Tài liệu KHOÁNG SÉT - ( TIẾP THEO ) CHƯƠNG 6 THÀNH PHẦN KHOÁNG SÉT ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỘT SỐ TÍNH CHẤT CỦA ĐẤT - Pdf 99

Chơng 6
Thành phần khoáng sét ảnh hởng đến
một số tính chất của đất

I. Khoáng sét liên quan mật thiết đến dung tích hấp thu đất
Hiện nay nhiều nhà thổ nhỡng và nông hoá học trên thế giới cũng nh của nớc ta khi
xét đến các yếu tố độ phì nhiêu thực tế của đất đều công nhận rằng dung tích hấp thu đất (DTHT
= T ldl/100g đất) tức khả năng hấp thu cation của keo đất là một trong các yếu tố độ phì quan
trọng nhất. Đất có DTHT cao, đặc biệt là tổng cation kiềm và kiềm thổ cao (S) sẽ làm tăng khả
năng hấp phụ trao đổi. Các cation dinh dỡng cho cây K
+
, Ca
++
, NH
4
+
. Mg
++
sẽ cung cấp dễ dàng
dinh dỡng cho cây khi trong dung dịch đất thiếu thức ăn hoặc sẽ giữ lại thức ăn thừa cây không
dùng hết (do mới bón phân hoặc khi trong đất có quá trình khoáng hoá chất hữu cơ mạnh)
(Rusler 1967; Mehlich 1960; Pagel 1967). Do đó thông qua DTHT đất, ngời ta đánh giá đợc
khả năng cung cấp dinh dỡng của các loại đất cho cây trồng cũng nh nhu cầu và hiệu lực của
phân bón cho cây đối với từng loại đất (Pagel 1981). Trong chuyên đề dinh dỡng giống lúa,
Nguyễn Vy (1986) cũng nhận định rằng đối với một giống lúa cụ thể thì việc xác định một yếu tố
độ phì chủ đạo của đất có tính chất quyết định và theo tác giả thì yếu tố chủ đạo đó là DTHT. Đã
từ lâu các nhà hoá học và thổ nhỡng khám phá ra khả năng hấp phụ và trao đổi cation của đất là
do các keo đất (keo vô cơ hoặc hữu cơ) cũng nh phức hệ keo quyết định (Matson 1938;
Merozob 1939; Gedreiz 1955; Tidin 1958; Goocbunop 1959), trong đó keo âm, phần lớn là keo
sét và keo mùn hấp phụ chủ yếu là các cation. Gedreiz gọi sự hấp phụ ion của đất là sự hấp phụ lý
hoá học và tổng các cation hấp phụ trao đổi trong đất gọi là dung tích hấp thu của đất, phụ thuộc

Đất
p
hù sa
Ai Cập
46,5 0,5 I(M) 24,8 94,0 6,0
Phù sa Iemen

35,5 0,8 I 13,4 14,9 85,1
Bán khô hạn
Sudan
4,2 0,9 I 3,7 39,2 60,8
Đất đen
Vertisol Sudan
64,2 0,6 M(I) 49,7 97,0 3,0
Đất đen
Việt Nam
42,0 1,6 M(Al, Fe) 37,5 89,4 10,6
Đất Fersialit
Việt Nam
81,2 2,2 K(Fe) 16,3 59,5 40,5
Đất Ferralit
Việt Nam
89,2 2,1 Al, Fe(K) 11,7 46,2 53,8
Đất Ferzalit
Việt Nam
46,2 6,5 K(Al, Fe) 25,0 22,0 78,0
Đất Ferralit
Gana
18,5 3,2 K(Fe) 11,8 23,7 76,3
Đất Ferralit

tiêu này (thành phần khoáng sét hoặc chất hữu cơ) đợc các tác giả quan tâm vì đó là cơ sở quan
trọng không chỉ đánh giá độ phì thực tế của đất mà còn định hớng đúng biện pháp tăng DTHT
đất, hoặc tăng hoặc cải tạo thành phần khoáng sét đất là chính nếu % DTHT đất do khoáng sét
quyết định, hoặc chú trọng tăng và bảo vệ mùn trong đất nếu mùn chiếm vai trò chính trong
DTHT.

H.32- Quan hệ giữa hàm lợng sét và DTHT của 50 mẫu đất Irak; k
(theo Alzubaidi và Pagel 1974)
Bảng 17: Dung tích hấp thu của phần hữu cơ và phần

56,8
52,9
Đất nâu hạt dẻ 2,70
1,60
7,4
6,0
8,6
11,3
16,0
17,3
Mối quan hệ chặt chẽ giữa thành phần khoáng sét của cấp hạt sét và DTHT đất cũng đợc
Alzubaidi và Pagel (1974) chứng minh ở 50 mẫu đất của irắc qua hình 32. Hàm lợng khoáng sét
của cấp hạt sét và Limon càng tăng thì DTHT đất cũng càng tăng. Từ các kết quả nghiên cứu về
mối liên quan giữa khoáng sét và DTHT, Pagel và cộng sự (1982) đã giới thiệu phơng pháp
chẩn đoán thành phần khoáng sét trong cấp hạt sét cuả đất theo thứ tự số DTHT của cấp hạt sét,
kết quả chẩn đoán nh sau:

T
cấp hạt sét
ldl/100g sét Thành phần khoáng sét của cấp hạt sét
10
10-20
20-40
40-60
60-80
80
Oxyt tự do ; Kaolinit + oxyt tự do
Kaolinit ; Kaolinit + oxyt tự do
Illit ; Illit + Kaolinit
Illit ; Illit + Montmorillonit

T
sét
ldl/ Thành
phần
% dung tích
hấp thu của
(cm) sét (%) (%) 100g
đất
100g
đất
khoáng sét
chính
Sét Mùn
Đất đỏ nâu
trên đá Bazan
0 - 20
20 - 40
60 - 80
100-120
75,0
76,0
76,0
77,0
3,70
3,500,9
8
-
12,58 3,97 Kaolinit
-nt-
-nt-

16,69
Đất đen trên
sản phẩm
đọng
Cácbonát
0 - 20
20 - 43
43 - 75
75 - 120
55,06
61,34
67,97
66,10
6,89 45,00 43,19 I; I + M
M; K
62,84 37,16
Đất đen trên
đá siêu Bazơ
Secpentinit
54,60
65,38
66,88
4,66
1,54
0,45
43,00
39,26
39,00
51,32
52,98

9,54
20,50
15,35
10,76
I, V, K
-nt-
-nt-
-nt-
84,94
69,73
80,55
15,06
30,27
19,45
Đất phù sa
sôn
g
Hồn
g

tầng glây
0 - 18
18 - 22
65 - 75
69,59
56,02
74,11
1,81
1,39
0,45

9,45
9,81
22,36
17,62
19,34
K, I, V
K;I; khoáng
hỗn hợp; K;
khoáng hỗn
hợp
54,67
56,83
80,14
45,33
43,17
19,86
Đất phù sa
cũ bạc màu
0 - 15
15 - 19
30 - 60
11,30
18,56
38,60
1,11
0,31
0,24
5,92
5,56
7,87

6,28
6,56
8,29
16,21
17,63
19,50
K;V
K
K
68,09
84,73
87,95
31,91
15,27
12,05
Đất
p
hù sa cổ
có tầng glây
0 - 17
17 - 22
45 - 65
53,74
58,30
62,52
0,75
0,55
0,33
9,71
9,28

mùn thờng tạo nên phức hệ hấp phụ sét mùn bền có DTHT rất cao.
- Tình hình diễn biến DTHT của các loại đất phù sa nớc ta cũng đã cho chúng tôi những
nhận xét ban đầu khá rõ về ảnh hởng của khoáng sét. ở đất phù sa trẻ sông Hồng với tỷ lệ sét
xấp xỉ 50% (lớp mặt) và tỷ lệ mùn thấp hơn các loại đất đồi núi (2,35%) thì DTHT = 13,32
ldl/100g đất là khá và do Illit, Vecmiculit chiếm u thế hơn trong đất tác động (T
sét
= 20 ldl/100g
sét). Khi xét % DTHT cho thấy % DTHT sét chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn (84%) chứng tỏ khoáng sét
tham gia chủ yếu vào DTHT đất này. Còn ở các đất phù sa đã có xu hớng diễn biến khác nhau
làm thành phần và hàm lợng khoáng sét thay đổi thì DTHT cũng nh các yếu tố quyết định
DTHT của đất đó cũng thay đổi khá rõ. Các đất phù sa trẻ cũng nh phù sa cổ có tầng loang lổ
hoặc tầng glây, khi Kaolinit đã chiếm u thế dần (sự Kaolinit hoá) hoặc tạo thành các khoáng sét
hỗn hợp làm T
sét
giảm thấp, hàm lợng mùn cũng giảm dần theo phẫu diện đất thì DTHT đất
giảm khá rõ. Đất phù sa có tầng loang lổ DTHT = 10,92ldl/100g đất phù sa cổ loang lổ 6
ldl/100g đất. Đất phù sa có tầng glây dù % sét có cao hơn 50% song DTHT cũng vẫn thấp hơn
(12,38 và 9,71 ldl/100g đất), đó là do T
sét
đã giảm nhiều so với đất phù sa trẻ không loang lổ,
không glây (T
sét
= 10-15 ldl/100g sét). Chúng tôi thấy % DTHT của sét ở đất này nói chung cũng
giảm nhiều, ví dụ nh ở đất phù sa trẻ có tầng loang lổ chỉ còn 54-56%, còn tầng glây 62%,
chứng tỏ vai trò của khoáng sét đối với DTHT ở các đất phù sa đã thoái hoá giảm dần. Riêng đối
với loại đất bạc màu, tuy thành phần khoáng sét trong cấp hạt sét (T
sét
= 20 ldl/100g sét) ở lớp
mặt cũng vẫn còn có một ít Illit, song vì hàm lợng sét của đất quá thấp (11,3%) nên DTHT đất
rất thấp, %DTHT của mùn cao hơn (57-60%) chứng tỏ rằng vì hầu nh không có sét nên khoáng

thành Illit và Vecmiculit cho đất (Nguyễn Vy - Trần Khải 1978).
Hiện nay ở các nớc nông nghiệp tiên tiến, vấn đề cải tạo đất có tính chất vật lý xấu , đặc
biệt đất có DTHT thấp, theo hớng tác động vào thành phần khoáng sét của đất đang đợc tiến
hành rộng rãi và đạt đợc những kết quả nhất định (Reuter 1973). Phơng pháp bổ sung khoáng
sét vào đất cùng với phân hữu cơ để tạo nên sét mùn là một phức hệ bền và tốt nhất trong đất, làm
tăng DTHT đất và khả năng trao đổi cation dinh dỡng quý cho cây trồng nh Ca
++
, Mg
++
, K
+
,
NH
4
+
(Cibinova, Alexandrova 1956; Tscherkassov 1955; Reuter 1973; Stoor 1978; Pagel 1981).
ở nớc ta các nghiên cứu vấn đề thành phần khoáng sét ảnh hởng đến DTHT đất hiện nay cha
nhiều. Xu hớng nói chung vẫn thiên về yếu tố mùn tác động đến DTHT cùng với các nghiên cứu
về cơ chế hấp thu trao đổi cation (K
+
, NH
+
) ở các đất với chế độ bón phân kali khác nhau. Chúng
tôi hy vọng rằng kết quả bớc đầu trên đây sẽ đóng góp tài liệu thiết thực để có các thí nghiệm
thực nghiệm nâng cao DTHT ổn định cho đất.
Thừa kế phơng pháp chẩn đoán khoáng sét theo DTHT cấp hạt sét và đất của Pagel công
bố trong cuốn "Các phơng pháp dinh dỡng cây trong đất nhiệt đới" - 1982, chúng tôi cũng đã
tiến hành chẩn đoán thành phần khoáng sét của một số loại đất Việt Nam, kết quả chẩn đoán và
so sánh với các phơng pháp xác định khoáng sét trình bày ở các chơng trên đợc giới thiệu ở
bảng 19. Qua đó chúng tôi nhận thấy rằng nói chung phơng pháp chẩn đoán khoáng sét theo

ơng pháp hiện đại
Đất đỏ nâu
trên Bazan
0-20
20-40
60-80
80-120
3,79 Kao. + Oxyt tự do Kaolinit - Gơtit
-nt-
-nt-
-nt-
Đất đỏ vàng
trên phiến
Mica
0-20
20-35
35-70
70-85
6,84
8,56
20,23
-
Kao.; Kao; Oxyt tự
do; Kao. + oxyt tự
do; Illit
Kao. + Illit
Kaolinit, Hydromica,
Illit Kaolinit;H
y
dromica, Illit

sông Hồng
không loang
lổ và glây
0-17
17-25
25-75
75-100
20,50
15,35
10,76
-
Ill.; Ill + Kao.
Kao-oxy tự do Kao-
oxyt tự do
Illit, Vecmiculit; Kaolinit Haluzit
Chlorit.Illit-Vecmiculit. Kaolinit-
Chlorit.
Khoáng hỗn hợp sét
Kao-khoáng sét hỗn hợp.
Đất phù sa có
tầng loang lổ
0-19
19-24
55-65
22,36
17,62
10,34
Ill-Kao + Ill Kao.
oxyt tự do
Kao-oxyt tự do

Kao.Ill; Ill.
Rất ít Kaolinit Illit
-nt-
ít Kaollinit, Illit ; Vecmiculit.
Đất phù sa cổ
có tầng loang
lổ
0-17
17-21
45-55
7,28
6,56
9,69
Kao oxyt tự do
-nt-
-nt-
Kaolinit trội hẳn ít
Vecmiculit.
-nt-
Tất nhiên bằng phơng pháp chẩn đoán này chúng ta không thể phát hiện đợc các
khoáng sét khác có khoảng T
sét
tơng tự của các khoáng sét chính Kaolinit, Illit và
Montmorillonit mà bằng các phơng pháp hiện đại chúng ta dễ dàng phát hiện ra nh: Haluzit,
Vecmiculit, Chlorit và các khoáng sét hỗ hợp. Song phơng pháp chẩn đoán này cho phép chúng
ta nhận biết đợc những khoáng sét và oxyt tự do chính ảnh hởng đến các tính chất cơ bản của
đất, đồng thời chứng minh rằng trong phạm vi có hạn với điều kiện của một phòng phân tích lý
hoá học bình thờng vẫn có thể đề cập đến vấn đề khoáng sét. Kết quả này có thể phục vụ nhanh
chóng cho công tác điều tra cơ bản, phục vụ sản xuất, đồng thời thời gian và chi phí nghiên cứu
lại ít hơn nhiều so với các phơng pháp hiện đại.

H
2
SO
4
+ HCl) để pháp vỡ lới tinh thể khoáng rút kali ra. Còn để xác định lợng kali "dễ tiêu"
hoặc "trao đổi" cho cây trồng sử dụng thì trớc đây ngời ta vẫn quen với các phơng pháp phân
tích kali trao đổi rút tinh thể bằng oxalat amôn và kali dễ tiêu rút bằng HCl theo đề nghị của
Jenny và Overstrect (1938). Trong một thời gian dài và cả đến nay, ở nớc ta vẫn còn nhiều nhà
thổ nhỡng và nông hoá chỉ dùng chỉ tiêu này để đánh giá lợng kali trong đất cung cấp cho cây
trồng; song ngày nay nhiều tác giả của các công trình nghiên cứu kali trong đất đều phê phán
rằng dạng kali dễ tiêu và trao đổi này không phản ánh hoàn toàn đúng khả năng cung cấp kali từ
đất cho cây vì các chỉ tiêu này chỉ có thể biểu thị một lợng ion K
+
rất biến động trong một thời
điểm của dung dịch đất, các ion K
+
này lại rất dễ bị rửa trôi theo dòng chảy của đất mà cây không
sử dụng đợc (Pagel và cộng sự 1968; Tanatia 1972; Mutscher 1977; Nguyễn Vy - Trần Khải
1978). Kết quả thực nghiệm của Pagel và cộng sự (1978), của Mutscher (1977) không tìm thấy
một mối liên hệ trao đổi trực tiếp giữa dạng kali trao đổi vơí quá trình hút kali của cây và còn có
sự mâu thuẫn về lợng kali trao đổi trong đất so với hàm lợng kali hút đợc của cây.
Đồng thời các tác giả trên đều nhận thấy rằng cây trồng hút kali của đất ở nhiều dạng
khác nhau, nhng chủ yếu là dạng kali liên kết với keo sét tích điện âm, nghĩa là kali nằm trên bề
mặt hay giữa các lớp phiến tinh thể khoáng sét 3 lớp có khe hở phiến từ 10-14, đó là Illit và
Vecmiculit, hoặc khoáng hỗn hợp (Illit + Montmorillonit, Illit + Vecmiculit). Pagel và Mutscher
(1982) đã đa ra sơ đồ mô tả cá dạng kali trong một tinh thể phiến sét và khả năng cố định và
trao đổi của các ion kali này (hình 33). Qua sơ đồ chúng ta thấy rõ rằng ngay các ion kali trong
các lớp phiến tinh thể khoáng sét không phải ở vị trí nào cũng có mức độ trao đổi (đợc giải
phóng ra) nh nhau. Các ion K
+

rất cao
Từ thang đánh giá này giúp chúng ta dựa vào kết quả phân tích nhận định đúng khả năng
cung cấp kali của đất cho cây đồng thời nêu lên mức độ thích hợp trong việc bổ sung phân kali
cho các loại đất.
Song song với việc xác định dạng kali cung cấp cho cây của đất, vấn đề nghiên cứu kali
cố định của đất cũng rất quan trọng và cần thiết vì nó liên quan đến sự hấp thu của K
+
của đất
cũng nh việc xác định hiệu lực và liều lợng bón phân kali cho các loại đất khác nhau. Các nhà
thổ nhỡng đều quan niệm rằng dạng kali cố định trong đất thực chất là thông qua sự hấp thu kali
bởi các khoáng sét 3 lớp, các khoáng sét 2 và 4 lớp không có khả năng cố định kali (Martini và
Suares 1977; Vascoda Gamma Manuel 1967; Goocbunop 1969; Pagel và Mutscher 1982). Pagel
và Prasad (1967) thí nghiệm thấy đất giàu Illit và Vecmiculit hút kali mạnh. Ehlers (1967,1968)
cũng quan sát thấy Illit, Vecmiculit hút kali mạnh hơn nhiều so với (1967), Kaolinit và keo hữu
cơ. Còn Vascoda Manuel (1967) cho biết kali bón vào đất bị hút bám có tới 70% do khoáng Illit
và Vecmiculit . Các thí ngiệm của Nguyễn Vy - Trần Khải (1978) cũng công nhận rằng các keo
sét giàu Hydromica và Illit hấp thu kali rất mạnh là do ion K
+
đã đi vào lới tinh thể của keo sét
và bị nhốt chặt trong đó, có nghĩa là bị cố định lại.
Khi tiến hành xác định một số dạng kali trong đất, trong đó đặc biệt chú ý áp dụng các
phơng pháp xác định trực tiếp dạng kali cung cấp từ các khoáng sét và kali cố định bởi khoáng
sét của các loại đất khác nhau của nớc ta, chúng tôi hy vọng rằng sẽ đóng góp thêm một số
phơng pháp xác định cũng nh cơ sở lý luận giải thích thêm cơ chế hấp thu kali cũng nh trao
đổi (cung cấp) kali của đất Việt Nam, từ đó sáng tỏ thêm hiệu lực phân kali trên các đất khác
nhau. Kết quả thí ngiệm của chúng tôi đợc tóm tắt và trình bày ở bảng 20 và cho thấy khá rõ
rằng hàm lợng các dạng kali trong các loại đất đại diện của nớc ta rất khác nhau phụ thuộc chủ
yếu vào nguồn gốc đá mẹ, mẫu chất và thành phần khoáng sét trong đất.
Bảng 20: Các dạng kali của một số loại đất Việt Nam


đất
Kali
trao đổi
mg K/
100g đất
Cấ
p
hạt
sét (%)
Thành phần
khoán
g
sét
trong đất
Đất đỏ nâu
trên đá Bazan
0,55 0,62 24,43 3,5 3,53 75,0 Kaolinit
Đất đỏ vàng
trên phiến
Mica
1,20 2,30 31,86 26,0 6,18 62,32 Kaolinit, Illit,
Hydromica
Đất đen trên
sản phẩm
Cácbonát
2,00 2,50 38,41 29,0 10,55 Illit
55,06
Illit,
Montmorillonit,
Illit+Montmoril-

2
O tới 8% - Mutscher 1977). Đất có nguồn gốc phát sinh khác nhau, K
2
O
tổng số khác nhau rõ rệt, trong đó K
2
O tổng số của đất đỏ nâu trên bazan rất thấp (0,55%) do
thành phần khoáng vật của đá Bazan rất nghèo kali. Nhìn chung các loại đất phù sa có K
2
O %
khá hơn đáng kể nhất là phù sa sông Hồng (2,25%), đó là vì sản phẩm phù sa bồi tụ thờng làm
giàu khoáng nguyên sinh Mica nh Fenspat, Muscovit, Biotit. Khi xác định K
2
O % của cấp hạt
sét trong các loại đất thấy rằng hầu hết hàm lợng K
2
O % ở cấp hạt sét khá đến giàu và cao hơn
trong đất chứng tỏ kali tập trung hầu hết ở cấp hạt này. ở đất đỏ nâu trên Bazan hàm lợng K
2
O
% trong sét rất thấp do Kaolinit là sét u thế của đất không chứa kali trong tinh thể. ở các đất mà
thành phần khoáng sét giàu Illit, Vecmiculit thì hàm lợng K
2
O % trong sét khá cao, đặc biệt rõ ở
đất phù sa trẻ sông Hồng (K
2
O % = 3,45). Sự chênh lệch giữa K
2
O % của đất và cấp hạt sét trong
đất bạc màu còn cho thấy K

2
O % của sét tới 2,3% (hàm lợng mùn % lớp đất mặt của 2 loại đất đều 3,5%).
- Khi phân tích dạng kali cố định của một số loại đất đại diện của nớc ta, chúng tôi nhận
thấy rằng thành phần khoáng sét của đất ảnh hởng rất rõ. Các đất càng giàu khoáng sét Kaolinit
thì sự cố định kali của đất càng ít, rõ nhất là ở đất đỏ nâu trên Bazan với Kaolinit chiếm u thế
gần tuyệt đối thì kali cố định chỉ = 24,43 mg/100g đất; trong khi đó đất đỏ vàng trên phiến Mica,
đất đen trên sản phẩm Cacbonat có Illit, Hydromica thì kali cố định lớn hơn 30 mg/100g đất. Đối
với nhóm đất phù sa, hàm lợng khoáng sét Illit, Vecmiculit trong đất quyết định sự cố định kali
của đất đặc biệt rõ. Đất phù sa trẻ sông Hồng với Illit, Vecmiculit chiếm u thế cao (20%) sự cố
định kali lớn nhất 40,37 mg K/100g đất; trong khi đó ở đất phù sa mặn ven biển xuất hiện thêm
Montmorillonit có khả năng hút kali yếu hơn Illit và Vecmiculit nên sự cố dịnh kali của đất thấp
hơn 31,88 mg K/100g đất. Đất phèn (chua mặn) trong thành phần khoáng sét Kaolinit đã chiếm
u thế hơn Illit (do môi trờng chua Illit , Montmorillonit - Kaolinit nhiều) nên sự cố định kali
giảm hẳn xuống chỉ còn 24,03 mg K/100g đất. Đất bạc màu trị số K cố định thấp nhất, là trờng
hợp đặc biệt do keo sét bị rửa trôi gần hết.
- Qua kết quả xác định kali "cung cấp" của các loại đất , chúng tôi nhận thấy rằng nhìn
chung chúng cũng có quy luật tơng tự nh dạng kali cố định của đất, có nghĩa là lợng kali cung
cấp phụ thuộc chủ yếu vào thành phần cũng nh hàm lợng khoáng sét trong đất. Đất đỏ nâu trên
Bazan có lợng kali cung cấp thấp nhất 3,5 mg K/100g đất là điều tất yếu vì trong thành phần
khoáng sét đất không có Illit, Vecmiculit và các khoáng sét hỗn hợp của khoáng 3 lớp này, là các
khoáng sét chứa các ion kali tạo nên dạng kali cung cấp của đất. Cũng nh ở dạng kali cố định,
kali cung cấp của đất trên phiến Mica và đất đen trên sản phẩm Cacbonat lớn hơn hẳn 20 mg
K/100g đất thuộc loại mức độ trung bình (theo thang đánh giá của Mutscher 1982). Đặc biệt
lợng kali cung cấp của đất phù sa sông Hồng (63,5 mg K/100g đất) và của đất phù sa mặn ven
biển (86,8) cao trong đó đất phù sa mặn ven biển cao hơn. Hiện tợng này có lẽ do thành phần
khoáng sét của phù sa sông Hồng giàu Illit và Vecmiculit, "hút" kali mạnh song lại giải phóng
kali ra khó hơn là khoáng Montmorillonit có đất phù sa mặn. Nếu so sánh kết quả kali cung cấp
của đất phiến Mica và đất đen, chúng ta cũng thấy hiện tợng tơng tự, đất đen có hàm lợng kali
cung cấp cao hơn một chút do trong thành phần khoáng sét có Montmorillonit và hỗn hợp Illit +
Montmorillonit. Chúng tôi phân tích thêm dạng kali trao đổi của các loại đất này thì thấy rằng rõ

định lại hết, cây lúa không kịp sử dụng kali trong một thời gian thời vụ ngắn. Ngợc lại ở đất bạc
màu, khả năng cố định kali thấp, độ đệm kali thấp thì bón lợng kali ít hơn ở đất phù sa sông
Hồng cũng đã có hiệu lực rõ. Chính vì vậy trớc đây các nhà nông hoá thờng thích bố trí thí
nghiệm về phân kali trên đất bạc màu hơn trên đất phù sa sông Hồng. ở đất bạc màu cũng không
nên bón lót một lần lợng kali cần cho cây mà vẫn phải bón thúc nhằm tránh sự rửa trôi kali khi
cây cha dùng hết mà đất lại cố định (giữ) kali kém. Những đất có lợng kali cố định kém cần
phải cải tạo đất (đất bạc màu thì cải thiện thành phần cơ giới đất) để tăng K
2
O % cho đất. Đất có
khả năng cố định hấp thu kali lớn sẽ làm giảm sự rửa trôi kali mạnh và tránh sự mất mát kali khi
bón phân (Mutscher 1977). Giữa lợng kali cố định và kali cung cấp trong đất, 2 hiện tợng đối
ngợc nhau về chế độ kali của đất lại có một mối liên quan mật thiết với nhau. Theo Pagel và
Mutscher (1982) dạng kali cố định của đất gồm các ion K
+
có lực liên kết với keo đất bé hơn các
ion kali vốn đã nằm sẵn giữa các lớp phiến sét nên trong điều kiện tự nhiên của đất chúng cũng
dễ đợc giải phóng thành dạng kali cung cấp. Do đó khi bón phân kali cho các đất có hàm lợng
kali cố định cao thì sẽ tạo cho đất một sự dự trữ nhất thời kali , đồng thời dạng kali cung cấp cũng
tăng lên, cây trồng sử dụng kali ổn định hơn.
Theo chúng tôi, do xác định đợc vai trò rất quan trọng của thành phần khoáng sét đối với
tình hình kali trong đất, chúng ta cũng có thể dựa vào quy luật phân bố khoáng sét của các loại đất đã
nghiên cứu để sơ bộ phán đoán khả năng cố định hoặc cung cấp kali cao thấp ngay tại các cơ sở sản
xuất để xây dựng chế độ bón phân kali thích hợp (vì phơng pháp xác định các dạng kali một cách
chính xác và trực tiếp khá phức tạp). Tuy nhiên chúng tôi cũng thấy rằng việc nghiên cứu mối liên hệ
giữa khoáng sét và kali trong đất mới chỉ là bớc đầu do phạm vi và điều kiện thực hiện đề tài này có
hạn. Đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng về dinh dỡng kali giữa đất với các loại cây trồng, cần
phải tiếp tục nghiên cứu sâu và rộng hơn nữa, đặc biệt các thí nghiệm về hiệu quả cải tạo các loại đất
đối với khả năng cố định và cung cấp kali của đất.
III. ảnh hởng của khoáng sét đến khả năng hút nớc của đất
Khoáng sét tác động đến tính chất vật lý đất thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau nh:

có trị số Enslin thấp hơn cả. Vì vậy từ sự
đánh giá này các nhà khoáng sét học và thổ nhỡng có thể dựa vào trị số Enslin đo đợc từ các
mẫu phân tích để phán đoán sơ bộ sự có mặt của những khoáng sét chính (Storr và Schmidt
1983). Hiện nay ở các phòng phân tích đất và khoáng sét của nhiều trờng Đại học tổng hợp
CHDC Đức phơng pháp Enslin đợc sử dụng rỗng rãi vì thiết bị thí nghiệm gọn nhẹ, đơn giản
(hình 4), dễ sử dụng, dễ tính toán và đảm bảo chất lợng nghiên cứu. Thông qua phơng pháp đo
trực tiếp khả năng hút nớc của khoáng sét cũng nh của mẫu đất đã nghiền nhỏ và sấy khô ở
50-60C, không những ta đo đợc độ hút ẩm hấp thu trực tiếp của sét hoặc đất mà còn giúp các
nhà khoáng sét đánh giá đợc mức độ tinh khiết của khoáng sét trong mẫu qua khả năng nhầm
nớc khác nhau của khoáng sét. Tiếp thu đợc phơng pháp này, chúng tôi đã tiến hành xác định
khả năng hút nớc của các loại đất chính của Việt Nam. Kết quả đo và tính ra trị số Enslin đợc
ghi ở bảng 21 và thể hiện một phần qua các đồ thị 1 và 2.
Từ đồ thị 1 biểu diễn trị số Enslin của lớp đất mặt các loại đất nghiên cứu cho chúng tôi
thấy khá rõ rằng các đất với thành phần khoáng sét khác nhau có khả năng hút nớc để đạt tới độ
ẩm hấp thu rất khác nhau.
Đất đỏ nâu trên Bazan có trị số Enslin ổn định từ phút thứ 10 và đạt tới 100-110%. Trong
khi đó, đất đen trên sản phẩm đọng Cacbonat quá trình
§å thÞ 1: TrÞ sè Enslin (%) cña c¸c lo¹i ®Êt chÝnh ViÖt Nam


Bảng 22: % cấp hạt sét, thành phần khoáng sét chính và trị số enslin (%)
của một số loại đất Việt Nam

Loại đất Tầng đất
(cm)
Cấp hạt
(%)
Thành phần khoáng sét chính
trong đất
Khả năng hút nớc
theo enslin (%)
Đất đỏ nâu trên
Bazan
0-20
20-40
60-80
100-120
74,56
75,01
76,50
77,01
Kaolinit
-nt-
-nt-
-nt-
110
105
110
112
Đất đỏ vàng trên

-nt-
-nt-
120
115
122
122
Đất phù sa trẻ
sông Hồng
0-17
17-25
25-75
75-100
54,92
52,69
61,42
73,76
Illit, Vecmiculit
Kaolinit, Hluzit
Illit, Vecmiculit, Kaolinit
Haluzit, Chlorit
80
85
88
96
Đất phù sa cũ 0-12 11,30 Rất ít khoáng sét 46
bạc màu 15-20
30-60
18,56
38,60
Kaolint, ít Kaolinit

héo lên tới 14,7% làm cho cây sống trên đất này dễ bị thiếu nớc khi đất mới bị hạn. Các tác giả
cũng cho rằng đất giàu Kaolinti có khả năng hút nớc kém nên khả năng thấm nớc lại cao, cây
trồng không dễ bị úng nớc khi ma hoặc tới quá ngập. Nhợc điển trơng và co mạnh của
Montmorillonit cũng là do khả năng hút nớc cao của khoáng sét này ảnh hởng đến chế độ nớc
của đất.
Nh vậy, thông qua trị số Enslin của mỗi loại đất có thành phần khoáng sét khác nhau,
các nhà vật lý đất cũng nh thuỷ nông có thể đánh giá đúng và khá chính xác khả năng hút nớc
của các loại đất đó để tính toán xây dựng chế độ tới nớc hợp lý hơn.
Muốn đảm bảo đủ độ ẩm cho cây trồng, độ ẩm đồng ruộng của đất nhất thiết phải vợt xa
trị số hút nớc hấp thu này của đất. Nhng thực nghiệm cụ thể tiếp theo về mối quan hệ giữa chế
độ nớc cần cho đất và cây trồng theo trị số Enslin này theo chúng tôi rất có ý nghĩa. Trong điều
kiện phạm vi nghiên cứu cơ bản thì phơng pháp Enslin xác định khả năng hút nớc của khoáng
sét và của đất là phơng pháp sử dụng dễ dàng trong các phòng thí nghiệm của nớc ta, không
cần đến thiết bị đắt tiền nh
lò nung, cân tiểu ly, điện, đồng thời cũng không tốn thời gian nhiều
nh phơng pháp xác định độ ẩm cây héo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status