Luận văn tốt nghiệp:
“Một Số Biện Pháp Thúc Đẩy Xuất Khẩu Hàng Thủ
Công Mỹ Nghệ ở Công Ty ARTEXPORT”
1
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
… ………………………………………… 2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn :
-Thầy giáo hướng dẫn Trần Văn Bão đã tận tình giúp tôi hoàn thành
luận văn này
-Công Ty Xuất Nhập Khẩu Thủ Công Mỹ Nghệ ( ARTEXPORT – Hà
Nội) đã giúp tôi trong quá trình thực tập và thu thập tài liệu.
2
LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã đánh dấu một bước ngoặt
chói lọi trên con đường chuyển đổi nền kinh tế từ chế độ tập trung bao cấp sang
kinh tế thị trường có sự định hướng của nhà nước. Từ đại hội này đã tạo điều
kiện cho các thành phần kinh tế tự do hoạt động theo hành lang pháp lý ( giấy
phép kinh doanh và trong khoảng một thập kỷ lại đây nhà nước ta có chủ trương
pháp huy và bảo tồn những ngành nghề truyền thống, đưa ra những chính sách
khuyến khích các tổ chức tham gia hoạt động xuất khẩu và những mặt hàng thủ
công mỹ nghệ góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước, phát huy và tận dụng triệt để tiềm năng thế mạnh của đất nước, đồng
thời giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động nông nhàn.
Là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, các sản
phẩm thủ công mỹ nghệ của nước ta đã chứng tỏ được ưu thế của mình, cụ thể
năm 1998 kim ngạch xuất khẩu đạt 120 triệu USD, năm 140 triệu USD, năm
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU
I. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU
1. Khái niệm
Trong mỗi một giai đoạn phát triển quan hệ kinh tế thì người ta đưa ra một
khái niệm về xuất khẩu khác nhau sao cho nó có thể phản ánh một cách toàn
diện sự nhận thức ở giai đoạn đó cũng như trình độ phát triển của nó.
Ngày nay, xuất khẩu được hiểu là việc bán hàng hoá hoặc hàng hoá hoặc
cung cấp dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh
toán, tiền tệ ở đây phải là ngoại tệ đối với một bên hoặc đối với cả hai bên.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trong một lĩnh vực, mọi điều kiện nền kinh tế
xã hội hàng tiêu dùng cho đến hàng sản xuất công nghiệp, từ máy móc thiết bị
cho tới các công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các hoạt động trao đổi đó nhằm mục
tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về phạm vi không
gian lẫn điều kiện thời gian. Nó có thể diễn ra trong một ngày hay cũng có thể
kéo dài hàng năm, có thể tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay
nhiều quốc gia khác nhau.
2. Tính tất yếu của việc mở rộng hoạt động xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu là một yếu tố quan trọng để mỗi quốc gia phát triển
trình độ quản lý cũng như tiếp thu những khoa học cộng nghệ kỹ thuật mà nhân
loại phát minh ra chúng. Do những điều kiện kinh tế khác nhau mỗi quốc gia có
5
thế mạnh về một lĩnh vực này nhưng lại yếu về lĩnh vực khác. Để có thể dung
hoà được nguy cơ và lợi thế sử dụng tối đa các cơ hội sẵn có nhằm tạo ra sự cân
bằng trong qúa trình sản xuất và tiêu dùng giữa các quốc gia, điều này chỉ có thể
giải quyết được nhờ các hoạt động trao đổi quốc tế. Nhận thức được điều đó
đảng và nhà nước ta đã có những hướng đi mới trong đường lối chính sách của
mình. Từ tư tưởng tự cung, tự cấp đến nay chúng ta tạo mọi điều kiện để mở
a.Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước
Công nghiệp hoá với bước đi phù hợp là con đường tất yếu để khắc phục
tình trạng nghèo nàn lạc hậu nhưng công nghiệp hoá đòi hỏi phải có lượng vốn
lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị kỹ thuật công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn sau : Đầu tư
nước ngoài, vay nợ, các nguồn viện trợ, thu từ các hoạt động du lịch, dịch vụ thu
ngoại tệ trong nước.
Các nguồn như đầu tư nước ngoài, viện trợ hay vay nợ … có tầm quan
trọng không thể phủ nhận được, song việc huy động chúng không phải dễ dàng,
hơn nữa đi vay thường chịu thiệt thòi và phải trả về sau này.
Do vậy, xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất, xuất khẩu tạo tiền đề cho
nhập khẩu, quyết định đến quy mô tăng trưởng của nền kinh tế.
b.Xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển
sản xuất.
Dưới tác động của xuất khẩu cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã
và đang thay đổi mạnh mẽ xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi
quốc gia từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Có hai cách nhìn nhận về tác dụng của xuất khẩu đối với sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Một là : Xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội địa.
Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển, sản xuất về cơ bản
chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ vào sự thừa ra của sản xuất thì xuất
khẩu chỉ bó hẹp trong một phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm.
Hai là : Có thị trường thế giới là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất khẩu,
quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản
xuất, thể hiện ở các điểm sau.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành có cùng cơ hội phát triển
chẳng hạn như khi phát triển sản xuất ngành thủ công mỹ nghệ thì kèm theo
phát triển ngành gốm sứ mây, tre đan …
3.2 Đối với doanh nghiệp
Vươn ra thị trường nước ngoài là xu hướng chung của các quốc gia và các
doanh nghiệp. Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương phát triển kinh tế đối
ngoại theo hướng “ Hướng vế xuất khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là
hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại” ( Văn kiện đại hội đảng
VIII) Hoạt động xuất khẩu có vai trò to lớn trong hoạt động ở các doanh nghiệp,
thể hiện trên các điều sau:
- Hoạt động xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp phát triển là vấn đề sống còn
đối với doanh nghiệp ngoại thương. Mở rộng thị trường, đẩy mạnh số lượng
8
hàng hoá tiêu thụ trên thị trường quốc tế làm tăng tốc độ quay vòng vốn, có cơ
hội mở rộng quan hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ
sở hai bên cùng có lợi.
- Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước tham gia
vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng, buộc doanh
nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường, từ đó đề ra
các giải pháp nhằm củng cố và nâng cao hiệu quả trong công tác quản trị kinh
doanh, đồng thời có ngoại tệ để đầu tư cho quá trình sản xuất cả về chiều rọng
lẫn chiều sâu.
- Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động,
tạo ra thu nhập ổn định, tạo ngoại tệ nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng, đáp ứng
được nhu cầu của nhân dân đồng thời thu được ngoại tệ.
- Mặt khác thị trường quốc tế là một thị trường rộng lớn, nó chứa đựng
nhiều cơ hội cũng như rủi ro, những doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường
nếu thành công có thể tăng cao thế lực, uy tín của doanh nghiệp mình trong cả
nước và nước ngoài, thành công doanh nghiệp lại có nhiều cơ hội để tái đầu tư
phát triển sản xuất. Qua các hợp đồng làm ăn kinh tế, các mối quan hệ của
doanh nghiệp ngày càng được mở rộng, thế lực và uy tín của doanh nghiệp
không ngừng được nâng cao.
- Việt nam là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu.
Xuất khẩu gia công uỷ thác là hình thức kinh doanh trong đó đơn vị ngoại
thương đứng ra nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho xí nghiệp gia
công, sau đó thu hồi thành phẩm để bán cho bên nước ngoài, đơn vị được hưởng
phí uỷ thác theo thoả thuận với các xí nghiệp uỷ thác
Ưu điểm của xuất khẩu gia công uỷ thác
- Doanh nghiệp không cần bỏ vốn vào kinh doanh nhưng vẫn thu
được lợi nhuận.
- Rủi ro ít hơn và việc thanh toán chắc chắn hơn.
- Học tập được những kinh nghiệm quản lý của người nước ngoài
- Nhập được những thiết bị công nghệ cao, tạo vốn để xây dựng cơ
sở vật chất ban đầu
Nhược điểm của xuất khẩu gia công uỷ thác
- Giá gia công rẻ mạt và bị chi phối từ phía nước ngoài
- Không được tiếp xúc trực tiếp với thị trường để điều chỉnh sản xuất
kinh doanh cho phù hợp.
4.3 Phương thức mua bán đối lưu
Là phương thức trong đó người mua đồng thời là người bán và người bàn
đồng thời là người mua, hai bên trao đổi nhau với tổng tỷ giá hàng tương đương
10
nhau, việc giao hàng diễn ra đồng thời, mục đích của trao đổi buôn bán là để sử
dụng ( không phải để bán).
Phương thức mua bán đối lưu góp phần vào thúc đẩy mua bán cho các
trường hợp mà những phương thức mua bán khác không thể vượt qua được, ví
dụ khi bị cấm vận, trong trường hợp nhà nước quản chế ngoại hối, khi thị trường
tiền tệ không ổn định, khi không có tiền.
Nguyên tắc của buôn bán đối lưu : Cân bằng về tổng trị giá, cơ cấu của
hàng hoá, điều kiện cơ sở giao hàng
Ưu điểm của phương thức mua bán đối lưu :
- Tránh được sự lừa đảo, rủi ro về mặt giá cả
- Trong những truờng hợp đặc biệt có thể có một bên giao trước, bên
- Lợi nhuận bị chia sẻ do phải trả thù lao cho người trung gian thêm vào đó
là doanh nghiệp khó kiểm soát được hoạt động của người trung gian, do đó khó
kiểm soát được hoạt động của thị trường.
4.6 Giao dịch tái xuất
Giao dịch tái xuất là phương thức giao dịch trong đó hàng hoá mua về với
mục đích để tái xuất khâủ thu lợi nhuận chứ không phải với mục đích phục vụ
tiêu dùng trong nước. Giao dịch này luôn luôn thu hút ba nước, nước xuất khẩu,
nước tái xuất và nước nhập khẩu. Vì vậy, người ta còn gọi là giao dịch ba bên
hay giao dịch tam giác.
Ưu điểm giao dịch tái xuất :
- Thúc đẩy buôn bán đặc biệt trong một số trường hợp phương thức giao
dịch khác không thể vượt qua được, đó là thúc đẩy buôn bán giữa hai nước
không có mặt hàng phù hợp với yêu cầu của mình, mua bán theo hình thức tái
xuất có thể thu được lãi bằng ngoại tệ mạnh, có thể giúp các nước bị cấm vận,
vẫn có thể tiến hành buôn bái được với nhau.
Nhược điểm giao dịch tái xuất
- Phương thức này đòi hỏi sự nhạy bén tình hình thị trường và giá cả, sự
chính xác và chặt chẽ trong các hợp đồng mua bán.
II. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1. Công cụ, chính sách vĩ mô của Nhà Nước
Công cụ, chính sách vĩ mô của nhà nước là nhân tố quan trọng mà các
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khâủ phải nắm rõ và tuân theo vô điều kiện
bởi nó thể hiện ý chí của đảng và nhà nước công cụ, chính sách vĩ mô của nhà
nước bảo vệ lợi ích chung của mọi tầng lớp trong xã hội. Hoạt động xuất khẩu
tiến hành giữa các chủ thể giữa các quốc gia khác nhau. Bởi vậy nó chịu sự tác
động của các chính sách chế độ luật pháp ở quốc gia mình và đồng thời cũng
phải tuân theo những quy định của luật pháp quốc tế chung.
12
Đối với nước ta chính sách ngoại thường có nhiệm vụ tạo điều kiện thuận
lợi cho các tổ chức kinh doanh tham gia sâu vào sự phân công lao động quốc tế,
bị cộng nghệ.
Trợ cấp xuất khẩu : Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp tự cấp
trực tiếp hoặc cho vay với lãi xuất thấp đối với các nhà xuất khẩu trong nước,
13
bên cạnh đó chính phủ còn có thể thực hiện một khoản cho vay ưu đãi với các
bạn hàng nước ngoài để có thể có các điều kiện mua các sản phẩm do nước mình
sản xuất ra và để xuất khẩu ra bên ngoài.
Với mục đích thúc đẩy xuất khẩu, mở rộng hợp tác kinh doanh với
nước ngoài, chính phủ đã có những chính sách như “ Nhà nước khuyến
khích và có chính sách hỗ trợ đối với các doanh nghiệp phát triển và mở
rộng thị trường mới, xuất khẩu các mặt hàng mà nhà nước khuyến khích
xuất khẩu”
Điều 9 chương 4 nghị định 36 CP ngày 19/4/1994 về quản lý Nhà Nước đối
với hoạt động xuất khẩu, chính sách ngoại thương của chính phủ trong từng giai
đoạn khác nhau thường có sự khác biệt, vì vậy khi thực hiện hoạt động xuất
khẩu doanh nghiệp phải theo sát chính sách của chính phủ.
2. Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm : vị trí địa lý, khí hậu … cũng tác động đến
hoạt động xuất khẩu, đặc biệt với những hoạt động xuất khẩu sử dụng tài
nguyên thiên nhiên làm nguyên liệu chính như hàng thủ công mỹ nghệ :
Xuất khẩu đồ gốm chịu ảnh hưởng của thời tiết, mưa ảnh hưởng đến nung
gốm và vận chuyển gốm v v …
3. Tác động của tỷ giá hối đoái với hoạt động xuất nhập khẩu
Tỷ giá hối đoái, thông qua việc phản ánh tương quan giá trị của đồng tiền
các nước khác nhau mà tỷ giá hối đoái có được vai trò nhất định đối với quá
trình ngang giá và cùng một loạt các nhân tố khác nó tác động tới tương quan
giá cả xuất khẩu với nhập khẩu, tới khả năng nhập khẩu của các công ty.
Trong trường hợp tỷ giá hối đoái giảm xuống, có nghĩa là đồng bản tệ có
giá trị thấp hơn so với đồng ngoại tệ, nếu như không có các yếu tố khác ảnh
hưởng thì nó sẽ tác động tới xuất khẩu.
doanh nghiệp không thể kiểm soát được. Nghiên cứu các yếu tố này không
nhằm để điều khiển nó theo ý muốn của doanh nghiệp mà nhằm tạo ra khả năng
thích ứng một cách tốt nhất với xu hướng vận động của nó.
Mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường đều có một
môi trường kinh doanh nhất định. Môi trường kinh doanh tác động liên tục
đến hoạt động của doanh nghiệp theo những xu hướng khác nhau vừa tạo ra
cơ hội, vừa hạn chế khả năng thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh
nghiệp. ảnh hưởng của môi trường kinh doanh có thể ở các tầng ( thứ bậc)
khác nhau vĩ mô/vi mô, mạnh/yếu, trực tiếp/giám tiếp … Nhưng về mặt
nguyên tắc cần phản ánh được sự tác động của nó trong chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp. Sự ổn định hay bất ổn về chính trị xã hội … là
những nhân tố ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, hệ
thống chính trị và các quan điểm chính trị xã hội suy cho cùng tác động trực
tiếp tới phạm vi lĩnh vực, mặt hàng … của đối tác kinh doanh. Trong những
năm của thập kỷ 90 tình hình chính trị xã hội của nhiều quốc gia trên thế
giới đã có nhiều biến động lớn theo chiều hướng bất lợi đối với quan hệ
15
song phương và đa phương với các quốc gia và công ty trên thế giới, chỉ trên
cơ sở nắm vững các nhân tố của môi trường kinh doanh, doanh nghiệp mới
đề ra mục tiêu và chiến lược kinh doanh đúng đắn. Trong chiến lược và kế
hoạch kinh doanh đều phải xác định đối tác và những lực lượng nào ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
III. NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC XUẤT KHẨU
Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động rất phức tạp và rủi ro cao, nó đòi
hỏi phải tuân thủ luật quốc tế, đồng thời bảo đảm quyển lợi quốc gia và đảm bảo
uy tín kinh doanh của đơn vị. Trong qúa trình xuất khẩu phải cố gắng tiết kiệm
chi phí lưu thông, nâng cao tính doanh lợi và hiệu quả của toàn bộ nghiệp vụ
giao dịch. Do vậy hoạt động xuất khẩu thành công và có hiệu quả cần thực hiện
các bước sau :
1. Lập phương án kinh doanh
-Rút ra những quyết định phù hợp
Để làm công tác nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp thường dùng các biện
pháp sau: Nghiên cứu tại bàn và nghiên cứu tại hiện trường, tuỳ theo thị trường
và kinh phí của mình mà doanh nghiệp tìm ra phương pháp nghiên cứu thị
trường cho phù hợp.
3. Tổ chức ký kết hợp đồng
Ký kết hợp đồng là khâu cơ bản, quan trọng nhất của qúa trình đàm phán,
nó đảm bảo quyền lợi cho các bên và khẳng định tính khả thi của hợp đồng
bằng sự rằng buộc nghĩa vụ trách nhiệm của các bên một cách hợp lý.
Khi ký kết hợp đồng kinh doanh thương mại quốc tế, doanh nghiệp cần chú
ý các điều khoản sau đây.
a. Điều khoản tên hàng :
Là điều khoản quan trọng của mọi đơn chào hàng thư hỏi hàng, hợp đồng
hoặc NĐT. Nói lên chính xác đối tượng mua bán trao đổi. Có những cách sau
đây để diễn đạt điều khoản tên hàng :
-Tên thương mại : Tên thông thường và tên khoa học của nó
-Tên hàng hoá : Tên địa phương sản xuất ra hàng hoá đó
-Tên hàng hoá : Tên hãng sản xuất ra hàng hoá đó
-Tên hàng hoá : Tên nhãn hiệu hàng hoá
-Tên hàng hoá : Tên quy các chính của hàng hoá
-Tên hàng hoá : Tên công dụng của hàng hoá
-Tên hàng hoá : Mã số của hàng hoá đó trong danh mục hàng hoá
b. Điều kiện phẩm chất :
Phẩm chất hàng hoá là tổng hợp các chỉ tiêu về tính năng ( hoá, cơ, lý, tính)
quy cách, công suất, hiệu suất, thẩm mĩ, để phân biệt giữa hàng hoá này với
hàng hoá khác. Khi đánh giá phẩm chất hàng hoá cần căn cứ vào tiêu chuẩn
quốc tế, tập quán các nước hoặc tiêu chuẩn các bên, đồng thời thống nhất cách
17
giải thích và ghi rõ trong hợp đồng. Có một số cách xác định được phẩm chất
như sau
TT
x
100 + W
TT
Trong đó G
TM
: Trọng lượng thương mại
G
TT
: Trọng lượng thực tế
W
TC
: Độ ẩm tiêu chuẩn của hàng hoá
18
W
TT
: Độ ẩm thực tế của hàng hoá
Trọng lượng thương mại : Được áp dụng trong buôn bán những mặt
hàng dễ hút ẩm có độ ẩm không ổn định và có giá trị kinh tế tương đối cao : tơ
tằm, lông cừu, bông, len …
-Trọng lượng lý thuyết : Người ta căn cứ vào thể tích khối lượng riêng
với số lượng hàng để tính toán trọng lượng hàng hoặc căn cứ vào thiết kế của
nó, thích hợp với những mặt hàng có quy cách và kích thước cố định như : Thép
tấm, thép chữ U, thép chữ I. Tôn lá …
g. Điều kiện thanh toán trả tiền :
Các bên quy định những vấn đề về đồng tiền thanh toán, thời hạn trả
tiền, phương thức trả tiền và các điều kiên bảo đảm hối đoái.
h. Điều kiện khiếu nại : d. Điều kiện bao bì :
Trong điều khoản về bao vì, các bên giao dịch thường phải thoả thuận với
nhau về các vấn đề như : Chất lượng của bao bì, phương thức cung cấp bao bì và
b
0
c
0
Trong đó P
1
: Là giá cuối cùng để thanh toán
P
0
: Là giá cơ sở được quy đinh khi ký kết hợp đồng
A, B, C : thể hiện cơ cấu giá cả bằng mức % của các yếu tố mà
tổng số là 1
A : Là tỷ trọng của chi phí cố định
B : Là tỷ trọng của các chi phí về nguyên vật liệu
C : Là tỷ trọng các chi phí về nhân công
b
1
: Là giá nguyên vật liệu ở thời điểm xác định giá cuối
cùng
b
0
: Là giá nguyên vật liệu ở thời điểm ký kết hợp đồng
c
1
: Là tiền lương hoặc chỉ số tiền lương ở thời điểm xác
định giá cuối
c
0
: Là tiền lương hạc chỉ số tiền lương ở thời điểm ký kết
hợp đồng
đồng quy định phạm vi đảm bảo của người bán thời hạn bảo hành và trách
nhiệm của người bán trong thời gian bảo hành.
k. Điều kiện về trường hợp miễn trách :
Theo văn bản số 421 của phòng thương mại quốc tế, một bên được
miễn trách nhiệm về việc không thực hiện toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ
của mình nêú bên đó chứng minh được :
Việc không thực hiện được nghĩa vụ là do một trở ngại ngoài sự
kiểm soát của bên đó.
Bên đó đã không thể lường trước một cách hợp lý được trở ngoại
đó
Bên đó đã không thể tránh hoặc khắc phục một cách hợp lý được
trở ngại đó.
l. Điều kiện trọng tài :
Khi có tranh chấp xẩy ra, tuỳ theo điều khoản của hợp đồng mà hai
bên có cách giải quyết tranh chấp đó
m. Điều kiện vận tải :
Trong điều kiện vận tải của hợp đồng, có một số nội dung sau :
- Quy định tiêu chuẩn về con tàu chở hàng
- Quy định về nước bốc dỡ, thời gian bốc dỡ, thưởng phạt bốc dỡ
- Quy định về thời gian bắt đầu tính thời gian bốc dỡ
21
- Quy định về điều kiện tống đạt “ thống báo sẵn sàng bốc dỡ”
- Quy định về thưởng …
Ngoài những điều kiện trên trong quá trình giao dịch cụ thể các bên
còn đề ra những điều kiện khác như :
- Điều kiện cấm chuyển hàng
- Điều kiện về quyền lựa chọn
- Điều kiện chế tài
- Điều kiện quy định trình tự
- Điều kiện cấm chuyển nhựơng
xuất khẩu
Kiểm tra chất
lượng
Thuê tàu lưu
cước
Mua bảo hiểm Làm thủ tục
hải quan
Giao nhận
hàng xuất
khẩu
Làm thủ tục
thanh toán
Khiếu nại và giải quyết khiếu
nại ( Nếu có)
Thuê tàu lưu cước: Trong hợp đồng mua bán ngoại thương việc thuê tàu
chở hàng chỉ được tiến hành dựa vào 3 căn cứ sau đây : Những điều khoản của
hợp đồng mua bán ngoại thương, đặc điểm hàng mua bán và điều kiện vận tải,
việc thuê tàu, lưu cước đòi hỏi phải có kinh nghiệm nghiệp vụ, có thông tin về
tình hình thị trường thuê tàu và tinh thông các điều kiện thuê tàu.
4.4 Mua bảo hiểm
Khi mua bảo hiểm doanh nghiệp phải lưu ý tới cái điều kiện bảo hiểm và
lựa chọn công ty bảo hiểm. Có 3 điều kiện bảo hiểm chính :
- Bảo hiểm mọi rủi ro ( điều kiện A)
- Bảo hiểm miền bồi thường tổn thất riêng ( điều kiện B)
- Bảo hiểm miền bồi thường tổn thất riêng ( điều kiện C)
Ngoài ra còn có một số điều kiện bảo hiểm đặc biệt như : Bảo hiểm chiến
tranh, bảo hiểm đình công, bạo động …
4.5 Làm thủ tục hải quan
Hàng hoá đi ngang qua biên giới quốc gia để xuất khẩu hoặc nhập khẩu đều
phải làm thủ tục hải quan. Việc làm thủ tục hải quan bao gồm ba bước chủ yếu
- Lấy biên lai thuyền phó, đổi biên lai thuyền phó lấy vận đơn đường
biển hoàn hảo và chuyển nhượng được, sau đó chuyển về bộ phận kế toán để
lập chứng từ thanh toán.
4.7 Làm thủ tục thanh toán
Có thể nói thanh toán là khâu trọng tâm và kết quả cuối cùng của tất cả
giao dịch kinh doanh thương mại quốc tế. Do đặc điểm buôn bán với nước
ngoài, nếu thanh toán trong kinh doanh thương mại quốc tế phức tạp hơn
nhiều. Có một số phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế như
sau :
- Thanh toán bằng thư tín dung
- Thanh toán bằng phương thức nhờ thu
+ Nhờ thu phiếu trơn
+ Nhờ thu kèm chứng từ
- Thanh toán bằng đổi chứng từ trả tiền
- Phương thức thanh toán chuyển tiền
Dựa vào đặc điểm của hàng hoá, các điều khoản trong hợp đồng để có
phương thức thanh toán phù hợp cho cả hai bên, thanh toán theo hình thức
đã quy định trong hợp đồng và cần lưu ý rằng trong quá trình thực hiện hợp
đồng khi hàng hoá có tổn thất hoặc thanh toán có nhầm lẫn thì hai bên có thể
khiếu nại hoặc đi kiện.
4.8 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại ( nếu có )
Khi thực hiện hợp đồng xuất khẩu, nếu chủ hàng xuất nhập khẩu bị
khiếu nại đòi bòi thường, cần phải có thái độ nghiêm túc, thận trọng trong
25