tiên của dân tộc, không biết tự bao giờ,
cứ vào ngày 9 tháng Tư âm lịch, nhân dân quanh làng Phù Đổng, tục gọi là làng Gióng,
thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh lại tổ chức ngày Hội Gióng :
Mồng bảy hội Khám
Mồng tám hội Dâu

hình ảnh hào hùng của các bậc anh hào nữ kiệt trong các tác phẩm diễn ca lịch sử như
Thiên Nam Ngữ Lục của Vô danh thị hay Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và
Phạm Đình Toái !
Và một phần nữa là ở trong Ca Dao.
Mà người lính trong ca dao dù có được nhắc đến cũng không phải là nhiều so với những
công trạng, những thử thách, những gian nguy khổ ải mà họ đã phải gánh chịu qua suốt
dọc trường kỳ lịch sử của Dân Tộc. Vả lại, ngày nay có căn cứ theo ca dao để phác họa
lại chân dung của người lính thời xưa thì cũng khó mà phác họa một cách trung thực, bởi
lẽ, ngay trong thời kỳ quốc gia độc lập, trải qua nhiều triều đại cầm quyền, hình ảnh của
người lính chắc cũng không có những thay đổi gì nhiều trong cách trang phục và những
vũ khí mà họ sử dụng. Và sự thay đổi có xảy ra cũng chỉ là từ khi ta chịu ảnh hưởng phần
nào của người Tây phương khi ta bắt đầu giao tiếp với họ bằng con đường tôn giáo và
thương mại. Vả lại, số ca dao còn lai mô tả về người lính cũng không phải là nhiều so với
lượng ca dao đã được sưu tập !
Dưới đây, người viết thử phác họa lại hình ảnh của người lính thời xưa, cái thời mà nền
văn minh của nước ta chưa tiếp xúc với nền văn minh Tây phương. Dĩ nhiên đây chỉ là
hình ảnh người lính chiến thời xưa được dân chúng khắc họa một cách không hoàn hảo,
và cũng dĩ nhiên là ta không rõ đó là hình ảnh người lính chiến thuộc triều đại nào của
lịch sử Việt Nam :
Ngang lưng thì thắt bao vàng,
Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài.
Một tay thì cắp hỏa mai,
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền . . .

Dưới đây là hình ảnh của người lính thời xưa trong một bài ca dao khác:
Lệnh bài sai trẩy Cao Bằng
Cái khăn màu đằng, cái áo màu vang
Ngang lưng anh thắt đai vàng
Vai vác quyển súng, tay mang hòm ngòi . . .
Và trong một bài khác nữa:

Gươm tuốt trần, giáo cắp, mộc mang

- Ngang lưng anh thắt bao vàng
Vai vác quyển súng, tay mang hòm ngòi

- Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài
Một tay thời cắp hỏa mai
Một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền. . .
Súng đây là loại súng bắn đá gọi là “thạch cơ điểu thương”

Nhiệm vụ chính của người chiến binh là đi đánh giặc:
Chẻ tre đan nón
Tá lý khăn xanh
Đánh giặc vùng Thanh
Những khe cùng núi
Những suối cùng đèo
Phận lính thì nghèo
Tiền lương gạo hết . . .

Ngoài nhiệm vụ đánh giặc (?), người lính thời xưa còn phải làm muôn ngàn công việc vất
vả cực nhọc :
Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan
Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai . . .
Hay: Bài sai anh trẩy trấn Hưng
Đi những đường rừng, uống những nước khe
Ngày thời chém tre
Tối vào canh lũy . . .


Chém tre đẵn gỗ trên ngàn,
Hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc măng mai
Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng!

Thân ở nơi biên ải mà hồn thì vưởng vất chốn quê nhà, thương cha thương mẹ, thương vợ
thương con, ngàn mối lo không cách nào xoay xở nổi :
Thương nàng đã đến tháng sinh
Ăn ở một mình, trông cậy vào ai?
Rồi khi sinh gái sinh trai
Sớm khuya mưa nắng lấy ai bạn cùng?

Ở ngoài biên trấn, nỗi lo âu như quấn chặt lấy họ. Lo gì? Nghĩ gì? Trăm mối lo ngổn
ngang trong lòng :
Lính anh lính mới chưa từng
Vai vác khẩu súng nửa mừng nửa lo
Gánh nặng chả ai đỡ cho
Cơn nặng thì ít, cơn lo thì nhiều!

Chính những nỗi lo âu dằn vặt tâm hồn họ. Họ cảm thấy thực sự bế tắc trong cuộc đời
binh ngũ, vì vậy, khi có lệnh xuất quân, họ có cảm nghĩ như mình sắp đi vào tử địa. Cái
tâm trạng lo âu sợ hãi đã bộc lộ một cách hết sức chân thật bằng những giọt nước mắt
chua cay khi có lệnh xuất quân :
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.
Khi nghe tiếng trống xuất quân đổ liên hồi, chàng chiến binh với cái mã ngoài đầy hào
hùng với những “súng dài, hỏa mai, giáo” đã òa lên khóc ! Tội nghiệp ! Có thể chàng
khóc vì phải xa cha mẹ, vợ con. Có thể chàng khóc vì nhiều lý do khác nhau. Nhưng chưa
hẳn chàng là người hèn nhát. Có thể chàng đã khóc vì một lý do chính đáng : chàng
không muốn mình phải hy sinh vô nghĩa trong một cuộc chiến tranh tương tàn, tranh

và sau đó đã đánh tan quân nhà Tống trên sông Như Nguyệt để giữ vững ngọn cờ Độc
Lập của Quốc gia :
Nam Quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !
(Sông núi nước Nam : vua Nam coi.
Rành rành phận định ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Bay sẽ tan tành chết sạch toi!)
( Lý Thường Kiệt – Hoàng Xuân Hãn dịch)
Chắc chắn chàng không phải là người chiến binh dưới ngọn cờ bách thắng của Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn 3 lần chiến thắng đoàn quân Nguyên hùng hổ nhất thời bấy giờ
đã từng kéo quân từ Âu sang Á và đến Việt Nam phải khuất phục dưới sức đề kháng kiên
cường của quân dân thời nhà Trần !
Sâu nhất là sông Bạch Đằng
Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan !

Chắc chắn chàng không phải là người chiến binh của Bình Định Vương Lê Lợi xuất quân
từ Lam Sơn rồi kéo thẳng ra Đông Đô đúng như lòng ước nguyện của muôn dân :
Lạy trời cho cả gió lên
Cho cờ vua Bình Định bay trên kinh thành !
đuổi quân nhà Minh chạy về phương Bắc không dám ngoái đầu lại nhìn đất Đại Việt oai
hùng !

Chắc chắn chàng không phải là người chiến binh dưới hàng quân của Quang Trung
Nguyễn Huệ trong cái ngày xuất quân từ Phú Xuân ra Bắc Hà để tiêu diệt đội quân xâm
lăng của Tôn Sĩ Nghị đang nằm chờ chết ở gò Đống Đa phía nam kinh thành Thăng Long
! “Tinh thần chiến đấu của binh đội Tây Sơn theo nhận xét của nhiều nhà truyền giáo
ngoại quốc, rất là cao. Người lính nào cũng gan dạ, thuần thục, một chống nổi mười nên

của mình mà người chiến binh đã có thể an lòng giao việc phụng thờ tiên tổ cho vợ hiền
để chàng theo vua ra trấn biên ải giữ vững an ninh cho Tổ quốc :
Khen ai khéo tiện ngù cờ
Khéo xây bàn án, khéo thờ tổ tiên
Tổ tiên để lại em thờ
Anh ra ngoài ải cầm cờ theo vua !

Đó thời kỳ của những ông vua vì dân vì nước. Đó là thời kỳ của những bậc minh quân cai
trị quốc gia. Đó là thời kỳ của những Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Quang Trung
Nguyễn Huệ – những vì vua đã đem lại vinh quang cho dân tộc!

Người chiến binh “bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa” như được trích ở trên có
thể đã sinh ra trong một thời kỳ đất nước đầy nhiễu nhương. Trước mắt chàng chỉ là hình
ảnh tranh quyền đoạt lợi giữa những thế lực phong kiến, chẳng hạn như giữa dòng họ
Mạc với dòng họ Lê tạo nên thời kỳ Nam Triều – Bắc Triều (1527-1592), giữa dòng họ
Trinh và dòng họ Nguyễn, giữa dòng họ Nguyễn Tây Sơn với dòng họ Nguyễn (Gia
Long) tạo nên thời kỳ Nam Bắc Phân Tranh kéo dài hàng hai trăm năm (1600-1802).
Chàng đã gia nhập quân đội trong cái tâm trạng bất đắc dĩ như thế nên chẳng cần phải
đợi giờ xuất quân chàng mới “nước mắt như mưa”, mà ngay trong cái công việc phục
dịch ở địa phương chàng cũng đã không cầm được nước mắt vì nghĩ đến cái thân phận bi
thảm của mình:
Nhà vua bắt lính đàn ông
Mười sáu tuổi rưỡi đứng trong công đường
Ai trông thấy lính chẳng thương
Đứng trong công đường nước mắt như mưa.
Vào những thời kỳ loạn lạc tranh ngội đoạt vị giữa các dòng họ Lê-Mạc-Trịnh-Nguyễn
trong hơn 300 năm đó, trai tráng phải chịu trăm cay nghìn đắng vì nạn bắt lính. Đây, ta
hãy xem Thích Đại Sán, một vị hòa thượng Trung Hoa trong khi thi hành Phật sự ở xứ
Đàng Trong thời Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) mô tả những điều mà Ngài
đã mắt thấy tai nghe trong tác phẩm Hải Ngoại Kỷ Sự : “Mỗi năm vào khoảng tháng ba,

người đàn bà Việt Nam mới có đủ can đảm để nói lên sự chịu đựng chua cay đó :
- Chàng ơi! Trẩy sớm hay trưa?
Để em gánh gạo tiễn đưa hành trình

- Thương nàng đã đến tháng sinh
Ăn ở một mình, trông cậy vào ai?
Rồi khi sinh gái, sinh trai
Sớm khuya mưa nắng lấy ai bạn cùng?

- Sinh gái thì em gả chồng,
Sinh trai lấy vợ, mặc lòng thiếp lo!

Chao ôi! Chàng ra đi khi thiếp chưa sinh, vậy mà thiếp đã đoán chừng cho đến ngày con
khôn lớn có thể “dựng vợ, gả chồng” chưa chắc chàng đã trở về! Cái thực tế của một thời
kỳ trong lịch sử Việt Nam là như vậy đó, nhưng chính sử có mấy khi được ghi chép đúng
đắn!

Dưới thời nhà Lý, nhà Trần các thân vương đều có quyền tuyển mộ binh lính và thành
lập các cơ đội riêng. Dĩ nhiên trong tình trạng này, các thân vương không đủ lương phạn
chi phí cho đội quân riêng của mình, do đó, hoặc là binh sĩ phải khai hoang lập điền,
trồng trọt để tạo lương thực hoặc là do chính gia đình người lính phải cung cấp lương
thực cho thân nhân. Dưới đây là tình hình lương bổng của người lính xứ Đàng Trong, từ
đó ta có thể suy ra tình trạng lương bổng cho người lính của các phía đối nghịch nhau
trong cả nước: “Ngoài chánh binh hoặc tinh binh ra, các quan Trấn thủ, Lưu thủ thường
lấy dân địa phương làm lính để canh giữ các nơi, binh ấy gọi là thổ binh, hoặc tạm binh,
hoặc thuộc binh. Số binh ấy rất đông gấp mấy lần chánh binh mà lại không được trả
lương tháng như chánh binh, họ chỉ được miễn sưu thuế mà thôi”. (5). Xem thế tình trạng
người lính tự cung tư dưỡng không phải chỉ xảy ra trong thời nhà Lý, nhà Trần mà nó còn
kéo dài gần như suốt thời kỳ các triều đại phong kiến cai trị đất nước:
* Chàng ơi, trẩy sớm hay trưa

Đời sống của người lính vất vả, gian nan là vậy. Đời sống của người vợ lính gieo neo, vất
vả nào có kém gì. Vì vậy, đã có lúc người ta đã khuyên bảo nhau :
Ai về nhắn nhủ các cô,
Đừng lấy chồng lính thiệt thua trăm đường !

Kể từ thời Lý Nhân Tông (1072-1127), nhà vua cho mở khoa thi tam trường vào năm Ất
mão (1075) để kén nhân tài ra gánh vác việc triều đình , và năm Bính thìn (1076) cho lập
Quốc Tử Giám lấy Tứ Thư Ngũ Kinh làm sách giáo khoa, đào tạo quan lại cho triều đình
thì Nho Giáo thực sự được tôn trọng. Nho Giáo rất chú trong về vấn đề giáo dục đạo đức
– tiên học lễ, hậu học văn – thế nên, trong thời hưng thịnh của Nho Giáo, các quan lại của
triều đình là những người tiêu biểu cho nền đạo đức Nho Giáo, luôn luôn giữ giềng mối
của tam cương (vua tôi, cha con, chồng vợ) và ngũ thường (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín). Thế
nhưng, vào những thời kỳ quốc gia loạn lạc, nạn tranh quyền đoạt vị giữa các dòng họ
hoành hành, thì nền luân lý đạo đức của Nho Giáo cũng suy tàn theo và ta sẽ thấy người
dân đã lột trần mặt nạ của những vị quan ăn trên ngồi trước của triều đình bằng những
hình ảnh châm biếm thật sâu sắc và cũng từ đó ta thấy thân phận của người lính cũng thật
bi đát. Họ phải làm những công việc thật đáng tủi hổ là đi ve gái cho các quan tai to mặt
lớn của triều đình :
Em là con gái đồng trinh
Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè
Ông Nghè sai lính ra ve . . .

Ông Nghè tức là người đỗ Tiến sĩ, học vị cao nhất trong khoa cử ngày xưa. Và ông Nghè
ra làm quan thì chí ít cũng là quan Bố chánh, Án Sát đứng đầu một tỉnh. Vậy mà ông
Nghè đã sai lính đi ve gái cho mình thì còn gì là luân thường đạo lý! Mà cũng tội nghiệp
cho người lính biết chừng nào!

Cái đặc sản của những thời kỳ quốc gia loạn lạc là như vậy đó. Quan đã vậy thì lính cũng
chẳng hơn gì. Cứ xem vào thời mạt vận của triều đại Hậu Lê và dòng họ Trịnh thì đủ biết.
Dòng họ Lê và dòng họ Trinh xuất thân từ Thanh Hóa, nhờ quân sĩ 3 phủ ở Thanh Hóa

Đầu đội nón gỗ
Trấn thủ xa nhà
Vợ con không có, mẹ già ai trông?

Đối với bất cứ triều đại nào, dù là trong thời bình hay thời chiến, quân đội luôn là một tập
thể cần thiết để bảo vệ chính quyền trước nạn nội chiến hay ngoại xâm. Thế nhưng, trên
thực tế, quan văn còn do khoa bảng xuất thân, còn quan võ thì thường là những người
đánh giặc có tài được thăng quan tiến chức, về sau, tuy triều đình có tổ chức các khoa thi
võ và cũng có những học vị như bên văn tức là tú tài, cử nhân hay tiến sĩ võ, nhưng phần
nhiều chữ nghĩa vừa đủ dùng để đọc một số binh thư còn phần lớn là nhờ vào tài võ nghệ
xuất thân. Chính sách của các triều đại cũng thường tỏ ra trọng văn khinh võ. Do đó, “các
võ quan thường không được người ta tôn trọng bằng quan văn, cho nên những người giỏi
văn học thường không tu giảng võ thuật, thành trong ngạch quan võ rất ít người văn võ
song toàn”(8). Thực ra, trong những giai đoạn quốc gia hưng thịnh, chẳng hạn như thời
Lê Thánh Tông (1460-1497), võ nghiệp rất được trọng vọng “Tinh thần thượng võ thuở
đó được lên cao do sự khuyến khích của triều đình nên có cả các vị văn quan xuất thân
khoa bảng cũng xin đổi sang võ chức” (9). Nhưng đây chỉ là họa hoằn. Còn phần lớn các
quan võ không được trọng vọng bằng quan văn :
Quan văn thất phẩm đã sang,
Quan võ tứ phẩm còn mang gươm hầu.

Chính cái ý thức trọng văn khinh võ đó đã tạo nên cái ý thức chung trong quần chúng là
xem thường giới võ biền. Để đối phó lại thái độ khinh bạc của quần chúng đối với giới võ
biền, người lính phải tự mình tạo cho mình một giá trị mà đôi khi nó bộc lộ cái tinh thần
hãnh tiến của cả một giới người :
Em đừng thấy lính mà khinh,
Lãnh binh, thống chế ba dinh một dòng !

Chiến tranh là một tai họa thảm khốc của con người do chính con người gây ra: Những
cuộc chiến tranh chống lại mộng xâm lăng cuả người Trung Hoa. Những cuộc chiến tranh

(5) Việt Sử Xứ Đàng Trong, tr. 469, Phan Khoang
(6) Việt Sử Toàn Thư, tr. 492
(7) Việt Nam Sử Lược II, tr. 114
(8) Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, tr. 159, Đào Duy Anh
(9) Việt Sử Toàn Thư, tr. 405


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status