Nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ vị thành niên
vi phạm phạm pháp luật ở Trường Giáo dưỡng Lê Thu Trang Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn ThS. ngành: Tâm lý học; Mã số: 60 31 80
Người hướng dẫn: GS.TS. Trần Thị Minh Đức
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về nhu cầu, nhu cầu tham vấn của trẻ vị
thành niên vi phạm pháp luận ở trường giáo dưỡng. Nghiên cứu thực trạng nhận
thức của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật về sự cần thiết phải tham vấn tâm lý,
mức độ mong muốn được tham vấn tâm lý và hành vi để thỏa mãn nhu cầu tham vấn
tâm lý ở các em. Đưa ra một số kiến nghị nhằm đáp ứng hiệu quả nhu cầu tham vấn
của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng.
Keywords. Tâm lý học; Trẻ vị thành niên; Vi phạm pháp luật; Trường Giáo dưỡng
Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển đất nước, mặt trái của nền kinh tế thị trường và tác hại của các
tệ nạn xã hội đã làm phát sinh tình trạng một bộ phận trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật, làm
đau đớn và nhức nhối cho gia đình và xã hội. Trẻ em mắc phải những tội nghiêm trọng như
cướp của, giết người, vận chuyển ma túy… Năm 2006, theo số liệu thống kê của Viện kiểm
sát nhân dân tối cao riêng trẻ em dưới 14 tuổi có 7000 vụ vi phạm, chiếm đến 70% tội phạm
vị thành niên dưới 18 tuổi. Con số này là một lời cảnh báo về tình trạng trẻ vị thành niên
niên ở trường giáo dưỡng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhu cầu tham vấn của trẻ
vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo dưỡng”.
2. Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu mức độ thỏa mãn nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ vị thành niên vi phạm
pháp luật sống trong trường giáo dưỡng
3. Mục đích nghiên cứu
Chỉ ra thực trạng nhận thức về sự cần thiết phải được tham vấn tâm lý, về mức độ mong
muốn và mức độ thỏa mãn nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở
trường giáo dưỡng. Trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm đáp ứng nhu cầu tham vấn
tâm lý của các em.
4. Khách thể nghiên cứu
- Nghiên cứu 141 trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo dưỡng số 2 - Ninh
Bình
- 02 cán bộ lãnh đạo trường giáo dưỡng
- 02 cán bộ quản lý học sinh trường giáo dưỡng
- 23 thầy cô giáo làm tham vấn các trường giáo dưỡng trong cả nước (4 trường)
5. Giả thuyết nghiên cứu
Chúng tôi cho rằng, sau khi được tham vấn tâm lý, nhìn chung nhu cầu tham vấn tâm lý
của đa số trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo dưỡng đều được thỏa mãn.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến nội dung đề tài nhằm xây dựng cơ sở lý thuyết
cho đề tài.
- Nghiên cứu thực trạng nhận thức của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật về sự cần thiết
phải tham vấn tâm lý, mức độ mong muốn được tham vấn tâm lý và hành vi để thỏa mãn nhu
cầu tham vấn tâm lý ở các em.
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm đáp ứng hiệu quả nhu cầu tham vấn của trẻ vị thành niên
ở trường giáo dưỡng
7. Giới hạn nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nhu cầu tham vấn của trẻ vị thành
niên ở trường giáo dưỡng về những khó khăn tâm lý mà các em gặp phải trong thời gian học
được 1/2 thời gian sẽ được xét giảm và thời hạn giảm tối đa là 1/3 thời hạn ghi trong quy
định)
Từ gọi thông thường với trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật là trẻ em làm trái pháp luật,
người chưa thành niên vi phạm pháp luật.
1.2.3. Khái niệm trường giáo dưỡng
Trường giáo dưỡng là một mô hình trường nội trú “ đặc biệt”, đã có lịch sử hình thành và
phát triển hơn 40 năm qua. Trường giáo dưỡng có nhiệm vụ quản lý, giáo dục đạo đức, pháp
luật, hướng nghiệp, dạy văn hóa, dạy nghề, tổ chức lao động, sinh hoạt phù hợp với lứa tuổi
người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháo luật nhằm giúp đỡ các em sửa chữa những vi
phạm của mình, học tập, rèn luyện tiến bộ, phát triển lành mạnh về thể chất, tinh thần, trí tuệ để
trở thành công dân lương thiện, có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
1.3. Nhu cầu tham vấn của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trƣờng giáo dƣỡng
1.3.1. Một số đặc điểm của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo dưỡng
1.3.1.1. Phát triển tâm - sinh lý ở lứa tuổi vị thành niên có ảnh hưởng tới hành vi vi phạm
pháp luật
1.3.1.2. Một số đặc điểm tâm lý của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật
1.3.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi vi phạm pháp luật ở trẻ vị thành niên
1.3.2. Nhu cầu tham vấn của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo dưỡng
1.3.2.1. Đặc điểm nhu cầu tham vấn của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo
dưỡng
1.3.2.2. Mức độ nhu cầu tham vấn của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật
1.3.2.3. Mối quan hệ của nhu cầu với hứng thú và hoạt động
1.3.2.4. Nội dung tham vấn cho học sinh trường giáo dưỡng
CHƢƠNG 2
TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổ chức nghiên cứu
2.1.1. Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận
2.1.2. Giai đoạn 2: Khảo sát thử
2.1.3. Giai đoạn 3: Khảo sát chính thức
58
41,13%
Trình độ học vấn
Tiểu học
37
26,24%
Trung học cơ sở
104
73,76%
Thời gian vào trƣờng
Dưới 6 tháng
56
39,72%
Từ 6 đến 12 tháng
39
27,66%
Từ 12 tháng đến hết thời hạn
chấp hành
47
32,62%
Tổng số
141
100%
Số khách thể còn lại là 02 cán bộ lãnh đạo, 02 cán bộ quản lý học sinh trường giáo dưỡng
số 2 và 23 giáo viên mà chúng tôi lựa chọn nghiên cứu. Những ý kiến của họ giúp cho kết
quả nghiên cứu của chúng tôi có độ tin cậy và khách quan hơn. Cụ thể:
Bảng 2.2. Một số đặc điểm của giáo viên trƣờng giáo dƣỡng
Đặc điểm
Giáo vụ hồ sơ
2
8,70%
Quản lý giáo dục
5
21,74%
Dạy nghề
5
21,74%
Y tế
2
8,70%
Thời gian làm việc ở
trƣờng giáo dƣỡng
Dưới 1 năm
3
13,04%
Từ 1 - 3 năm
11
47,83%
Trên 3 - 5 năm
5
21,74%
Trên 5 năm
4
17,39%
Tổng số
23
100%
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
11,3%
5,0%
95,0%
0%
20%
40%
60%
80%
100%
Một dịch vụ cho lời khuyên
Quá trình NTV trò chuyện, khai thác thông tin
Quá trình trao đổi, chia sẻ
80,1%
17,0%
0,7%
2,1%
Rất cần thiết Tương đối cần thiết
Có cũng được, không có cũng được Không cần thiết
Biểu đồ 3.3. Nhận thức về lợi ích của tham vấn tâm lý
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 85,1% học sinh cho rằng tham vấn tâm lý giúp các em
giải toả được những bức xúc.
Có 43,3% trẻ cho rằng tham vấn tâm lý đã giúp các em có cơ hội trò chuyện, nói lên những
tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của mình.
Có 39,7% trẻ vị thành niên cho rằng tham vấn tâm lý giúp cho các em có nhận thức và
lối sống tích cực.
Kết quà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, có 33,3% trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng
nhận thấy tham vấn tâm lý đã giúp các em có thêm hiểu biết về nhiều lĩnh vực của cuộc sống.
Nhìn chung trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng thiếu hụt hiểu biết về nhiều vấn đề trong
cuộc sống. Thông qua quá trình tham vấn, trò chuyện và giảng dạy những bài học văn hóa, thầy
Chấp nhận thân chủ
3,77
5
Quan trọng
Tin tưởng thân chủ
3,64
4
Quan trọng
Không định kiến
5,40
6
Ít quan trọng
Có tinh thấn khỏe
mạnh
6,13
7
Ít quan trọng
85,1%
33,3%
43,3%
39,7%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
Tỉ lệ
%
1
Lo lắng về gia đình
92
65,2
2
Ứng xử trong trường
58
41,1
3
Lo lắng khi trở về cộng đồng
64
45,4
4
Không có hiểu biết về SKTD
28
19,9
5
Lo lắng về chỉ tiêu LĐ, học tập
53
37,6
6
Lo lắng về công việc, tương lai
60
42,6
7
Bạn bè, người yêu bỏ
28
19,9
dưỡng
Biểu đồ 3.6. Mức độ mong muốn đƣợc tham vấn tâm lý
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng rất muốn được thầy cô
tham vấn tâm lý chiếm tỷ lệ cao (59,6%). Trong điều kiện sống mới chịu nhiều áp lực, nhiều
em rơi vào trạng thái tâm lý chán nản, sợ hãi, lo lắng… vừa tổn hại cho sức khỏe vừa gây khó
khăn cho việc chấp hành những yêu cầu của trường giáo dưỡng và tiếp nhận những tác động
giáo dục của nhà trường. Các em cần được tham vấn tâm lý để thực hiện tốt hơn nghĩa vụ của
mình, thay đổi bản thân và có cái nhìn tích cực hơn về tương lai.
Mức độ mong muốn được tham vấn tâm lý của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng còn
thể hiện rõ hơn khi không có vấn đề khó khăn gì, các em vẫn mong muốn được tham vấn.
Biểu đồ 3.7. Mức độ mong muốn tham vấn khi không gặp phải vấn đề
59,6%
32,6%
6,4%
1,4%
Rất muốn
Muốn
Không muốn
Không biết
Có 64,5% trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng cho rằng, khi không có vấn đề gì, các
em vẫn muốn được tham vấn, Tham vấn không chỉ giúp các em giải quyết các vấn đề khó
khăn về tâm lý mà quan trọng hơn cả nó đã có ý nghĩa bổ trợ và nâng đỡ tinh thần cho các
em.
Số những em cho rằng không cần thiết phải tham vấn khi không có vấn đề gì chiếm
35,5%, những em này lý giải rằng, khi không có vấn đề gì thì không cần thiết thầy cô giúp đỡ
vì lúc đó các em có tư tưởng ổn định và xác định được những việc mình phải làm. Điều này
cho thấy một số trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng đã có sự nhận thức khá rõ về vấn đề
của mình và phạm vi giúp đỡ của thầy cô trong quá trình tham vấn cho các em.
3.2.4. Những khó khăn trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng gặp phải nếu không được
tham vấn tâm lý
Nhìn chung, các em đều gặp phải rất nhiều những khó khăn tâm lý nếu không được tham
vấn. Điều này cho thấy nhu cầu được tham vấn tâm lý phát triển mức độ rất cao ở các em học
sinh trường giáo dưỡng. Các em mong chờ được thầy cô đón nhận với những chia sẻ, bao
dung, mong được sự quan tâm của gia đình và cái nhìn độ lượng từ xã hội cho những sai lầm
mà các em lỡ mắc phải.
Từ những vấn đề trẻ em trường giáo dưỡng nhận thức được về khả năng, phạm vi giúp đỡ
của thầy cô và những khó khăn gặp phải nếu không được tham vấn, chúng tôi muốn tìm hiểu
sâu hơn những thuận lợi và khó khăn từ phía thầy cô trong công tác tham vấn trợ giúp cho các
em.
Nhìn chung, thầy cô giáo ở trường giáo dưỡng khi làm tham vấn tâm lý đã nhận thức rất
rõ những thuận lợi và khó khăn của mình trong quá trình tham vấn cho các em.
3.2.5. Tâm trạng của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng khi không được tham vấn
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 45,4% trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng cảm thấy
chán nản khi không được thầy cô tham vấn, 24,8% cảm thấy rất chán nản và số em cảm thấy
bình thường chiếm tỷ lệ ít 29,8%.
Biểu đồ 3.9. Tâm trạng học sinh nếu không đƣợc tham vấn
Trên thực tế, vì một số lý do khách quan và chủ quan, một số em chưa được tham vấn,
do số lượng đăng ký đông trong khi thầy cô không thể sắp xếp để tham vấn tất cả các em,
cũng có thể do các em mong muốn được tham vấn nhưng không dám đăng ký vì có những
vấn đề sâu kín, tế nhị các em không thể bày tỏ lòng mình. Như vậy, số đông trẻ vị thành niên
ở trường giáo dưỡng đều cảm thấy chán nản nếu không được thầy cô tham vấn. Từ tâm trạng
chán nản, các vấn đề vướng mắc không được giải quyết bị đè nén trong khi khả năng nhận
thức và đương đầu của các em còn hạn chế có thể dẫn các em đến những hậu quả tiêu cực
như trầm cảm, rối nhiễu tâm lý, thậm chí gây nên những bệnh lý về tâm thần.
3.3. Sự thoả mãn nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ vị thành niên ở trƣờng giáo dƣỡng
3.3.1. Hành vi tìm đến tham vấn của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng
Những hành vi để thoả mãn nhu cầu tham vấn của các em thể hiện rất rõ đặc điểm tâm lý
em được tham vấn từ 5 lần trở lên chiếm 5%.
Bảng 3.5. Số lần trẻ đƣợc tham vấn
STT
Nội dung
Trẻ VTN
Tỉ lệ %
1
Chưa lần nào
22
15,6
2
Từ 1 – 2 lần
90
63,8
3
Từ 3 – 4 lần
22
15,6
4
Từ 5 lần trở lên
7
5
Số em được tham vấn từ 1 đến 2 lần chiếm tỷ lệ cao, thể hiện rõ nhu cầu của các em
đã trở thành động lực thúc đẩy hành vi tìm đến nhà tham vấn. Tuy nhiên, mức độ được
tham vấn tâm lý không đồng đều ở các em, có 15,6% em chưa lần nào được tham vấn,
trong khi đó có 5% số em được tham vấn tâm lý từ 5 lần trở lên. Trên thực tế, mức độ
được tham vấn tâm lý không đồng đều ở các em, một phần xuất phát từ những lý do chủ quan
và khách quan từ các em nhưng phần khác do vai trò kiêm nhiệm của các thầy cô ảnh hưởng
phần nào đến thời gian cũng như số lần được tham vấn cho các em.
24,8%
tâm trạng thoải mái và cảm giác được tin tưởng khi làm tham vấn.
3.3.4. Mức độ thoả mãn nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ vị thành niên ở trường giáo
dưỡng
Đa số trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng có cảm nhận tích cực sau khi tham vấn, số
em cảm thấy rất hài lòng chiếm 58,8%, có 26,1% em cảm thấy hài lòng và số em có cảm
nhận bình thường chiếm tỷ lệ ít 15,1%.
Biểu đồ 3.13. Mức độ thoả mãn nhu cầu tham vấn tâm lý
Đa số thầy cô ở trường giáo dưỡng đều có tâm trạng vui vẻ, thoải mái sau khi làm tham
vấn tâm lý cho các em (chiếm 73,9%), họ cho rằng sở dĩ có tâm trạng như vậy vì đã giúp các
em giải toả tâm lý.
34,8%
16,3%
70,9%
3,5%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
Sinh hoạt ngoại khóa Tư vấn nhóm Tư vấn cá nhân Hình thức khác
58,8%
26,1%
15,1%
Rất hài lòng
Hài lòng
8,7%
4,3%
73,9%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
Hứng thú Căng thẳng, mệt mỏi Nặng nề Vui vẻ, thoải mái
13,0%
78,3%
8,7%
Rất hài lòng
Hài lòng
Bình thường
cơ sở vật chất cho phòng tham vấn khang trang hơn. Tuy nhiên, hầu hết các em cảm thấy hài
lòng về điều kiện sinh hoạt và nội quy của nhà trường. Chỉ có một số các em có tư tưởng
hưởng thụ, có sự hụt hẫng với điều kiện cuộc sống bên ngoài so với khi vào trường nên nảy
sinh những đòi hỏi vượt quá giới hạn đáp ứng ở trường giáo dưỡng
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
1.1. Đa số trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng đều cho rằng tham vấn tâm lý rất cần
thiết cho học sinh trường giáo dưỡng. Các em nhận thức rất rõ về những khó khăn tâm lý và
hiểu được vai trò, lợi ích của tham vấn tâm lý trong việc trợ giúp học sinh trường giáo dưỡng
giải quyết những khó khăn gặp phải.
Minh.
5. Nguyễn Thị Chính, Phương Hoài Nga (2009), Hỗ trợ tâm lý thông qua giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh trường giáo dưỡng, Kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc tế: Nhu
cầu định hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam.
6. Côvaliov A.G, Tâm lý học cá nhân, NXB Giáo dục
7. Lê Minh Công (2009), Nghiện internet - game online ở thanh thiếu niên: báo cáo
qua ba trường hợp lâm sàng, Kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc tế: Nhu cầu định
hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam.
8. Cục V26, Bộ Công an (2004), Tư vấn với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở
trường giáo dưỡng, NXB Chính trị Quốc gia.
9. Daniel O’Donnel, Hướng dẫn tìm hiểu Công ước về quyền trẻ em, NXB Anvil.
10. Vũ Dũng chủ biên (2008), Từ điển Tâm lý học, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
11. Trần Thị Minh Đức, Chủ trì đề tài: Thực hành tham vấn và trị liệu tâm lý - Thực
trạng và giải pháp, Đề tài cấp Đại học Quốc gia, Hà Nội, Mã số QX.2007.
12. Trần Thị Minh Đức, Đỗ Hoàng, Tham vấn học đường - Nhìn từ góc độ Giới, Tạp
chí Tâm lý học, số 11/2006.
13. Trần Thị Minh Đức (2009), Giáo trình tham vấn tâm lý, Nhà xuất bản Đại học Quốc
gia Hà Nội.
14. Trần Thị Minh Đức (2010), Kĩ năng tham vấn cho người chưa thành niên vi phạm
pháp luật, Bản quyền của tổ chức Plan tại Việt Nam
15. Trần Thị Minh Đức (2002), Một số vấn đề cơ bản của Tâm lý học, Đề tài nghiên
cứu, ĐHQGHN.
16. Trần Thị Minh Đức (2009), Nhận biết tâm lý trẻ em qua tranh vẽ, Nhà xuất bản
Khoa học và kĩ thuật - Cục V26 Bộ Công an, Hà Nội.
17. Trần Thị Minh Đức (2002), Quan niệm về tư vấn tâm lý, Tạp chí ĐH & GD chuyên
nghiệp (số 6)
18. Lưu Song Hà (2009), Một số giải pháp tâm lý nhằm hạn chế và khắc phục hành vi
lệch chuẩn của học sinh trung học phổ thông, Kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc tế:
Nhu cầu định hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam.
19. Phạm Minh Hạc (2002), Tuyển tập Tâm lý học, NXB Giáo dục
Nhà xuất bản Giáo dục. Hà Nội.
32. Bùi Thị Xuân Mai (2007), Một số kỹ năng tham vấn cơ bản của cán bộ xã hội, Luận
án tiến sĩ, Viện Tâm lý học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
33. Bùi Thị Xuân Mai (2006), Thực trạng nhu cầu tham vấn chon học sinh, sinh viên
hiện nay - Những khuyến nghị, giải pháp”, Kỷ yếu hội thảo: Xây dựng và phát triển
mạng lưới tham vấn trong trường học, Bộ GD và ĐT Hà Nội.
34. Đỗ Hạnh Nga (2009), Những vấn đề nảy sinh trong đời sống tâm lý - xã hội của
học sinh tuổi vị thành niên và nhu cầu tư vấn tâm lý hiện nay, Kỷ yếu hội thảo khoa
học Quốc tế: Nhu cầu định hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam.
35. Chu Thị Hương Nga (2010), Nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên ở một số
trường Đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Tâm lý học,
trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội.
36. Phan Trọng Ngọ - Nguyễn Đức Hướng (2003), Các lý thuyết phát triển tâm lý
người, NXB ĐHSP Hà Nội
37. Tổng cục Thống kê, Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam (2000), Phân tích
kết quả điều tra đánh giá mục tiêu thập kỷ về trẻ em, NXB Thống kê.
38. Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam - Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển
(1996), Tài liệu tham khảo về công tác với trẻ em làm trái pháp luật, Hà Nội.
39. UNICEP Hà Nội (2000), Tài liệu tập huấn về công tác tham vấn.
40. Nguyễn Khắc Viện (2000), Từ điển Tâm lý học, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin,
Hà Nội.
B. Tài liệu tiếng Anh
41. Corey.G (1991), Theory and Practice of Counseling & Phsychotherapy, Books/Cole
Publishing Company.
42. Counseling for Investment in Health Promotion/CIHP, Workshop, Febaruary 2003.
43. Narayana S. Counseling Psychology, McGraw-Hill Publishing Company.
44. Neukrug E.D., The world of the Counselors, Books/ Cole Publishing Company, 1999.
45. Oxford wordpower (2000), Dictionary, Oxford.
C. Một số trang Web
46. Giaoduc.edu.vn