Quản trị nhân lực
LỜI NÓI ĐẦU
Tiền lương luôn là vấn đề được xã hội quan tâm, bởi ý nghĩa kinh tế
xã hội to lớn của nó. Đối với người lao động tiền lương luôn là nguồn thu
nhập quan trọng nhất giúp họ đảm bảo được cuộc sống bản thân và gia
đình. Đối với một doanh nghiệp, tiền lương vốn là một phần không nhỏ
của chi phí sản xuất và đối với nền kinh tế đất nước tiền lương là sự cụ
thể hoá quá trình phân phối của cải vật chất do chính người lao động
trong xã hội tạo ra. Vì vậy, việc xây dựng tháng lương, quỹ lương, lựa
chọn các hình thức trả lương làm sao đảm bảo sự phân phối cân bằng cho
người lao động trong xã hội giúp họ có thể sống bằng chính tiền lương
của mình và tiền lương là động lực thúc đẩy người lao động làm việc tốt
hơn. Đây là điều hết sức quan trọng, đặc biệt là đối với những doanh
nghiệp hạt nhân của nền kinh tế.
Trong thời gian thực tập tại công ty tôi đã đi sâu nghiên cứu về
việc quản lý và trả lương cho cán bộ công nhân viên của công ty. Với
mong muốn từ những kiến thức hiểu biết về mặt lý luận của vấn đề tiền
lương đã học được và nghiên cứu tại trường, cùng với những thực tiễn về
công tác trã lương cho người lao động trong công ty để có thể phân tích
đánh giá rồi đưa ra một số ý kiến về công tác tra lương tại Công ty Dệt vải
công nghiệp Hà Nội.
Nguyễn Đình Phương
Quản trị nhân lực
PHẦN I
NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA CỦA TIỀN LƯƠNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP.
I. Khái niệm và ý nghĩa của tiền lương .
I.1 Khái niệm.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tiền lương luôn được
coi là một bộ phận quan trọng của giá trị hàng hoá. Ngoài ra, tiền lương
Trong đó: Itltt là chỉ số tiền lương thực tế.
Itldn là chỉ số tiền lương danh nghĩa
Igc là chỉ số giá cả
Như vậy tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào tiền
lương danh nghĩa mà còn phụ thuộc vào giá cả của các loại hàng hoá tiêu
dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà họ muốn mua.
Ở Việt nam chúng ta hiện nay, tiền lương được coi là giá cả
sức lao động được hình thành qua sự thoả thuận giữa người lao động và
người sử dụng lao động phù hợp với các quan hệ sản xuất lao động của
nền kinh tế thị trường đang trong quá trình phát triển và đi vào hoàn thiện
theo định hướng XHCN.
I. 2. Ý nghĩa của tiền lương.
Như chúng ta đã biết, tiền lương đóng vai trò quan trọng
trong đời sống của người lao động, nó quyết định sự ổn định, phát triển
của nền kinh tế và kinh tế gia đình của họ. Tiền lương là nguồn để tái sản
xuất sức lao động vì vậy nó tác động rất lớn đến thái độ của người lao
động đối với sản xuất, quyết định tâm tư tình cảm của nhân dân đối với
chế độ của XH. Xét trên góc độ quản lý kinh doanh, quản lý XH, vì tiền
lương luôn là nguồn sống của người lao động nên nó là đòn bẩy kinh tế
cực kỳ quan trọng. Thông qua chính sách tiền lương, Nhà nước có thể
điều chỉnh lại nguồn lao động giữa các vùng theo yêu cầu phát triển kinh
tế XH của đất nước.
Xét trên phạm vi Doanh nghiệp, tiền lương đóng vai trò quan
trọng trong việc kích thích người lao động phát huy khả năng lao động
sáng tạo của họ, làm việc tận tụy, có trách nhiệm cao đối với công việc.
Nguyễn Đình Phương
Itltt =
I
I
gc
Nguyễn Đình Phương
Quản trị nhân lực
của mỗi người. Thực tế trong Doanh nghiệp quản lý giỏi đã khẳng định:
dù chế độ trả lương khoán hay lương thời gian, chế độ trả lương sản phẩm
hay hợp đồng thời vụ … Nhưng nếu gắn với số lượng và chất lượng lao
động thông qua hệ thống mức là khoa học, gắn với sản phẩm cuối cùng
thì các chế độ tiền lương phát huy tác dụng tốt trong việc khuyến khích
người lao động. Trả lương đúng, đủ và công bằng thể hiện mức độ cống
hiến của người lao động, sự thừa nhận công lao và đãi ngộ, thì tiền lương
khi đó mới thực sự là động lực khuyến khích tăng năng suất lao động .
k Tiền lương là một phạm trù tiêu dùng.
Trong bất kỳ XH nào thì tiền lương luôn thực hiện chức năng
kinh tế XH cơ bản của nó là đảm bảo tái lại sức lao động. Tuy nhiên, mức
độ tái sản xuất sức lao động cho người lao động trong mỗi chế độ là khác
nhau, người lao động tái lại sức lao động của mình thông qua các tư liệu
sinh hoạt nhận được từ việc sử dụng khoản tiền lương của họ, vì vậy qui
định mức độ tái sản xuất sức lao động là tiền lương thực tế chứ không
phải là tiền lương danh nghĩa.
II. Các nguyên tắc và yêu cầu của tổ chức tiền lương.
II.1. Các nguyên tắc của tổ chức tiền lương.
. Trả lương ngang nhau cho lao động ngang nhau.
Khi lao động có chất lượng ngang nhau thì tiền lương phải
trả ngang nhau, nghĩa là khi hai hay nhiều lao động cùng làm một công
việc, thời gian, tay nghề và năng suất lao động như nhau thì tiền lương
được hưởng như nhau, không phân biệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác,…
Chế độ XH hiện nay, nguyên tắc này không mất đi mà tiếp tục tồn tại.
Nguyễn Đình Phương
Quản trị nhân lực
Q Đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động nhanh hơn tốc
độ tăng bình quân.
+ Trình độ lành nghề bình quân khác nhau ở các ngành nghề khác
nhau thì khác nhau.
Thể hiện mặt chất lượng lao động trong Doanh nghiệp trả
lương thì trả theo chất lượng lao động. Điều kiện lao động khác nhau
không những giữa các ngành nghề mà nội bộ từng Doanh nghiệp cũng
khác nhau. Vì thế khi điều kiện lao động khác nhau thì tiền lương khác
nhau. Do đó để tái sức lao động khác nhau thì tiền lương khác nhau.
+ Vị trí quan trọng của ngành.
Trong từng tời kỳ nhất định thì mỗi thời kỳ có một vị trí quan
trọng trong nền kinh tế, những ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh
tế thì tiền lương phải cao để mục đích khuyến khích lao động vào ngành
nghề đó.
II.2. Những yêu cầu của tổ chức tiền lương.
N Đảm bảo tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.
Sức lao động là năng lực lao động của con người, là toàn bộ
thể lực và trí lực của con người. Sức lao động thể hiện ở trạng thái tinh
thần, tâm lý, nhận thức kỹ năng lao động và phương pháp lao động. Sức
lao động là một trong 3 yếu tố của quá trình sản xuất, nó là yếu tố quan
trọng nhất và theo quan điểm hiện nay, tiền lương là giá cả sức lao động
do đó nó phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động đối với việc trả lương
trong Doanh nghiệp phải tuân thủ theo các nguyên tắc hay các điều kiện
sau:
Không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước qui định cho từng
vùng, từng ngành.
Nguyễn Đình Phương
Quản trị nhân lực
Người lao động làm đêm, làm thêm giờ phải cho nghỉ hoặc trả lương
thêm theo qui đinh.
Doanh nghiệp trả lương và các khoản phụ cấp trực tiếp cho từng
lương(1000)
1350 1470 1620 1780 2180 2670 3260
+Thang lương lý thuyết.
Đây là thang lương cơ sở.
Ví dụ: Kết cấu của một thang lương như sau:
Trong đó:
Hệ số tăng tuyệt đối là hiệu số của các hệ số lương hai bậc liên tiếp
nhau.
Hệ số tăng tương đối là thương số của hệ số tăng tuyệt đối với hệ số
lương của bậc đứng trước.
b.2. Mức lương.
Là lượng tiền để trả lương lao động cho một đơn vị thời gian, phù
hợp với các bậc trong thang lương, thường thì nhà nước quy định mức
lương bậc một hoặc mức lương tối thiểu với hệ số lương của bậc tương
ứng. Mức lương tối thiểu được nhà nước quy định theo từng thời kỳ phù
hợp với trình độ phát triển kinh tế của từng dai đoạn.
Nguyễn Đình Phương
Bậc lương
Chỉ tiêu
I II III IV V V
I
V
II
Hêsố lương 1.35 1.47 1.62 1.78 2.18 2.67 3.28
Hệ số tăng tuyệt
đối
0.12 0.15 0.16 0.40 0.49 0.61
Hệ số tăng tương
đối
8.9 9.2 9.89 22.4 22.47 22.8
Quản trị nhân lực
1. Hình thức trả lương theo sản phẩm.
Theo hình thức này thì tiền lương của công nhân được căn cứ vào
đơn giá sản phẩm và số lượng sản phẩm được chế tạo đảm bảo chất
lượng. Công thức tính tiền lương sản phẩm được xác định như sau:
TLsf : Tiền lương sản phẩm.
DGi : Đơn giá từng loại sản phẩm.
SFi : Số lượng từng loại sản phẩm.
i : Chủng loại sản phẩm.
Tiền lương sản phẩm phụ thuộc vào sản phẩm i. Đơn giá là số lượng
tiền tệ quy định đề tài cho người lao động khi chế tạo một sản phẩm đảm
bảo chất lượng.
Đơn giá được tính bằng công thức:
Scn :suất lương cấp bậc công
M
TG
: Mức thời gian quy định sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Msl :Mức sản lượng quy định sản xuất ra một đơn vị thời gian
a. Ưu điểm .
Hình thức trả lương theo sản phẩm gắn chặt với tiền lương của người
lao động từ đó khuyến khích công nhân làm ra nhiều sản phẩm, nó quán
triệt nguyên tắc trả lương theo số lượng và chất lượng lao động .
Nguyễn Đình Phương
TLsf =
∑
=
n
i
DGi
1
mức sản lượng và mức thời gian. Tổ chức phục phụ nơi làm việc tạo điều
kiện cho người lao động được thuận lợi, tạo ra được nhiều sản phẩm và
rút ngắn thời gian định mức. Thực hiện tốt công tác thống kê, kiểm kê,
kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm để xác định được chất lượng, số lương sản
phẩm để làm căn cứ trả lương đúng cho người công nhân.
e. Các chế độ trả lương theo sản phẩm.
e.1. Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân.
Tiền lương của công nhân được phụ thuộc vào đơn giá và sản lượng
sản phẩm mà công nhân đó chế tạo đảm bảo chất lượng.
Công thức tính :
Nguyễn Đình Phương
ĐG =
Q
L
= L x T
Quản trị nhân lực
Trong đó:
ĐG : Đơn giá sản phẩm.
L : Lương theo cấp bậc công việc.
Q : Mức sản lượng.
T : Mức thời gian.
Ưu điểm :
Mối quan hệ giữa tiền lương công nhân nhận được và kết quả lao
động được thể hiện rõ ràng, do đó kích thích công nhân nâng cao trình độ
tay nghề để nâng cao năng suất lao động, tăng thêm thu nhập. Chế độ tiền
lương này dễ hiểu, công nhân dễ dàng tính toán được số tiền sau khi hoàn
thành nhiệm vụ sản suất.
Nhược điểm:
Người lao động ít quan tâm đến việc sử dụng tốt máy móc, thiết bị
M
stt
n
i
Scv
∑
=1
=
∑
=
n
i
Scv
1
x Mtg
Quản trị nhân lực
hưởng lương theo sản phẩm những công nhân sửa chữa phục vụ máy sợi,
máy dệt, trong nhà máy dệt.
Đặc điểm của chế độ này là tiền lương của công nhân phụ thuộc vào
kết quả sản xuất kinh doanh của công nhân chính. Do đó đơn giá được
tính theo công thức sau:
Trong đó:
L: Lương cấp bậc của công nhân phụ.
Q: Mức sản lượng của công nhân chính.
e.4. Chế độ trả lương khoán:
Áp dụng cho những công việc nếu giao từng chi tiết, bộ phận sẽ
không có lợi mà phải giao toàn bộ khối lượng cho công nhân hoàn thành
trong một thời gian nhất định. Chế độ này chỉ áp dụng chủ yếu trong xây
dựng cơ bản và một số công việc trong nông nghiệp. Trong công nghiệp
chế độ trả lương này chỉ áp dụng cho những công nhân khi hoàn thành
Khi sản xuất đang khẩn trương, xét duyệt việc đang tồn tại ở khâu này có
tác dụng thúc đẫy sản xuất ở bộ phận khác, khâu khác có liên quan góp
phần hoàn thành vượt mức kế hoạch.
Trong chế độ trả lương này được áp dụng hai loại đơn giá, đơn giá cố
định và đơn giá luỹ tiến.
Đơn giá cố định tính giống như trong chế độ trả lương sản phẩm trực
tiếp cá nhân.
Đơn giá luỹ tiến được dùng để tính cho những sản phẩm vượt mức
kế hoạch tại mức khởi điểm được tính theo công thức:
Nguyễn Đình Phương
Lth = L +
100
)*(
L
hm
K =
d
td
ccd
x
1
x100
Quản trị nhân lực
Trong đó :
K : Là tỉ lệ tăng đơn giá hợp lí.
d
cd
: Là tỉ trọng chi phí sản xuất gián tiếp cố định trong giá thành sản
phẩm .
t
−+=
∑
Quản trị nhân lực
Với hình thức trả lương này có rất nhiều nhược điểm vì nó chưa gắn
thu nhập của mỗi người với kết quả lao động mà họ đã đạt được trong tời
gian lao động. Hình thức trả lương này bao gồm hai chế độ:
g Chế độ trả lương theo thời gian giản đơn.
Là chế độ trả lương mà tiền lương nhận được của mỗi người công
nhân do mức lương cấp bậc cao hay thấp mà có thời gian thực tế làm
nhiều hay ít quyết định.
Chỉ áp dụng ở những nơi khó xác định mức lao động chính xác khó
đánh giá công việc chính xác. Có ba loại lương theo thời gian giản đơn:
Lương giờ.
Lương ngày.
Lương tháng.
Nhược điểm của chế độ trả lương này là mang tính chất bình quân,
không khuyến khích sử dụng hợp lí thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên
vật liệu, tập trung công suất của máy móc để tăng năng suất lao động.
v Chế độ trả lương theo thời gian có thưởng:
Chế độ trả lương này là sự kết hợp giữa chế độ trả lương theo thời
gian giản đơn với tiền thưởng, khi đạt được chỉ tiêu về số lượng và chất
lương đã quy định.
Chủ yếu áp dụng với những công nhân phụ làm những công việc
phụ. Ngoài ra còn áp dụng đối với công nhân chính làm việc ở những
khâu sản xuất có trình độ cơ khí hoá cao, tự động hoá hoặc những công
việc tuyệt đối đảm bảo chất lương.
Tiền thưởng được tính bằng cách lấy lương trả theo thời gian đơn
giản nhân với thời gian làm việc thực tế sau đó cộng với tiền thưởng. Chế
độ trả lương này có nhiều ưu điểm không những phản ánh trình độ thành
thạo và thời gian làm việc thực tế mà còn gắn chặt với thành tích công tác
c. Chỉ tiêu thưởng.
Nguyễn Đình Phương
Quản trị nhân lực
+Thưởng giảm tỷ lệ hàng hỏng.
Chỉ tiêu xét thưởng: hoàn thành hoặc giảm được tỷ lệ hàng hỏng so
với qui định.
Điều kiện xét thưởng: phải có mức sản lượng, phải tổ chức kiểm tra,
nghiệm thu sản phẩm chặt chẽ về số lượng và chất lượng sản phẩm hoàn
thành.
Thưởng nâng cao tỷ lệ hàng có chất lượng cao.
Chỉ tiêu xét thưởng: hoàn thành và hoàn thành vượt mức sản phẩm
loại I và loại II trong một thời gian nhất định.
Điều kiện xét thưởng: cần xác định rõ tiêu chuẩn chất lượng các loại
sản phẩm, phải tổ chức kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm.
Nguồn thưởng: dựa vào chênh lệch giá trị sản phẩm, các loại đạt
được so với tỷ lệ sản lượng đạt được.
+Thưởng hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch.
Chỉ tiêu xét thưởng: hoàn thành và hoàn thoành vượt mức kế hoạch
sản xuất.
Điều kiện xét thưởng: đối với công nhân sản xuất và công nhân trực
tiếp sản xuất kinh doanh phải hoàn thành mức lao động được giao, bảo
đảm chất lượng và yêu cầu về qui trình và qui phạm kỹ thuật.
+Thưởng tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu và vật liêu.
Chỉ tiêu xét thưởng: hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu tiết
kiệm vật tư.
Điều kiện xét thưởng: tiết kiệm vật tư nhưng phải đảm bảo qui phạm
kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, an toàn lao động, làm tốt công
tác thống kê, hoạch toán số lượng và giá trị vật tư tiết kiệm được.
V. PHÚC LỢI
1. Khái niệm.
VI. Sự cần thiết của việc hoàn thiện công tác trả lương ở Doanh
nghiệp công nghiệp.
Công tác trả lương ở Doanh nghiệp được thể hiện tốt có ý nghĩa hết
sức quan trọng. Lựa chọn các hình thức trả lương hợp lý không chỉ đảm
bảo trả đúng, đủ lương cho người lao động, gắn tiền lương với kết quả lao
động thực sự của mỗi người mà còn làm cho mọi người thấy tiền lương là
thu nhập chính, là động lực thúc đẩy họ phát huy sáng kiến và từ đó họ
cảm thấy gắn bó thực sự với công việc của mình. Công tác trả lương tốt
giúp Công ty khai thác tốt tiềm năng như công tác tổ chức sản xuất tốt, tổ
chức quản lý lao động, hạch toán chi phí … được thực hiện tốt hơn. Trả
lương hợp lý giúp Doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí sản xuất mà vẫn
thu được lợi nhuận cao, công tác tiền lương trong các Doanh nghiệp bao
gồm rất nhiều nội dung, từ việc lập và sử dụng qũy lương, lựa chọn các
chế độ trả lương cho người lao động phù hợp, việc tính toán phân phối
tiền lương cho cán bộ công nhân viên trong Doanh nghiệp đúng, đủ, công
bằng là một vấn đề cấp bách và cần thiết.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi các Doanh nghiệp hoạt
động kinh doanh dưới sự điều tiết của bàn tay vô hình (thị trường) và bàn
tay hữu hình( Nhà nước ) thì việc quản lý sản xuất kinh doanh cần phải có
Nguyễn Đình Phương
Quản trị nhân lực
sự kết hợp hài hoà giữa tính khoa học và tính nghệ thuật. Trong công tác
trả lương cũng vậy, hiện nay có rất nhiều Doanh nghiệp dựa trên các hình
thức, chế độ trả lương theo hệ số, khoán qũy lương … Để đảm bảo cho
việc phân phối tiền lương công bằng, phù hợp với đặc điểm của tổ chức
sản xuất, đồng thời phát huy tối đa vai trò đòn bẩy kinh tế của tiền lương.
Nhìn chung, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm
riêng. Bên cạnh những Doanh nghiệp làm tốt công tác trả lương còn có
những Doanh nghiệp làm chưa thật tốt bởi những nguyên nhân khách
quan cũng như chủ quan tác động. Hiện nay hệ thống chính sách tiền
năng suất lao động không ngừng tăng lên.
Qua 35 năm xây dựng và trưởng thành, Công ty đã phát triển lớn
mạnh về cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ quản lý và có một đội ngũ cán
bộ công nhân viên với phẩm chất chính trị và trình độ chuyên môn cao.
Đến nay sản phẩm của Công ty được đánh giá tiêu chuẩn chất lượng về
các mặt như:
- Vải mành sợi được cấp dấu chất lượng cấp 1
- Vải sợi 3x3 và 3x4 được tặng Huy chương vàng trong Hội chợ
triển lãm thành tựu Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam.
Đặc biệt Công ty đã được Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương
Lao động hạng Hai và một Huân chương Lao động hạng Ba.
2. Quá trình phát triển của Công ty
Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của con người, ngành Dệt may thế
giới nói chung và ngành Dệt may Việt Nam nói riêng đã ra đời phát triển
từ thô sơ đến hiện đại, từ thủ công đến công nghiệp, từ phân tán đến tập
trung...
Nguyễn Đình Phương