TRẦM HƯƠNG
Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte, 1914
Tên khác: Trầm, Dó bầu, Dó trầm
Họ: Trầm – Thymelaeaceae
Tên thương phẩm: Agar wood, Agar-wood oil, Malayan eaglewood Hình thái
Trầm hương - Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte
1- Cành mang lá và hoa; 2- Quả
Cây gỗ lớn thường xanh, tán thưa,
cao 15-20(-30)m, đường kính đạt tới 40-
60cm hay hơn. Thân thường thẳng, đôi
khi có rãnh dạng lòng máng; vỏ màu nâu
xám, nứt dọc nhẹ, dễ bóc và tước ngược
từ gốc lên. Cành mảnh, cong queo, màu
nâu nhạt, có lông hoặc nhẵn. Lá đơn mọc
so le; phiến lá hình trứng, bầu dục thuôn
đều hoặc mác thuôn, kích thước 5-12x2,5-9
cm, mỏng như giấy hoặc dai như da, mặt
trên màu lục bóng, mặt dưới nhạt hơn và
có lông mịn, đầu nhọn hay thuôn nhọn và
tận cùng có mũi ngắn; gốc thon nhọn dần,
hình nêm; cuống lá ngắn, dài 4-6mm.
Cụm hoa dạng tán hoặc chùm tán,
mọc ở nách lá hoặc ở đầu cành; cuống
malaccensis Lamk (từ Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Indonesia,
Myanma), Aquilaria crassna (từ Việt Nam, Lào, Campuchia)
và Aquilaria sinensis (Lour.) Sprengel. (từ Trung Quốc). Cả 3
loài đều có nhiều đặc điểm rất giống nhau.
Phân bố
Việt Nam:
Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hoà Bình,
Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Gia Lai, Đắk
Lắk, Đắk Nông, Phú Yên, Bình Định, Khánh Hoà, An Giang,
Kiên Giang. Ba khu vực nhiều trầm hương nhất là Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, An Giang
và Kiên Giang (đảo Phú Quốc).
Hiện nay các cá thể trưởng thành của trầm hương cơ
bản bị tuyệt diệt trong tự nhiên. Nhưng diện tích rừng trồng
ngày một tăng, tới năm 2005 tổng diện tích rừng trồng trầm
trong cả nước đã vào khoảng 6.000 ha. Riêng tỉnh Hà Tĩnh là
2.732 ha và huyện Hương Khê 336 ha (Chi cục phát triển
Lâm nghiệp Hà Tĩnh).
Thể giới:
Lào và Campuchia.
Đặc điểm sinh học
Trầm hương phân bố rải rác trong các loại hình rừng thường xanh, ẩm nhiệt đới, nguyên
sinh hoặc thứ sinh, trên đỉnh núi, ở sườn núi hoặc trên đất bằng, có độ cao 50-1.000(-1.200)m
Những thông tin gần đây cho biết, đã xác định được nấm Cytosphaera mangiferae có trong
trầm của loài Aquilaria malaccensis và nấm Melanotus flavolives có trong khối trầm của loài
Aquilaria sinensis.
Công dụng
Thành phần hoá học:
Tinh dầu trầm hương là chất lỏng sánh, nhớt, dẻo có màu vàng, vàng nâu hoặc màu đỏ hổ
phách đậm và mùi thơm dịu của trầm.
Một số kết quả phân tích đã có cho biết, thành phần chủ yếu của tinh dầu trầm hương là
các hợp chất agarofuranoid, sesquiterpenoid của các eudesman, eremophilan, valencan và
vetispiran. Theo Ishihara M. và cộng sự (1993) thành phần chủ yếu của tinh dầu tách từ loại
trầm tốt nhất của loài trầm hương indonesia (A. malaccensis Lamk.) rất phức tạp, hiện mới xác
định được khoảng trên 33 hợp chất. Trong đó nhiều nhất là 2-(2-(4-methoxyphenyl) ethyl)
chromon (27%); 2-(2-phenylethyl) chromon (15,0%); oxoagarospirol (5,0%); 9,11-
eremophiladien-8-on (3,0%); 6-methoxy-2(2-(4-methoxyphenyl) ethyl) chromon (2,5%); guaia-
1(10),11-dien-15-al (1,5%); selina-3,11-dien-9-ol (1,5%); kusunol (1,4%); selina-2,11-dien-14-ol
(1,0%); guaia-1(10),11-dien-15-oic acid (1,0%); selina-3,11-dien-9-on (0,8%); jinkoh-eremol
(0,7%); selina-4, 11-dien-14-al (0,7%); dihydrokaranon (0,7%); selina-3,11-dien-14-al (0,6%); 2-
hydroxyguaia-1(10),11-dien-15-oic acid (0,4%); β-agarofuran (0,4%) và nhiều hợp chất khác với
hàm lượng nhỏ. Cũng còn hàng loạt các hợp chất có trong tinh dầu trầm, hiện vẫn chưa xác
định được cấu trúc hoá học (chiếm khoảng 30% hàm lượng trong tinh dầu).
Từ những hợp chất đã biết, ta có thể nhận xét rằng, các sesquiterpen oxy hoá và các dẫn
xuất chromon là những thành phần chủ yếu trong tinh dầu.
Công dụng:
Trầm là loại sản phẩm đặc biệt được dùng làm hương thắp và rất được coi trọng trong
được che bóng và giữ ẩm. Dưới 2 tháng tuổi, cây con cần che bóng 50-60%. Từ tháng 3-5 che
bóng 30-40%. Sau 5 tháng dỡ bỏ dần giàn che. Khi cây con được 40-45 ngày tuổi, cao 6-8cm,
có 2-4 lá mầm là có thể đem cấy trong các bầu đất. Bầu đất có thể làm bằng các túi polyethylen
có lỗ thủng ở đáy hoặc trên thành hay các rọ mảnh đan bằng tre nứa; đất trong bầu cần tơi,
xốp, đủ dinh dưỡng và sạch bệnh (ruột bầu gồm 85% đất trộn với 14% phân chuồng đã ủ và
1% supe lân theo khối lượng).
Thời gian đầu cần làm sạch cỏ, giữ đất đủ ẩm và định kỳ 4-5 ngày phun dung dịch benlát
0,5%, lượng phun 1-1,2l/m
2
để phòng trừ nấm.
Trần Văn Minh, Bùi Thị Tường Thu, Đinh Trung Chánh và Bùi Cách Tuyên (1998) đã thử
nghiệm nhân giống 4 dòng trầm hương đang tạo trầm kỳ tại đảo Phú Quốc bằng biện pháp nuôi
cấy đỉnh sinh trưởng và đã thu được một số kết quả bước đầu.
Gần đây, những nghiên cứu thực nghiệm về sinh trưởng, phát triển của chồi in vitro
(Nguyễn Thị Hiền, Vũ Văn Vụ, 2005), về kỹ thuật nuôi cấy phôi giả (Đinh Trung Chánh, Trần
Văn Minh, 2005), về ứng dụng công nghệ phôi soma (Trần Văn Minh, Bùi Thị Tường Thu,
2005) trong công tác phục tráng và nhân nhanh giống trầm đã thu được một số kết quả bước
đầu và mở ra nhiều triển vọng sáng sủa.
Trồng và chăm sóc:
Giai đoạn trên 12 tháng tuổi, có thể đưa cây con ra trồng. Tiêu chuẩn cây con: Trên 12
tháng. Cao trên 40cm, đường kính cổ rễ trên 0,35cm. Sinh trưởng tốt, cân đối, thân thẳng,
không bị sâu bệnh. Cây con trong bầu đất với bộ rễ phát triển, nguyên vẹn sẽ đạt tỷ lệ sống rất
cao. Nên trồng vào mùa xuân (ở các tỉnh phía Bắc) hoặc đầu mùa mưa (ở các tỉnh phía Nam).
Tuỳ thuộc vào từng loại đất đai và điều kiện sinh thái cụ thể mà có thể chọn lựa các mật độ
trồng dày hoặc thưa. Có thể trồng theo các khoảng cách 2,5x2,5m, 2,5x3,0m hoặc 2x5m,
2x6m… (mật độ 400-500 cây/ha).
Sau khi chặt hạ, người ta cưa cắt, đục đẽo, vạc bỏ gỗ ở phía ngoài chỉ chọn lấy các mẩu
trầm hoặc các u bướu. Các thỏi trầm khai thác từ những cây đang sống thường có màu nâu
bóng và thường có giá trị cao, được gọi là “trầm sinh”. Còn các thỏi trầm lấy ở các thân cây
hoặc gốc rễ của những cây đã chết từ lâu thường có màu cánh gián hay đen xỉn, được gọi là
“trầm rục”.
Giữa 2 loại, thì “trầm rục” có chất lượng thấp hơn.
Tới nay, người ta đã đưa ra một số phương pháp tạo trầm như dùng chế phẩm vi sinh
hoặc dùng hoá chất để bôi vào các lỗ khoan nhân tạo trên thân cây hoặc cành. Sau 1-2 năm,
quanh vết thương sẽ hình thành dạng “trầm tóc’’. Loại này chỉ dùng cất tinh dầu làm hương
hoặc làm ‘’cây trầm cảnh’’. Cần tiếp tục nghiên cứu và theo dõi để có kết luận đối với các
phương pháp tạo trầm này.
Trên thị trường, thường mua bán trầm nguyên liệu ở dạng nguyên cả khối hoặc cả miếng
sau khi đã chọn lọc và phân loại theo chất lượng. Các thỏi trầm thường cứng, nặng, ròn, trong
có chứa nhựa dầu màu nâu đậm hoặc đen. Tùy thuộc vào chất lượng, trong thương mại người
ta thường chia trầm làm 8-9 loại. Loại cao nhất (từ loại 1 đến loại 3) có màu nâu đen được gọi
là “kỳ nam”. Các loại 7,8,9 là thấp nhất và có chất lượng kém.
Để chưng cất, tách chiết tinh dầu, người ta thường chỉ sử dụng các mẩu trầm vụn, mùn
cưa hoặc các loại trầm lẫn tạp chất có chất lượng thấp. Tinh dầu trầm là chất lỏng, sánh, nhớt
có màu vàng hoặc màu hổ phách đậm với hương thơm dịu của trầm. Các thành phần chính
của tinh dầu trầm thường bốc hơi ở nhiệt độ cao (khoảng 200
0
C), nên việc chưng cất tinh dầu
trầm cần có các thiết bị áp lực hoặc hoà tan trong các dung môi thích hợp, với công nghệ và
quy trình đặc biệt.
Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn
Việc đưa loài trầm hương (A. crassna) vào cơ cấu cây trồng rừng trong chương trình trồng
mới 5 triệu ha rừng, đồng thời với việc nghiên cứu các cơ sở khoa học để chọn tạo giống tốt và
chủ động điều khiển các quá trình tạo trầm trong cây sẽ góp phần đưa trầm trở thành một mặt
hàng LSNG có giá trị cao của Việt Nam trong tương lai.
Tài liệu tham khảo chính
1. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (1996). Sách Đỏ Việt Nam – Phần Thực vật – Tập 2. Tr. 49-50. Nxb
Khoa học và Kỹ thuật – Hà Nội; 2. Dương Tấn Phước, Trần Mỹ Lý và cộng sự (1990). Một số khía cạnh về kinh tế của
Chương trình phát triển tinh dầu, dầu béo, hương liệu, mỹ phẩm. Thông tin kinh tế, khoa học kỹ thuật No 7+8: Tr. 29-
31; 3. Đinh Trung Chánh, Trần Văn Minh (2005). Nghiên cứu kỹ thuật nuôi cấy phôi giả trong nhân nhanh cây trầm
hương (Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte). Những vấn đề nghiên cứu có bản trong khoa học sự sống. Tr. 415-417.
Nxb Khoa học và kỹ thuật – Hà Nội; 4. Đỗ Huy Bích và đồng nghiệp (2004). Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt
Nam. Tập II. Tr. 1002-1005. Nxb Khoa học và kỹ thuật – Hà Nội; 5. Lã Đình Mỡi (2001). Cây trầm hương – Aquilaria
crassna Pierre ex Lecomte. Tài nguyên Thực vật có tinh dầu ở Việt Nam. Tập I (Lã Đình Mỡi – Chủ biên). Tr. 286-294.
Nxb Nông nghiệp – Hà Nội; 6. Nguyễn Thị Hiền, Vũ Văn Vụ (2005). Sự sinh trưởng và phát triển của chồi in vitro cây dó
trầm (Aquilaria crassna Pierre) trong môi trường nuôi cấy. Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong Khoa học sự sống.
Tr. 521-523. Nxb Khoa học và kỹ thuật – Hà Nội; 7. Trần Văn Minh, Bùi Thị Tường Thu, Đinh Trung Chanh, Bùi Cách
Tuyến, 1998. Nhân giống cây trầm qua nuôi cấy đỉnh sinh trưởng. Tạp chí Lâm nghiệp số 4. Tr. 44; 8. Trần Văn Minh,
Bùi Thị Tường Thu (2005). Ứng dụng công nghệ phôi soma trong công tác giống cây trầm hương (Aquilaria crassna
Pierre ex Lecomte). Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong Khoa học sự sống. Tr. 542-544. Nxb Khoa học và kỹ thuật
– Hà Nội; 9. Triệu Văn Hùng (Chủ biên) (2002). Kỹ thuật trồng một số loại cây đặc sản rừng. Tr. 128-135. Nxb Nông
nghiệp – Hà Nội; 10. Chung, R, C. K. & Purwaningsh (1999). Aquilaria malaccensis Lamk. In: L. P. A. Oyen and Nguyen
Xuan Dung (Editors): Plant Resources of South-East Asia 19 – Essential-oil plants, pp. 64-67. Backhuys Publishers,
Leiden; 11. Ishihara, M., Tsuneya, T. & Uneyama, K. (1993). Components of the volatile concentrate of agarwood.
Journal of Essential Oil Research, 5: 283-289; 12. Ishihara, M., Tsuneya, T. & Uneyama, K. (1993). Components of the
agarwood smoke on heating. Journal of Essential Oil Research, 5: 419-423; 13. Lê Công Kiet, Paul, J.A. Kebler &
Marcel Eurlings (2005). A new species of Aquilaria (Thymeleaceae) from Vietnam. Blumea 50 (2005): 135-141.
Universiteit Leiden; 14. Lok, E. H., Ahmad Zuhaidi, Y. (1996). The growth performance of plantation grown Aquilaria