ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THU TRANG NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ
CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT
Ở TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC
MÃ SỐ: 60 31 80
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Trần Thị Minh Đức
1.2.1. Nhu cầu 31
1.2.2. Khái niệm trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật 35
1.2.3. Khái niệm trường giáo dưỡng 37
1.3. Nhu cầu tham vấn của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường
giáo dưỡng 38
1.3.1 Một số đặc điểm của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo
dưỡng 38
3
1.3.2. Nhu cầu tham vấn của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường
giáo dưỡng 45
CHƯƠNG 2. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 54
2.1. Tổ chức nghiên cứu 54
2.1.1. Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận 54
2.1.2. Giai đoạn 2: Khảo sát thử 54
2.1.3. Giai đoạn 3: Khảo sát chính thức 55
2.2. Phương pháp nghiên cứu 60
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu 60
2.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (ankét) 60
2.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu 62
2.2.4. Phương pháp thảo luận nhóm 63
2.2.5. Phương pháp quan sát 64
2.2.6. Phương pháp thống kê toán học 64
2.3. Tiến độ nghiên cứu 65
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 66
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 67
3.1. Nhận thức của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo
dưỡng về nhu cầu tham vấn tâm lý 67
3.1.1. Nhận thức của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng về ý nghĩa của
tham vấn tâm lý 68
hơn nhu cầu tham vấn của các em 140
MỘT SỐ CA THAM VẤN 143
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 149
1. Kết luận 149
2. Kiến nghị 151
5
2.1. Đối với lãnh đạo, cơ quan chức năng trực thuộc Bộ Công an 151
2.2. Đối với nhà trường và thầy cô giáo 151
2.3. Đối với gia đình 152
2.4. Đối với trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng 153
TÀI LIỆU THAM KHẢO 154
PHẦN PHỤ LỤC
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Một số đặc điểm của học sinh trường giáo dưỡng số 2
Bảng 2.2. Một số đặc điểm của giáo viên trường giáo dưỡng
Bảng 3.1. Những phẩm chất tâm lý quan trọng của nhà tham vấn
Bảng 3.2. Mức độ quan trọng của các kỹ năng tham vấn
Bảng 3.3. Nhận thức về những vấn đề cần được thầy cô tham vấn
Bảng 3.4. Các vấn đề được chia sẻ nhiều nhất khi tham vấn
Bảng 3.5. Số lần trẻ được tham vấn 7
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
phạm vị thành niên dưới 18 tuổi. Con số này là một lời cảnh báo về tình trạng
trẻ vị thành niên phạm tội. Trẻ vị thành niên ở lứa tuổi muốn tự khẳng định
mình, không muốn phụ thuộc và dễ bị tác động, rủ rê, lôi kéo bởi các đối
tượng xấu. Nhiều em bị ảnh hưởng tâm lý từ các loại phim, ảnh bạo lực, văn
hoá phẩm đồi truỵ trên mạng Internet và ngoài xã hội. Trong khi đó, nhiều
bậc phụ huynh không chú ý đến sự phát triển tâm, sinh lý của con cái, nuông
chiều con cái, không nghiêm khắc trong việc dạy bảo con em mình mà mải lo
công việc, kiếm tiền. Một số trẻ em phải sống trong hoàn cảnh mồ côi bố hoặc
mẹ, cha mẹ bất hoà, ly thân, ly hôn dẫn đến sự thiếu hụt về mặt tình cảm, sự
phát triển lệch lạc. Hơn nữa do thiếu sự chỉ bảo, quan tâm của gia đình nên số
thanh, thiếu niên này dễ bị kẻ xấu lợi dụng và lôi kéo vào con đường phạm tội.
Trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật được đưa vào trường giáo dưỡng
hầu như đã bị tổn thương về nhiều mặt. Các em thiếu tình yêu thương và sự
chăm sóc của cha mẹ, gia đình dẫn tới sự lệch lạc trong cấu trúc nhân cách,
rối nhiễu tâm lý, rối loạn hành vi… Hầu hết các em đều có nhu cầu được chia
sẻ những tâm tư nguyện vọng và vượt qua những trở ngại tâm lý, nhất là trong
quãng thời gian nhận sự quản lý, giáo dục ở trường giáo dưỡng. Để các em có
9
thể yên tâm ở trường học tập, lao động, phấn đấu…, thầy cô giáo phải giúp
các em tháo gỡ những vướng mắc tâm lý, ổn định tinh thần, tư tưởng.
Trong những năm qua, Tổng cục VIII, Bộ công an đã đưa vào thử
nghiệm hoạt động tham vấn cho học sinh trong các trường giáo dưỡng và đã
đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Thực chất công tác giáo dục
trong trường giáo dưỡng là giúp trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật thay đổi
những cảm xúc - nhận thức - hành vi sai lệch, hình thành cho các em những
phẩm chất tâm lý mới, hành vi mới phù hợp với yêu cầu xã hội.
Thực tế cho thấy, hoạt động tham vấn kịp thời có thể giúp các em vượt
qua khủng hoảng tâm lý, giúp các em nhìn nhận rõ hơn vấn đề của mình và tự
giải quyết vấn đề theo hướng tích cực hơn. Khi nhà tham vấn nhận thấy
5. Giả thuyết nghiên cứu
Chúng tôi cho rằng, sau khi được tham vấn tâm lý, nhìn chung nhu cầu
tham vấn tâm lý của đa số trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo
dưỡng đều được thỏa mãn.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến nội dung đề tài nhằm xây
dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài.
- Nghiên cứu thực trạng nhận thức của trẻ vị thành niên vi phạm pháp
luật về sự cần thiết phải tham vấn tâm lý, mức độ mong muốn được tham vấn
tâm lý và hành vi để thỏa mãn nhu cầu tham vấn tâm lý ở các em.
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm đáp ứng hiệu quả nhu cầu tham vấn
của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng 11
7. Giới hạn nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nhu cầu tham
vấn của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng về những khó khăn tâm lý mà
các em gặp phải trong thời gian học tập và rèn luyện ở trường.
- Địa bàn nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu ở trường giáo dưỡng số 2 –
Ninh Bình
8. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
- Phương pháp điều tra bảng hỏi (an két)
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thảo luận nhóm
nghiệm Anh đầu tiên đã phát triển những phòng thực nghiệm để kiểm tra sự
khác biệt về thể chất, sự khác biệt tâm lý của con người.
13
James Cattell và G.Stanley Hall, những nhà tâm lý học thực nghiệm Mĩ
đầu tiên đã mở phòng thực nghiệm tại Havard và Đại học Pennsylvania cuối
thế kỉ XIX và phát triển trắc nghiệm đo nhân cách, trắc nghiệm được áp dụng
vào tham vấn nghề.
Alfred Binet, nhà tâm lý học người Pháp đã phát triển trắc nghiệm kiểm
tra trí thông minh đầu tiên cho Bộ Giáo dục - Cộng hoà Pháp nhằm phân biệt
những đứa trẻ “bình thường” với những đứa “không bình thường”. Vào đầu
thế kỷ XX, những trắc nghiệm về năng lực như trắc nghiệm đánh giá thành
tựu đạt được ở trường học và trắc nghiệm đánh giá nhân cách được phát triển.
Cũng vào thời gian này, Emil Kraepelin đã phát triển bảng phân loại bệnh tâm
thần đầu tiên trên thế giới
Năm 1907, Jesse Davis đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên về công tác
hướng dẫn nghề tại Michigan. Tuy nhiên, người có ảnh hưởng lớn nhất đến
công tác hướng nghiệp ở Mĩ là Frank Parson. Ông đã xuất bản cuốn sách
“Cẩm nang hướng nghiệp” nhằm trợ giúp các cá nhân trong việc lựa chọn
nghề nghiệp. Năm 1909, cuốn sách “Chọn nghề” được coi là sự cống hiến to
lớn mà ông đã để lại cho công tác hướng nghiệp. Phòng tư vấn đầu tiên trên
thế giới đã được F. Parsons thành lập ở Boston (Mĩ) vào năm 1908. Parsons
cho rằng công tác hướng nghiệp phải được thể hiện trong ba quá trình: sự thấu
hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng, sở thích, hoài bão; nguồn lực
cũng như hạn chế của bản thân; sự hiểu biết về những yêu cầu của nghề
nghiệp, điều kiện thành công, những cơ hội và những triển vọng phát triển;
hiểu biết về mối liên hệ giữa đặc điểm cá nhân của bản thân và yêu cầu của
công việc cụ thể. Những ý tưởng của Parsons trong công tác hướng nghiệp đã
thực sự trở thành nguyên tắc của nghề tham vấn sau này.
Trên thế giới, những chuyên gia tham vấn hướng nghiệp phải là những
15
sự liên tưởng thông suốt ngày nay đã trở nên quen thuộc đối với các khoa
học trợ giúp về tâm lý, đặc biệt là đối với các nhà tham vấn chuyên nghiệp.
E. G. Williamson (1930) đưa ra một lí thuyết hoàn chỉnh về tham vấn
với tên gọi là “Tiếp cận đặc điểm và nhân tố”. Williamson đề xuất các bước
của một hoạt động tham vấn như sau:
1. Phân tích đánh giá vấn đề và lập hồ sơ về sự tiếp xúc và sự trắc
nghiệm đối với thân chủ
2. Tổng hợp, tóm tắt và sắp xếp thông tin để hiểu vấn đề
3. Chẩn đoán, làm sáng tỏ vấn đề
4. Tham vấn, trợ giúp cá nhân tìm cách giải quyết
5. Theo dõi sát sao sự tiến triển cùng thân chủ
Patterson cho rằng sự khác nhau cơ bản của sự tiếp cận theo đặc điểm
và nhân tố so với tham vấn hướng nghiệp giai đoạn đầu thế kỷ là việc xác
định được một chuỗi các bước của một hoạt động trợ giúp. Đây chính là tiền
thân của “Quá trình tham vấn”.
Vào những năm 50 của thế kỷ XX, các lí thuyết nghiên cứu về quá
trình phát triển tâm lý con người đã cho phép các nhà tham vấn vận dụng nó
để giúp đỡ cho các thân chủ của mình. Các học thuyết tâm lý này là cơ sở
khoa học cho việc nhận biết, giải thích nguồn gốc của hành vi và các rối loạn
tâm lý ở con người như: Lý thuyết phát triển tâm lý xã hội, thuyết phát triển
tư duy trẻ em, lý thuyết phát triển nhu cầu con người, thuyết gắn bó mẹ - con,
lý thuyết về tổn thương tâm lý
Một trong những thay đổi lớn nhất của tham vấn hiện nay là tập trung
vào lĩnh vực văn hoá hay còn gọi là tham vấn xuyên văn hoá. Các nhà tham
vấn cho rằng sẽ rất khó khăn trong việc giúp đỡ khách hàng nếu nhà tham vấn
không nắm được nền tảng văn hoá của khách hàng. Whitfield, McGrath và
Coleman chỉ ra các yếu tố xác định một mô hình văn hoá cụ thể, đó là:
16
cao chất lượng cuộc sống tinh thần mỗi cá nhân và gia đình.
Tại một số nước có ngành tham vấn phát triển như Anh, Pháp, Mỹ,
Canada… cán bộ tham vấn cần được đào tạo ở bậc thạc sĩ và có bằng hành
nghề như một nhà tham vấn độc lập hay như một nhà công tác xã hội được đào
tạo về công tác xã hội trong đó có tham vấn cùng với bằng hành nghề do hội
đồng quốc gia cấp. Tại các nước này đều có hội đồng quốc gia về tham vấn với
những quy định chặt chẽ về nguyên tắc đạo đức, kiến thức và các kỹ năng mà
nhà tham vấn cần có cũng như việc cấp bằng hành nghề cho các nhà tham vấn.
1.1.2. Sự phát triển tham vấn ở Việt Nam
Hầu như không thấy tài liệu nào ghi lại sự phát triển của ngành tham
vấn ở Việt Nam trước năm 1945.
“Nghề tham vấn tâm lý”, mà khởi đầu là công tác tư vấn tâm lý, được
xuất hiện vào những năm của thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang
kinh tế thị trường. Vào thời kỳ này, các hoạt động tư vấn tâm lý thường đi
kèm với các chương trình cải thiện cuộc sống và kinh tế cho các đối tượng
thuộc diện chính sách xã hội. Công tác tư vấn là một phần trong các hoạt
động của công tác Từ thiện, Công tác xã hội nhằm giải quyết những vấn đề
mang tính thời đại như đói nghèo, bệnh tật, mại dâm, người có HIV, trẻ mồ
côi, trẻ lang thang, người già không nơi nương tựa… với những tổn thương
tâm lý sâu sắc.
Công ước Quốc tế về quyền trẻ em (1991) đã được Nhà nước phê
chuẩn và ban hành Luật Bảo vệ và Chăm sóc Giáo dục Trẻ em đã góp phần
nâng cao trách nhiệm của gia đình, các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã
hội trong việc hạn chế vấn đề vi phạm quyền trẻ em và trẻ em làm trái pháp
luật. Bằng nghiệp vụ chuyên môn của mình, Ủy ban Bảo vệ Chăm sóc Trẻ em
Việt Nam (tên cũ) đã xây dựng nhiều mô hình chăm sóc trẻ em, trong đó có
18
mô hình văn phòng Tư vấn, nhằm bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn, như trẻ em lang thang kiếm sống ở thành phố, trẻ em trộm cắp, trẻ
đình. Khía cạnh tâm lý và nâng cao năng lực ở đây còn ít được chú ý đến.
Tham vấn điện thoại “đường dây nóng” cũng được phát triển mạnh mẽ
ở nước ta, ban đầu cung cấp thông tin và sau đó là tham vấn. Một trong những
điểm mạnh của dịch vụ tham vấn điện thoại là khả năng cung cấp sự hỗ trợ và
lời khuyên miễn phí đáng tin cậy. Đội ngũ nhân viên hỗ trợ thường được đào
tạo hoặc có những hiểu biết cá nhân về những khó khăn điển hình của người
gọi điện đang nói chuyện với họ. Cùng với sự phát triển của đường dây tư
vấn, hình thức tham vấn qua mạng internet đã phát triển rộng rãi, thể hiện qua
ba dạng thức tham vấn khác nhau, đó là: tham vấn qua trang web, tham vấn
qua email và tham vấn qua chat.
Ở Việt Nam, những chủ đề tham vấn phổ biến là hỏi đáp các vấn đề về
pháp luật, chính sách, hôn nhân gia đình, nuôi dạy con cái, bảo vệ và chăm
sóc trẻ em, các hiện tượng xâm hại, vấn đề HIV/AIDS…Nguyên nhân gây
nên do các vấn đề mất cân bằng tinh thần trong cuộc sống.
Tham vấn trẻ em làm trái pháp luật là một loại chủ đề và cũng là đối
tượng tham vấn được Nhà nước quan tâm rất sớm. Ngay từ những năm 1996 -
2000, trên phạm vi các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
đã xuất hiện các dự án bảo vệ trẻ em, trong đó có mảng tư vấn trẻ em làm trái
pháp luật. Các phòng tư vấn được hình thành tại cộng đồng với các tình
nguyện viên làm công tác tư vấn miễn phí cho các nhóm trẻ em, chủ yếu là trẻ
em lang thang kiếm sống trên đường phố.
Đặc biệt, hiện nay dưới sự chỉ đạo của Tổng cục VIII - Bộ công an, các
trường giáo dưỡng dành cho vị thành niên vi phạm pháp luật trong cả nước,
20
như Trường Giáo dưỡng số 2 Ninh Bình, trường số 3 Đà Nẵng, trường số 4
Đồng Nai và trường số 5 Long An với tổng cộng khoảng 3700 học sinh (tập
trung nhiều ở nhóm từ 16 đến dưới18 tuổi) được hưởng các dịch vụ tham vấn
trong khoảng 2 năm. Số trẻ em vào các trường giáo dưỡng chủ yếu có hành vi
trộm cắp, cướp của, lừa đảo, gây rối trật tự, đánh người gây thương tích…
trường, lực lượng mà từ trước đến nay vẫn tiến hành hoạt động tham vấn
mang tính chức năng cho học sinh, còn ít được nghiên cứu.
Tóm lại, hoạt động tham vấn chuyên nghiệp ở nước ta còn rất mới mẻ
không những chỉ về nghiên cứu lý luận mà còn cả về thực tiễn. Trong khi đó,
nhu cầu được tham vấn của xã hội hiện nay rất lớn. Điều này yêu cầu các nhà
nghiên cứu cần nỗ lực rất nhiều trong việc nghiên cứu và phát triển ngành
tham vấn trên mọi phương diện.
1.1.3. Một số nghiên cứu về nhu cầu
Trong cấu trúc của nhân cách, xu hướng được xếp ở vị trí trung tâm, nó
quy định chiều hướng đạo đức và tài năng của sự phát triển nhân cách. Xu
hướng nhân cách được biểu hiện ở một số mặt như nhu cầu, hứng thú, thế giới
quan, lý tưởng… Trong đó, nhu cầu là thành phần đầu tiên của xu hướng, nó
chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi con người nói
riêng. Để tồn tại và phát triển, con người cần phải được thoả mãn các nhu cầu
nhất định như nhu cầu ăn, ở, mặc, nhu cầu học tập, lao động, giải trí, nhu cầu
giao tiếp với những người xung quanh và rất nhiều nhu cầu khác nữa. Có thể
nói rằng, mục đích cuối cùng trong tất cả các hành vi của con người là nhằm
thoả mãn một nhu cầu nào đó.
Nói đến nhu cầu là nói đến sự đòi hỏi của cá nhân về một cái gì đó ở
ngoài cá nhân, nó có thể là một sự vật, một hiện tượng hoặc một người khác
hoặc bên trong cơ thể. Nhu cầu là trạng thái tâm lý làm rung động người ta về
22
một điều gì đó. A.G.Côvaliôv đã đưa ra định nghĩa về nhu cầu với tư cách là nhu
cầu của một nhóm xã hội: “Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của các
nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định để sống và phát
triển. Nhu cầu quy định sự hoạt động xã hội của các cá nhân, các giai cấp và tập
thể” [6, tr. 75].
Theo lý thuyết của Henry Murray, nhu cầu được hiểu là một tổ chức cơ
động, nó tổ chức và hướng dẫn các quá trình nhận thức, tưởng tượng và hành
kiểm duyệt, bị ức chế và bị dồn nén xuống dưới tầng ý thức. Trong quá trình
con người hành động, những bản năng này tự trong tiềm thức vẫn tiếp tục
điều khiển hành vi của con người. Như vậy theo quan điểm của S.Freud nhu
cầu của con người được coi như một sức mạnh sinh học, tương tự với các bản
năng sinh vật, cũng có những tính chất mù quáng và vô ý thức.
Dựa trên những quan điểm này, quan điểm Freud mới ra đời nhấn
mạnh sự phụ thuộc của cá nhân vào hoàn cảnh. Hoàn cảnh quy định cho cá
nhân những phẩm chất quan trọng nhất, những phẩm chất đó trở thành
những hình thức của tính tích cực của nhân cách. Theo các nhà phân tâm
mới nhu cầu của con người được hình thành do sự tác động của môi trường
sống. Chính vì vậy, họ cũng không giải thích được những nguyên nhân
xuất phát gây ra hoạt động của con người trước hoàn cảnh đã được sinh ra
như thế nào trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa cá nhân với
hoàn cảnh. Đây chính là điểm hạn chế lớn nhất trong quan điểm của phân
tâm học về nhu cầu.
A.H.Maslow (1908-1970) - nhà tâm lý học Mỹ cũng cho rằng nhu cầu
là động lực thúc đẩy hành vi của con người mạnh mẽ nhất. Tính xã hội nằm
trong nhu cầu của con người, tính người mà nhu cầu và các rung động của con
24
người được hình thành và phát triển trong quá trình phát sinh chủng loại. Các
nhu cầu dựa trên cơ sở di truyền nhất định. ở điểm này học thuyết về nhu cầu
của Maslow giống với học thuyết phân tâm của S.Freud. Maslow đã hình
dung nhu cầu và sự phát triển của con người theo một chuỗi liên tiếp như một
chiếc thang. Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người căn cứ
theo tính đòi hỏi và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để chia thành năm
bậc và sắp xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao: Nhu cầu sinh lí (basic needs),
nhu cầu an toàn (social needs), nhu cầu thương yêu (safety needs), nhu cầu
tôn trọng (esteem needs), nhu cầu tù thể hiện (self-actualizing needs). Theo
ông, mỗi nhu cầu của con người trong toàn bộ hệ thống nhu cầu phải được
Ở đây chúng tôi phân tích 5 thứ bậc nhu cầu của Maslow gắn với đặc
điểm tâm lý của trẻ vị thành niên phạm pháp.
Nhu cầu thể chất theo Maslow còn được gọi là nhu cầu của cơ thể
hoặc nhu cầu sinh lý, bao gồm các nhu cầu như ăn, uống, ngủ, không khí để
thở, tính dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,… Đây là những nhu
cầu cơ bản nhất và mạnh mẽ nhất của con người. Trong hình kim tự tháp,
chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất (bậc cơ bản
nhất). Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất
hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản được thoả mãn và những nhu cầu cơ bản
sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã con người hành động khi nó chưa đạt được.
Chúng ta có thể kiểm chứng điều này đối với đa số các trường hợp, khi cơ
thể không khỏe mạnh, đói khát hoặc bệnh tật, các nhu cầu khác thường chỉ
còn là thứ yếu.
Theo Maslow, cùng với việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản, con người
cũng có nhu cầu về sự an toàn. Nhu cầu an toàn thể hiện trong cả thể chất lẫn