Tài liệu Đề tài "Tình hình triển khai e-banking tại Việt Nam" - Pdf 97

LUN VĂN TỐT NGHIỆP
"Tình hình triển khai e-banking tại Việt Nam"

-
1
-
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU………………………………………………………………………… 3
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ E-BANKING ……………………… 4
I. Khái quát về e-banking …………………………………………………………. 4
II. Các loại sản phẩm dịch vụ e-banking ………………………………………… 5
1. Các loại thẻ nhựa (Plastic Money) ……………………………………………….5
1.1
Thẻ ghi có (Credit Card) hay thẻ tín dụng ………………………………….6
1.2
Thẻ thanh toán (Charge Card) …………………………………………… 9
1.3
Thẻ ghi nợ (Debit Card) …………………………………………………….9
1.4
Thẻ thông minh (Smart Card) …………………………………………… 11
1.5
Một số lưu ý để sử dụng thẻ an toàn ……………………………………….11
1.6
Vài nét về một số thương hiệu thẻ phổ biến trên thế giới………………… 14
a. Visa………………………………………………………………… 14
b. Mastercard……………………………………………………………19
c. American Express…………………………………………………….21
d. JCB……………………………………………………………………22
2. Hệ thống thanh toán điện tử tại các điểm bán hàng (EFTPOS)…………………24
3. Máy rút tiền tự động (Automatic Teller Machines - ATM)…………………….25
4. Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Telephone banking)……………………… 25

IV. Tình hình triển khai e-banking tại hệ thống ngân hàng có vốn đầu tư nước
ngoài ……………………………………………………………………………….66
1. Chohung Vina Bank…………………………………………………………….66
2. Ngân hàng ANZ Việt Nam ………………………………………………….….67
3. Ngân hàng HSBC .…………………………………………………………… 71
V. Những tồn tại trong quá trình phát triển e-banking tại Việt Nam hiện nay… 71
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN E-
BANKING TẠI VIỆT NAM ……………………………………………………… .75
I. Nhóm giải pháp pháp lý ………………………………………………….…….75
II. Nhóm giải pháp cơ sở vật chất kỹ thuật ……………………………………… 88
III. Nhóm giải pháp đào tạo nguồn nhân lực …………………………………… 90
IV. Nhóm giải pháp tăng cường hợp tác quốc tế………………………………… 91
V. Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức xã hội ………………………………… 93
KẾT LUN ………………………………………………….……………………… 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………….……… 95
-
3
-
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, đâu đâu ta cũng bắt gặp những
ứng dụng của công nghệ thông tin. Đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân
hàng, với vai trò huyết mạch của nền kinh tế, việc ứng dụng công nghệ thông
tin trong sự phát triển các dịch vụ ngân hàng đã góp phần quan trọng tạo nên
một nền kinh tế có tính cạnh tranh cao và đem lại nhiều tiện ích cho các khách
hàng. Nhận thức được lợi ích to lớn mà công nghệ thông tin đem lại, nhiều
ngân hàng trên thế giới đã và đang tiến hành áp dụng công nghệ thông tin để
phát triển và hoàn thiện các dịch vụ ngân hàng nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu
ngày càng đa dạng của khách hàng.
Chỉ còn 7 năm nữa, lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam sẽ phải mở cửa hoàn
toàn. Các tổ chức tín dụng nước ngoài với số vốn khổng lồ, công nghệ hiện

Chương I: Giới thiệu khái quát về e-banking
I. Khái quát về e-banking
E-banking là tên viết tắt của electronic-banking, có nghĩa là "dịch vụ ngân
hàng điện tử". Dịch vụ ngân hàng điện tử là việc cung cấp các sản phẩm và
dịch vụ ngân hàng bán lẻ bao gồm:
• tiến hành giao dịch ngân hàng
• kiểm tra tài khoản
• thanh toán hoá đơn điện tử
• cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thanh toán điện tử khác như
tiền điện tử
thông qua các phương tiện điện tử.
1
Công nghệ hiện đại ngày nay đã tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ tuyệt vời, đáp
ứng được các nhu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng. Trước đây, nói đến
giao dịch ngân hàng, ta thường tưởng tượng ra cảnh khách hàng phải mất
nhiều thời gian điền vào các loại mẫu giấy tờ, sau đó đứng xếp hàng dài chờ
đến lượt, rồi phải làm thủ tục qua nhiều cửa mất rất nhiều thời gian, công sức,
chưa kể những rủi ro, nguy hiểm mà khách hàng có thể gặp khi phải thanh
toán một số lượng lớn tiền mặt. Ngoài ra, khách hàng chỉ có thể đến giao dịch
trong giờ mở cửa của ngân hàng. Nhưng giờ đây, các dịch vụ e-banking đa
dạng với cách sử dụng tương đối đơn giản, tiện lợi đã giúp khách hàng hoàn
toàn thoát khỏi những điều phiền toái đó. E-banking đã thực sự trở thành
phương tiện hỗ trợ đắc lực giúp cho khách hàng có thể chủ động kiểm soát
tình hình tài chính của mình một cách an toàn, hiệu quả, mọi lúc, mọi nơi mà
không cần phải trực tiếp tới giao dịch tại ngân hàng. Với các doanh nhân thì
1 Trích trong t i li u "ANZ Vi t Nam - D ch v Ngân h ng i n t " c a T p o n Ngân h ng H u h n Úc v New Zealand, 2002.à ệ ệ ị ụ à Đ ệ ử ủ ậ đ à à ữ ạ à
-
6
-
"thời gian là vàng", do đó có thể nói e-banking góp phần không nhỏ vào thành

• Chức năng bảo chi séc (có vai trò như một thẻ bảo đảm của ngân hàng
hay một thẻ bảo chi séc). Theo đó, ngân hàng đảm bảo thanh toán cho
khoản tiền ghi trên séc do khách hàng phát hành tới một hạn mức xác
định.
• Dùng để rút tiền mặt từ các máy rút tiền tự động (automatic teller
machines hay còn gọi là ATM)
• Dùng để thanh toán hàng hoá, dịch vụ bằng chuyển tiền điện tử tại
điểm bán hàng (Electronic Funds Transfer at Point of Sale hay còn
được viết tắt là EFTPOS)
Ngày nay, sản phẩm về thẻ rất đa dạng. Ngoài các chức năng cơ bản trên, mỗi
loại thẻ lại có những đặc điểm riêng nhằm đáp ứng các nhu cầu phong phú
của khách hàng.
Thông thường chủ thẻ sẽ phải trả phí hàng năm (annual fee) để sử dụng thẻ.
Phí này để bù lại các chi phí mà ngân hàng phải bỏ ra để duy trì tài khoản và
phát hành thẻ. Nhiều ngân hàng cũng tính phí cho những giao dịch tại máy
ATM, thường từ 50 cent đến 3 USD tuỳ ngân hàng và tuỳ theo giao dịch đó
tại ATM thuộc hay không thuộc hệ thống của ngân hàng phát hành.
1.1 Thẻ ghi có (Credit Card) hay thẻ tín dụng
-
8
-
Các thẻ tín dụng (credit card) cung cấp các khoản vay cho khách hàng khi
mua hàng hoá hoặc dịch vụ. Thẻ tín dụng được các công ty thẻ tín dụng
(credit card companies) phát hành. Các công ty thẻ tín dụng hàng đầu trên thế
giới phải kể đến là Mastercard, Visa, American Express, Access, JCB …
Đặc điểm cơ bản của thẻ tín dụng là nó cho phép chủ thẻ khi mua hàng có thể
nhận hàng trước và thanh toán sau, được hưởng một khoản tín dụng tuần hoàn
và hạn mức tín dụng do ngân hàng phát hành thẻ qui định. Khi khách hàng lần
đầu tiên mua thẻ tín dụng, họ thường phải đặt cọc trước một khoản tiền và
ngân hàng sẽ dựa vào đó để định ra hạn mức tín dụng cho thẻ (thường thì hạn

hàng thanh toán đầy đủ các khoản giao dịch trong tháng đúng hạn thì họ
không phải trả khoản tiền lãi. Như vậy khách hàng được hưởng một khoản tín
dụng tuần hoàn mà không phải trả lãi.
Thẻ tín dụng cũng mang lại lợi ích cho người bán hàng. Do khách hàng có thể
dùng hàng trước, trả tiền sau nên doanh số bán hàng sẽ tăng lên. Hơn nữa vì
không giao dịch bằng tiền mặt nên người bán hàng sẽ an toàn hơn vì họ sẽ
phải giữ ít tiền mặt hơn tại cửa hàng. Mặt khác, khoản phí 4% mà người bán
hàng phải trả cho công ty thẻ tín dụng cùng với các chi phí hành chính khác
họ phải bỏ ra để lập sổ sách theo dõi và hoàn tất các thủ tục thu tiền bán hàng
sẽ được người bán cộng vào giá bán của hàng hoá. Như vậy, thực chất người
bán hàng cũng không phải bỏ thêm chi phí mà doanh thu lại tăng.
Chủ thẻ sẽ phải ký trên biên lai mua hàng bao gồm ba liên - một liên chủ thẻ
giữ, một cho người bán hàng và liên còn lại cho ngân hàng. Ngân hàng ghi có
tổng số tiền bán hàng vào tài khoản của người bán hàng, ghi nợ vào tài khoản
của công ty thẻ tín dụng và gửi các biên lai bán hàng đến công ty thẻ tín dụng.
Quy trình này khác nhau tuỳ thuộc vào từng ngân hàng. Một số ngân hàng trừ
-
10
-
khoản tiền hoa hồng được hưởng vào tổng số tiền bán hàng trước khi ghi có
vào tài khoản của người bán.
Khi các công ty thẻ tín dụng nhận được các biên lai bán hàng, họ sẽ thanh
toán cho các ngân hàng thông qua hệ thống bù trừ tổng số tiền bán hàng của
mỗi cửa hàng trừ đi khoản hoa hồng. Đồng thời công ty thẻ tín dụng ghi nợ
vào tài khoản của các chủ thẻ và gửi cho họ hoá đơn thanh toán hàng tháng.
Số của các thẻ bị báo mất hoặc đánh cắp sẽ được cập nhật vào một hệ thống
máy tính. Danh sách các thẻ này được cập nhật thường xuyên và các chủ cửa
hàng hay các đại lý thanh toán thẻ đều có thể truy cập vào mạng này để nhanh
chóng kiểm tra xem thẻ tín dụng mà khách hàng đưa ra thanh toán có nằm
trong danh sách đó hay không.

phải thanh toán. Khách hàng nhập mã số PIN vào bàn phím số. Trong vài
giây, máy sẽ kiểm tra các thông tin, xác nhận tiền còn đủ trong tài khoản và
thực hiện giao dịch. Sau đó, một hoá đơn sẽ được in ra từ máy và số tiền phải
thanh toán được trừ trực tiếp vào tài khoản của khách hàng.
Một dạng của thẻ ghi nợ là thẻ rút tiền (cash card). Thẻ rút tiền (cash card) là
tên gọi của các loại thẻ mà chủ thẻ sử dụng chúng để rút tiền mặt từ tài khoản
của họ tại các máy rút tiền tự động (ATM). Họ không những có thể rút tiền tại
các máy ATM thuộc bất cứ chi nhánh nào của ngân hàng họ đang mở tài
khoản mà còn có thể sử dụng được tại cả các máy ATM của các ngân hàng
khác có nối mạng với ngân hàng của họ.
Khách hàng có thể hoàn toàn yên tâm về sự an toàn khi sử dụng thẻ thanh
toán vì mỗi khách hàng đều được ngân hàng cung cấp cho một số PIN
(personal identification number). Đây là mã số cá nhân mà khách hàng nên
học thuộc lòng. Mã số này được giữ bí mật tuyệt đối, ngay cả các nhân viên
ngân hàng cũng không được biết chúng. Khi sử dụng máy rút tiền tự động,
khách hàng đưa thẻ vào máy rồi nhập số PIN của mình. Sau đó khách hàng có
-
13
-
thể lựa chọn các dịch vụ hiện trên màn hình của máy như khách hàng có thể
rút được một số tiền mặt tới một hạn mức nhất định, kiểm tra số dư tài khoản,
in báo cáo tài khoản, chuyển tiền giữa các tài khoản hay nộp tiền vào tài
khoản…
Không phải máy rút tiền tự động của mọi ngân hàng đều có chức năng giống
nhau. Tuỳ thuộc vào quy định của nước sở tại hoặc theo nhu cầu cụ thể mà
máy ATM của từng ngân hàng có những chức năng khác nhau. Thông thường
các máy ATM đều có thể cho phép khách hàng kiểm tra số dư tài khoản, in
báo cáo tài khoản, chuyển tiền giữa các tài khoản của họ với nhau. Ngoài ra
có máy còn cho phép khách hàng yêu cầu sổ séc, nộp séc hoặc tiền mặt vào
tài khoản của họ.

khẩu bằng cách chen con số khác nhau vào giữa một từ chẳng hạn.
• Để tăng thêm tính an toàn, một số máy ATM có thể giữ thẻ nếu khách
bấm sai số PIN quá 3 lần hay nếu trong vòng 30 giây khách không có
thao tác trên máy.
• Không tiết lộ số PIN cho bất cứ ai, kể cả người thân. Không ai, kể cả
nhân viên ngân hàng, cảnh sát hay đại lý thanh toán thẻ được quyền hỏi
số PIN của chủ thẻ. Chỉ duy nhất chủ thẻ được biết điều đó.
• Sau khi thực hiện xong một giao dịch tại máy ATM, nhớ lấy lại thẻ và
hoá đơn (nếu có).
• Giữ cẩn thận các hoá đơn để tiện đối chiếu với báo cáo tài khoản về
sau.
• Khi thẻ bị giữ lại trong máy ATM, cần cảnh giác với tất cả những
người đề nghị giúp đỡ, ngay cả khi họ là nhân viên bảo vệ của ngân
hàng. Những kẻ tội phạm có thể lấy được số PIN bằng nhiều cách như
nhìn qua vai hay hỏi trực tiếp…
-
15
-
• Cần báo cho ngân hàng phát hành ngay khi phát hiện mất thẻ để tránh
kẻ gian lợi dụng rút tiền trên tài khoản.
• Giữ thẻ cẩn thận như nó là tiền mặt vậy. Tránh làm cong, gẫy, xước thẻ
vì nó có thể làm hỏng dải từ mặt sau thẻ. Không nên để thẻ từ gần tivi,
điện thoại di dộng… vì nó thể làm hỏng dải từ của thẻ.
• Luôn có thói quen kiểm tra hoá đơn bán hàng và so sánh với tổng số
tiền thanh toán trước khi ký hoá đơn. Nhớ giữ lại một bản copy để tiện
đối chiếu với báo cáo tài khoản.
• Không bao giờ được tiết lộ số thẻ cho người khác trên điện thoại trừ khi
khách hàng biết chắc đó là người đáng tin cậy hoặc một công ty có uy
tín.
• Luôn đối chiếu các hoá đơn mua hàng với báo cáo tài khoản, đặc biệt là

Rút tiền mặt bằng máy Visa/Plus ATM có sử dụng số PIN an toàn, khách
hàng còn được hưởng tỷ giá chuyển đổi ngoại tệ hấp dẫn hơn. Ngoài ra,
các máy ATM này cho phép khách rút loại tiền của nước đang cư trú và
trừ vào tài khoản của khách hàng bằng tiền nội tệ. Như vậy khách sẽ
không phải tìm chỗ đổi tiền và không phải trả thêm tiền hoa hồng như
thường có tại các điểm đổi tiền bình thường. Các máy ATM này cũng
thường được đặt ở những địa điểm thuận tiện nhất cho các khách du lịch
như tại các sân bay quốc tế, nhà ga, các trung tâm thương mại sầm uất,
Thẻ ghi nợ của Visa có 3 loại chính mang các biểu tượng như sau:

-
17
-
Thẻ Visa Electron
Thẻ Visa Electron bắt đầu được phát hành vào những năm 80 với mục đích
để sử dụng thanh toán tại các đại lý có máy thanh toán điện tử. Visa
Electron có thể sử dụng để thanh toán tại hơn 12 triệu đại lý thanh toán
điện tử trên toàn thế giới, thanh toán trên Internet và để rút tiền mặt tại hơn
800.000 máy ATM.
Ngày nay thẻ Visa Electron được phát triển mang thêm nhiều chức năng
hơn như thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước, có hoặc không có mạch vi
xử lý (chip), tuy nhiên nó thường được sử dụng như thẻ ghi nợ.
Thẻ Visa Electron được các tổ chức tài chính là thành viên của Visa phát
hành tại nhiều khu vực trên thế giới như: châu Phi, châu Á, vùng Ca-ri-bê,
khu vực Trung và Nam Mỹ, châu Âu, Mê-hi-cô và khu vực Trung Đông.
Tuy nhiên, không một tổ chức tài chính nào tại Mỹ và Canada phát hành
loại thẻ này. Mặc dù vậy, thẻ Visa Electron vẫn được chấp nhận thanh toán
tại các đại lý thanh toán thẻ và máy ATM của hai nước trên.
Thẻ Visa Cash
Thẻ Visa Cash mang biểu tượng như sau:

19
-
Thẻ tín dụng Visa
Đồng sở hữu bởi 21.000 tổ chức tài chính thành viên trên toàn thế giới,
Visa là một tổ chức tư nhân vì lợi nhuận được thành lập nhằm phục vụ lợi
ích của các thành viên, chủ thẻ và các đại lý thanh toán. Thông qua các tổ
chức tài chính thành viên, Visa đã cung cấp một giải pháp thanh toán có uy
tín và được chấp nhận rộng rãi nhất trên thế giới cho cả người tiêu dùng
lẫn các doanh nghiệp. Đến nay, Visa đã phát hành khoảng trên 1 tỷ thẻ các
loại được chấp nhận thanh toán trên 150 quốc gia. Trong năm 2002, 2,4
nghìn tỷ USD hàng hoá và dịch vụ đã được thanh toán bằng các sản phẩm
của Visa.
Sự ra đời của Visa bắt nguồn từ năm 1958, khi ngân hàng Bank of
America lần đầu tiên phát hành thẻ BankAmericard xanh, trắng và vàng
cho các khách hàng ở California. Tuy nhiên ý tưởng về loại thẻ này đã có
từ trước đó rất lâu. Ngay từ những năm đầu thế kỷ trước, ông A.P.
Ginnini, người sáng lập ra Bank of America đã tin tưởng rằng các khoản
tín dụng cá nhân linh hoạt sẽ giúp khách hàng kiểm soát được cuộc sống
của họ. Thẻ BankAmericard ra đời nhằm hướng tới sự thay đổi tích cực
của xã hội. Thẻ BankAmericard trở nên phổ biến trên khắp nước Mỹ vào
những năm 60 và 70 của thế kỷ trước. Để hỗ trợ cho nó, một tổ chức mới
sở hữu và điều hành bởi nhiều tổ chức thành viên đã ra đời. Cái tên "Visa"
của tổ chức mới này được xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1976. Chẳng bao
lâu sau thẻ tín dụng Visa đã phát triển trên toàn cầu. Trong suốt những
năm 80 và 90 của thế kỷ qua, Visa tiếp tục đạt được những bước tiến quan
trọng: cho ra đời thẻ tín dụng cao cấp đầu tiên, thiết lập hệ thống ATM
toàn cầu đầu tiên, phát triển thêm thẻ thông minh, thẻ trả trước… và từng
bước chiếm lĩnh thị phần trên toàn thế giới.
-
20

-
21
-
khách hàng. Mục tiêu của Visa là sẽ hoàn thiện thẻ Visa Smart để nó trở
thành một "ngân hàng bỏ túi", phù hợp nhu cầu của từng chủ thẻ.
Các tổ chức tài chính thành viên (ngân hàng) phát hành thẻ Visa và quản lý
mọi mặt liên quan đến tài khoản thẻ. Visa chỉ đóng vai trò nhà cung cấp các
giải pháp thanh toán. Giữa Visa và các tổ chức tài chính thành viên hay giữa
Visa và các đại lý chấp nhận thanh toán thẻ Visa có những qui định phải tuân
theo. Ví dụ như: mỗi ngân hàng được phép đặt ra các tiêu chí riêng để phát
hành thẻ, được tự quyết định lãi suất cũng như các điều khoản điều kiện đối
với khách hàng; các đại lý/cửa hàng chấp nhận thanh toán thẻ Visa không
được đặt ra hạn mức tối thiểu cho những giao dịch thanh toán bằng thẻ, thậm
chí đối với cả sản phẩm bán hạ giá…
b. MasterCard
MasterCard International là một trong những công ty thẻ nổi tiếng với nhiều
nhãn hiệu thẻ được chấp nhận thanh toán rộng rãi như MasterCard, Cirrus và
Maetro và khoảng 25.000 tổ chức thành viên thanh toán thẻ trên toàn thế giới.
Đối tượng khách hàng của MasterCard bao gồm cả cá nhân lẫn các doanh
nghiệp lớn nhỏ trên 210 quốc gia và vùng lãnh thổ. MasterCard là người đi
đầu trong cải tiến và chất lượng, cung cấp nhiều sự lựa chọn về giải pháp
thanh toán cả trên thị trường thực lẫn ảo (internet). Với hơn 30 triệu điểm
chấp nhận thanh toán thẻ trong đó bao gồm hơn 820.000 máy ATM trên toàn
thế giới, không có một thẻ thanh toán nào được chấp nhận rộng rãi như
MasterCard. Tính đến 31 tháng 12 năm 2002, tổng doanh thu mua bán bằng
thẻ đã vượt quá 1,14 nghìn tỷ USD.
Thẻ thuộc hệ thống MasterCard bao gồm 3 loại chính:
- Thẻ Maetro
-
22

chữa đến trợ giúp với chi phí hợp lý được trừ thẳng vào tài khoản thẻ.
- Dịch vụ hỗ trợ du lịch (Travel Assistance Services): dịch vụ này sẽ
cung cấp cho khách hàng nhiều thông tin, hướng dẫn bổ ích về các dịch
vụ quan trọng khách có thể cần khi đi du lịch như thủ tục cấp visa,
passport, đổi ngoại tệ, tiêm chủng
- Dịch vụ trợ giúp toàn cầu (MasterCard Global Service): dịch vụ này tạo
cho chủ thẻ sự yên tâm khi đi du lịch hoặc công tác xa nhà. Đây là dịch
vụ hoạt động 24/24 giờ trong ngày, 365 ngày trong năm cung cấp các
trợ giúp liên quan đến thẻ dù khách hàng đang ở bất cứ đâu. Khách
hàng sẽ không phải trả phí điện thoại cho dịch vụ này trên 75 quốc gia
trên toàn thế giới. Khi cần, chủ thẻ chỉ cần gọi đến số điện thoại Dịch
vụ khẩn cấp (thường có ở mặt sau thẻ), tổng đài sẽ nối máy cho khách
tới nhân viên có thể nói được thứ tiếng của khách để trợ giúp trong các
tình huống sau:
o Mất thẻ
o Phát hành thẻ khẩn cấp
o Ứng tiền mặt khẩn cấp
o Cung cấp địa chỉ các máy ATM có chấp nhận thanh toán thẻ này
tại địa điểm khách đang lưu trú
o Kiểm tra các thông tin có liên quan tới tài khoản thẻ
o Sử dụng các tiện ích khác của thẻ
Tuy nhiên, phần lớn các tiện ích nêu trên chỉ có ở thẻ MasterCard Gold hoặc
Platinium và khách hàng chỉ được hưởng khi đáp ứng các điều khoản, điều
kiện nhất định.
Ngoài ra, thẻ còn có thể được dùng để thanh toán tự động các hoá đơn định kỳ
như tiền điện, điện thoại, thuê nhà, phí bảo hiểm, thuế…
-
24
-
c. American Express (hay còn gọi là thẻ AMEX)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status