Chuyên đề tốt nghiệp
G
G
TRƯỜNG…………
TRƯỜNG…………
KHOA ……………
KHOA ……………
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Một số giải pháp nhằm nâng cao
sức cạnh tranh mặt hàng giầy dép
của Công ty Giầy Thượng Đình
trên thị trường nội địa ”
1
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
CHƯƠNG III 2
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG I 5
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ SỨC
CẠNH TRANH SẢN PHẨM. 5
LÝ THUYẾT CẠNH TRANH 5
CHƯƠNG II 21
THỰC TRẠNG SỨC CẠNH TRANH MẶT HÀNG GIẦY
DÉP CỦA CÔNG TY GIẦY THƯỢNG ĐÌNH 21
CHƯƠNG III
2
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Bước vào thế kỷ 21- kỷ nguyên mới đầy hứa hẹn nhưng cũng nhiều
Chương III:Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh mặt hàng giày dép của Công ty Giầy Thượng Đình.
Sau đây là nội dung chính:
4
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ SỨC
CẠNH TRANH SẢN PHẨM.
LÝ THUYẾT CẠNH TRANH.
Khái niệm cạnh tranh.
Đối với nền kinh tế thị trường, các khái niệm liên quan tới cạnh tranh
còn rất khác nhau.
Theo C.Mác “ Cạnh tranh là sự ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản
nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ
để đạt được những lợi nhuận siêu ngạch”, có các quan niệm khác lại cho
rằng “ cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh
nghiệp mình sao cho tốt hơn các Doanh nghiệp khác ”.
Theo kinh tế chính trị học: “ Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa
các đối thử nhằm giành giật thị trường khách hàng cho Doanh nghiệp mình”.
Để hiểu nhất quán ta có khái niệm sau:
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa
các Doanh nghiệp trên thị trường nhằm giành giật được ưu thế hơn về cùng
một loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với đối
thủ cạnh tranh.
Từ khi nước ta thực hiện đường lối mở cửa nền kinh tế, từ nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô
của Nhà nước theo định hướng XHCN thì vấn đề cạnh tranh bắt đầu xuất
hiện và len lỏi vào từng bước đi của Doanh nghiệp. Môi trường hoạt động
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây phạm trù cạnh tranh
hầu như không tồn tại giữa các Doanh nghiệp, tại thời điểm này các Doanh
nghiệp hầu như đã được Nhà nước bao cấp hoàn toàn về vốn, chi phí cho
mọi hoạt động, kể cả khi các Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trách nhiệm này
thuộc về Nhà nước . Vì vậy, vô hình dung Nhà nước đã tạo ra một lối mòn
trong kinh doanh, một thói quen trì trệ và ỉ lại, Doanh nghiệp không phải tự
tìm kiếm khách hàng mà chỉ có khách hàng tự tìm tới đến Doanh nghiệp.
Chính điều đó đã không tạo được động lực cho Doanh nghiệp phát triển. Sau
khi kết thúc Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI ( 1986) nước ta đã chuyển
sang một giai đoạn mới, một bước ngoặt lớn, nền kinh té thị trường được
hình thành thì vấn đề cạnh tranh xuất hiện và có vai trò đặc biệt quan trọng
không chỉ đối với Doanh nghiệp mà còn đối với người tiêu dùng cũng như
nền kinh tế quốc dân nói chung.
1.2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân.
Đối với nền kinh tế, cạnh tranh không chỉ là môi trường và động lực
thúc đẩy sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng năng
suất lao động mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan hệ xã
hội, cạnh tranh còn là điều kiện giáo dục tính năng động của các Doanh
nghiệp. Bên cạnh tranh góp phần gợi mở những nhu cầu mới của xã hội
thông qua sự xuất hiện của nhữnh sản phẩm mới. Điều đó chứng tỏ đời sống
của con người ngày càng được nâng cao về chính trị, về kinh tế và văn hoá.
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân
công lao động xạ hội ngày càng phát triển sâu và rộng. Tuy nhiên, bên cạnh
những lợi ích to lớn mà cạnh tranh đem lại thì nó vẫn còn mang lại những
mặt hạn chế như cạnh tranh không lành mạnh tạo sự phân hoá giàu nghèo,
cạnh tranh không lành mạnh sẽ dấn tới có những mốt làn ăm vi phạm pháp
luật như trốn thuế, lậu thuế, làm hàng giả, buôn bán trái phép những mặt
riêng, cạnh tranh đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nâng
cao chất lượng sản phẩm. Cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh sẽ tạo bước đà
vững chắc cho mọi ngành nghề phát triển. Nhất là đối với ngành da giầy- là
một ngành vai trò chủ lực trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Cạnh tranh sẽ tạo bước đà và động lực cho ngành phát triển trên cơ sở khai
thác lợi thế và điểm mạnh của ngành đó là thu hút được một nguồn lao động
dồi dào và có thể khai thác tối đa nguồn lực đó.
Như vậy, trong bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào dù là có quy mô
hoạt động lớn hay quy mô hoạt động nhỏ, dù là hoạt động đó đứng ở tầm vĩ
mô hay vi mô thì không thể thiếu vắng sự có mặt của hoạt động cạnh tranh.
1.2.4 Đối với sản phẩm.
Nhờ có cạnh tranh, mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng được nâng
cao về chất lượng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và kích cỡ. Giúp cho
lợi ích của người tiêu dùng và của Doanh nghiệp thu được ngày càng nhiều
hơn. Ngày nay, các sản phẩm được sản xuất ra không chỉ để đáp ứng nhu
cầu trong nước mà còn cung cấp và xuất khẩu ra nước ngoài. Qua những ý
nghĩa trên ta thấy rằng cạnh tranh không thể thiếu sót ở bất cứ một lĩnh vực
9
Chuyên đề tốt nghiệp
nào của nền kinh tế. Cạnh tranh lành mạnh sẽ thực sự tạo ra những Doanh
nghiệp lớn và đồng thời là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển đảm bảo
công bằng xã hội,. Bởi vậy, cạnh tranh là một yếu tố rất cần có sự hỗ trợ và
quản lý của Nhà nước để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những
mặt tiêu cực như cạnh tranh không lành mạnh dẫn tới độc quyền và gây lũng
loạn thị trường.
1.3 Các hình thức cạnh tranh.
Cạnh tranh được phân loại theo các hình thức sau:
1.3.1 Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh: Chia làm 3 loại
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Là cuộc cạnh tranh diễn
ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích của
dịch vụ trong và sau khi bán hàng. Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh
mà phần lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau, mỗi loại sản phẩm
mang nhãn hiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét chất lượng thì sự khác
biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể nhưng mức giá mặc định cao hơn
rất nhiều. Cạnh tranh không hoàn hảo có 2 loại:
+ Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh mà ở đó một hoặc một số
chủ thể có ảnh hưởng lớn, có thể ép tất cả các đối tác của mình phải bán
hoặc mua sản phẩm của mình với giá cao và những người này có thể làm
thay đổi giá thị trường. Có hai loại cạnh tranh độc quyền đó là độc quyền
bán và độc quyền mua. Độc quyền bán là trên thị trường có ít người bán và
nhiều người mua. Còn độc quyền mua thì ngược lại có nhiều người mua và
ít người bán.
+ Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một số
ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất. Lúc này cạnh tranh
sẽ xẩy ra giữa một số lực lượng nhỏ các Doanh nghiệp. Do vậy, mọi Doanh
11
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiệp phải nhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ phụ
thuộc vào số lượng mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ khác
trên thị trường.
1.3.3 Căn cứ vào phạm vi kinh tế.
-Cạnh tranh nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các Doanh
nghiệp trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại sản
phẩm. Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các Doanh
nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ
thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hoá nhằm
thu lợi nhuận, siêu ngạch.
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các ngành kinh
tế khác nhau nhằm tạo ra lợi nhuận cao nhất, là ngành cạnh tranh giữa các
Doanh nghiệp hay đồng minh các Doanh nghiệp cùng một ngành với ngành
phẩm là việc cải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại mẫu mã, bền hơn và tốt
hơn. Điều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu dường ngày
càng tăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của Doanh nghiệp. Làm tăng
lòng tin cà sự trung thành cẩu khách hàng đối với Doanh nghiệp.
Chất lượng sản phẩm được coi là một vấn đề sống còn đối với
Doanh nghiệp nhất là đối với Doanh nghiệp Việt Nam khi họ phải đương
đầu với các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam. Một khi chất
lượng hàng hoá dich vụ không được đảm bảo thì có nghĩa là khách hàng đến
với Doanh nghiệp ngày càng giảm, Doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị
trường dẫn tới sự suy yêu trong hoạt động kinh doanh kinh doanh. Mặt khác
13
Chuyên đề tốt nghiệp
chất lượng thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp ở
chỗ nâng cao chất lượng sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối
lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, nâng cao chất
lượng sản phẩm sẽ làm tăng uy tín của Doanh nghiệp, mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp. Do vậy, cạnh tranh bằng chất lượng
sản phẩm là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết mà bất cứ một Doanh
nghiệp nào cũng đều phải sử dụng nó.
1.4.2 Cạnh tranh bằng giá cả:
Giá cả được hiểu là toàn bộ số tiền mà người mua trả cho người
bán về việc cung ứng một số hàng hoá dịch vụ nào đó. Thực chất giá cả là sự
biểu hiện bằng tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật
hoá để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung
cầu. Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa các Doanh nghiệp,
khách hàng được tôn vinh là “ Thượng đế ” họ có quyền lựa chọn những gì
học cho là tốt nhất, khi có cùng hàng hoá dịch vụ với chất lượng tương
đương nhau thì chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn, để lợi ích học
thu được từ sản phẩm là tối ưu nhất. Do vậy, cạnh tranh bằng giá cả chính là
một công cụ hữu hiệu của Doanh nghiệp và nó thể hiện qua:
kiện cần để có lợi nhuận. Muốn có cạnh tranh Doanh nghiệp cần xem xét các
chỉ số sau:
Tỷ lệ doanh thu của Doanh nghiệp/ doanh thu của đối thủ cạnh tranh.
Tỷ lệ doanh thu năm sau / năm trước.
Thông qua các tỷ lệ này thì Doanh nghiệp có thể đánh giá được sức
cạnh tranh sản phẩm của mình hay không? Sử dụng chỉ tiêu này thì có ưu
15
Chuyên đề tốt nghiệp
điểm là đơn giản, dễ tính nhưng cũng khó khăn trong công việc chọn chính
xác đối thủ cạnh tranh.
Chỉ tiêu chi phí:
HQ
f
= M/F
M: Doanh thu thuần đạt được
F: Chi phí bỏ ra
HQ: Hiệu quả sử dụng chi phí.
Chỉ tiêu này phản ánh mức doanh thu đạt được trên một đồng chi phí.
Đây là một chỉ tiêu thuận, nghĩa là HQ
f
cao thì hiệu quả chi sử dụng chi phí
càng cao.
Chỉ tiêu lợi nhuận:
Là phần dôi ra của Doanh nghiệp sau khi trừ đi chi phí. Lợi nhuận là
một chỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phản ánh sức cạnh tranh của sản phẩm
mà còn là sức cạnh tranh của Doanh nghiệp. Khi xem xét chỉ tiêu này ta chú
ý đến tỷ suất lợi nhuận:
HQ
f
= (LN / M )*100
đưa ra các sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường.
.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh sản phẩm.
1.2.3.1. Nhân tố nguồn lực sản xuất sản phẩm:
17
Chuyên đề tốt nghiệp
Các nhân tố thuộc nhóm này bao gồm: nguồn vốn, công nghệ, nhân
lực
Nguồn vốn và công nghệ:
Các nhân tố này là nhân tố biến động và ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt
động của Doanh nghiệp nói chung và khả năng cạnh tranh sản phẩm của
Doanh nghiệp nói riêng. Với nguồn tài chính lớn, Doanh nghiệp sẽ có được
những lợi thế ban đầu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Không
một Doanh nghiệp nào lại không muốn sản xuất ra các sản phẩm trên một
dây chuyền công nghệ hiện đại để tối ưu hoá sản xuất, nâng cao chất lượng,
giảm giá thành sản phẩm, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm, đáp
ứng nhu cầu khách hàng. Đồng thời dưới sự phát triển nhanh chóng của
khoa học kỹ thuật công nghệ trên thế giới đòi hỏi các Doanh nghiệp không
ngừng thu thập thông tin về khẳ năng ứng dụng các công nghệ mới vào sản
xuất sản phẩm.
Nguồn nhân lực:
Bất kỳ một Doanh nghiệp nào cũng vậy, nguồn nhân lực là yếu tố
quan trọng, đảm bảo sự thành công của mình. Nguồn nhân lực trong công ty
sẽ được chia làm các cấp khác nhau, với chức năng và nhiệm vụ riêng. Cấp
quản trị viên cấp cao sẽ tạo ra hướng đi cho sản phẩm thông qua việc đưa ra
các chiến lược phát triển của Doanh nghiệp. Cấp thấp hơn sẽ tạo ra khả năng
cạnh tranh sản phẩm thông qua việc nghiên cứu và tạo gia những giá trị mới
cho sản phẩm nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Đội ngũ công
nhân lao động cũng sẽ tạo ra sức cạnh tranh của sản phẩm thông qua các yếu
tố về năng suất lao động, trình độ tay nghề, ý thức trách nhiệm
19
Chuyên đề tốt nghiệp
quả cho mọi thành phần kinh tế, cho mọi Doanh nghiệp và tạo ra một môi
trường cạnh tranh thông thoáng, có lợi.
20
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG SỨC CẠNH TRANH MẶT HÀNG GIẦY DÉP
CỦA CÔNG TY GIẦY THƯỢNG ĐÌNH.
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TỔ CHỨC KINH DOANH CỦA
CÔNG TY GIÀY THƯỢNG ĐÌNH.
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty:
Tiền thân của Công ty Giầy Thượng Đình là xí nghịêp X30 được
thành lập tháng 1 năm 1957 với nhiệm vụ chuyên sản xuất các loại giầy vải
và mũ phục vụ quân đội.
Giai đoạn từ năm 1960- 1970 X30 liên kết với một số xí nghiệp thuộc
tư sản quản lý thành lập xí nghiệp giầy vải Hà Nội, trực thuộc sở Công
nghịêp giầy vải Hà Nội. Từ năm 1970 bắt đầu sản xuất giầy xuất khẩu theo
phương thức nghị định thư.
Năm 1978, xí nghiệp giầy vải Hà Nội kết hợp với xí nghiệp giầy vải
Thượng Đình thành lập xí nghiệp giày vải Thượng Đình Hà Nội. Nhiệm vụ
sản xuất trong thời kỳ này chủ yếu là sản xuất giày bảo hộ lao động, phục vụ
quốc phòng và xuất khẩu chủ yếu là Basket cho Liên Xô cũ và các nước
XHCN Đông Âu.
Năm 1989, xí nghiệp giầy vải Thượng Đình tách thành hai xí nghiệp
là giầy vải Thuỵ Khê và giày vải Thượng Đình.
Năm 1991, thị trường xuất khẩu gặp nhiều khó khăn do sự sụp đổ của
Liên Xô cũ và các nước XHCN Đông Âu. Mặt khác xoá bỏ chế độ bao cấp,
xí nghiệp phải tự đứng ra hạch toán độc lập nên gặp nhiều khó khăn về vốn,
là : phòng kinh doanh XNK, phòng hành chính tổ chức và phòng kế toán tài
chính. Dưới Giám đốc có 4 Phó Giám đốc tham mưu điều hành các phòng
ban còn lại. Nhiệm vụ cơ bản của các Phó Giám đốc, phòng ban, phân
xưởng trong Công ty như sau:
*PGĐ kỹ thuật công nghệ: điều hành hoạt động của trưởng phòng
chế thử mẫu và trưởng phòng kỹ thuật công nghệ.
*PGĐ sản xuất- chất lượng: phụ trách quản lý các trưởng phòng kế
hoạch vật tư, phòng quản lý chất lượng, phòng tiêu thụ và các quản đốc phân
xưởng.
*PGĐ thiết bị an toàn: phụ trách quản lý xưởng, trưởng xưởng cơ
năng và phòng bảo vệ.
*PGĐ BHXH-VSMT: phụ trách ban vệ sinh công nghiệp – vệ sinh
môi trường và trạm y tế.
*Phòng hành chính- tổ chức: có nhiệm vụ tiếp khách công ty, quản
lý các giấy tờ thuộc hành chính. Lập kế hoạch và kiểm tra trình độ lao động
trong toàn Công ty như : lương, thưởng, phụ cấp, bảo hộ lao động. Giúp
Giám đốc quản lý về mặt con người, nắm được năng lực của từng người để
phân công , bố trí phù hợp. Kết hợp với các phân xưởng để quản lý định
mức lao động, từ đó hình thành lương, thưởng cho từng người, tính các sổ
BHXH cho từng người lao động và các khoản khác.
*Phòng kinh doanh-xuất nhập khẩu: khai thác các đơn hàng, làm
kế hoạch sản xuất giầy và kế hoạch nhập nguyên vật liệu, máy móc thiết bị
23
Chuyên đề tốt nghiệp
khác phối hợp với phòng thiết kế mẫu, theo đơn đặt hàng thiết kế những mẫu
mới phù hợp với từng vùng thị trường tiêu thụ.
*Phòng kế toán hành chính: quản lý toàn bộ vốn của Công Ty chịu
trách nhiệm trước Giám đốc về chế độ thực hiện hạch toán kinh tế độc lập.
Phòng phải thường xuyên hạch toán việc chi tiêu của Công Ty, tăng cường
công tác quản lý vốn. Thường xuyên theo dõi các khoản thu chi, hướng dẫn
môi trường, đảm bảo cảnh quan Công ty luôn sạch sẽ, mặt khác đảm bảo vệ
sinh sạch sẽ cho toàn bộ cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty.
*Trạm y tế: tổ chức thực hiện các biện pháp cụ thể để dự phòng chữa
bệnh chăm sóc của toàn bộ công nhân viên toàn Công ty.
*Phân xưởng bồi cắt: đảm nhận hai khâu đầu của quy trình công
nghệ là bồi tráng và cắt vải bạt.
*Phân xưởng may: Là phân xưởng đảm nhận công đoạn tiếp theo
của phân xưởng bồi cắt để may các chi tiết thành mũ giầy hoàn chỉnh. Quá
trình này phải trải qua nhiều thao tác kỹ thuật liên tiếp như: can đầu góc, kẻ
chỉ, may nẹp vào mũ.
*Phân xưởng cán: nhiệm vụ của phân xưởng này là chế biến hoá
chất, sản xuất đế giầy bằng cao su.
*Phân xưởng gò: đây là phân xưởng đảm nhận khâu cuối cùng của
quy trình công nghệ sản xuất giầy, sản phẩm của nó là từng đôi giầy thành
phẩm.
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT SỨC CẠNH TRANH SẢN PHẨM
GIẦY DÉP CỦA CÔNG TY GIẦY THƯỢNG ĐÌNH TRONG THỜI
GIAN QUA.
25