Tài liệu Tài liệu tập huấn chăn nuôi 2009 - Phần 6 - Pdf 10


28PHẦN VI
KỸ THUẬT CHĂN NUÔI LỢN
THEO HƯỚNG TRANG TRẠI, GIA TRẠI
I. Chọn giống
- Lợn đực heo cái chọn để nuôi sinh sản phải là những con lợn có sức khoẻ
tốt biểu hiện ở dáng đi lanh lẹ, da và lông mượt mịn, mắt sạch và sáng, niêm mạc
mí mắt ửng hồng, đuôi ngoe nguẩy đều đặn.
- Chọn con giống ở những cơ sở giống có uy tín đảm bảo chất lượng. Việc
mua bán phải có hợp đồng và bảo hành những ngày đầu cung ứng (15 - 21 ngày)
- Hình dáng: Ở các giống lợn khác nhau hình dáng bên ngoài không hoàn
toàn giống nhau. Song điểm chung nhất khi chọn làm giống là mọi con lợn phải
có hình dáng bên ngoài cân đối, cơ thể vững chắc. Ví dụ: Khi chọn giống lợn
Yorkshire chọn những con trán rộng, mõm dài hơi cong, tai đứng hơi nghiêng về
phía trước. Chọn giống Landrace thì chọn những con có thân hình tựa cái nơm,
đầu nhỏ hai tai rũ che úp hai mắt, mõm dài nhọn.
- Lợn phải chọn từ những nái cho sữa tốt, đẻ nhiều, dễ nuôi, tạp ăn. Chọn
những con có tính tình hiền lành.
- Tốt nhất nên chọn những con cái có từ 13 vú trở lên, vú đều và không có
vú lép, vú kẽ. Khoảng cách giữa các vú đều nhau, núm vú phát triển tốt. Nên
chọn những con từ ổ lợn mà mẹ có 13 vú trở lên.
- Đực giống nên chọn những con khoẻ mạnh và tốt nhất trong đàn, hòn cà
đều hai bên. Đực giống phải mang tính hăng, không hiền quá cũng không dữ
quá. Bốn chân vững chắc nhất là 2 chân sau.
- Ngoài ra, khi chọn giống còn dựa vào chất lượng của các thế hệ trước nó
như bố, mẹ, ông, bà.
- Heo phải được tiêm phòng các bệnh cơ bản: Tụ huyết trùng, phó thương
hàn, dịch tả, suyễn, lở mồm long móng và bệnh tai xanh.

3. Giống lợn Pietrain
Có nguồn gốc từ Bỉ.
Đặc điểm: lông da màu trắng đen xen lẫn từng đám, tai thẳng đứng, đầu to
vừa phải, mõm thẳng, 4 chân thẳng, ngắn, mông rất nở, lưng rộng, đùi to.
Lợn Pietran có tuổi đẻ lứa đầu chậm: 418 ngày tuổi (Yorshire 366 ngày
tuổi). Số con sơ sinh bình quân 10,2 con/lứa. Nuôi thịt tăng trong nhanh, tỷ lệ
nạc 61,35 %.
4. Lợn Duroc
Có nguồn gốc từ Mỹ
Đặc điểm: có màu lông hung đỏ, 4 mũi chân và mõm đen. Thân hình vững
chắc, tai đứng, 4 chân khoẻ. Trọng lượng 6 tháng tuổi 100 kg, số con sơ sinh
bình quân 7-9 con / lứa
5. Một số công thức lai thương phẩm hiện nay
Để con lợn thịt mau lớn, giảm thời gian nuôi người ta áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật trong lai tạo giống nhằm tạo ra giống lợn nuôi thịt từ 2-4 máu.
5.1. Sử dụng lợn nái địa phương (Móng Cái) để làm nái nền lai với đực ngoại tạo
lợn thịt 2 hoặc 3 máu:
Nái Móng Cái X Đực Yorkshire

Nái F1 X Đực Landrace

Con lai 3/4 máu ngoại nuôi thịt
5.2. Lai luân chuyển giữa các đực giống Yorkshire, Landrace hoặc Duroc với nái
địa phương để nâng cao tỷ lệ nạc ở lợn thịt:
Nái Móng Cái X Đực Yorkshire

Nái F1 X Đực Landrace

Nái F2 X Đực Duroc


Nái
chửa
Nái nuôi
con
15-50
kg
50-100
kg
Bột bắp 50 25 55 54 45 51
Cám gạo 20 45 28.5 26.5 35.5 35.5
Bột đậu nành 8 10.5 5 8 10 5
Bánh dầu 12 9 4 4 0 0
Bột cá 8 9 6 6 8 7
Premix - khoáng 1 1 1 1 1 1
Premix - Vitamin 1 0.5 0.5 0.5 0.5 0.5
Cộng 100 100 100 100 100 100
IV. Chuồng trại nuôi lợn
Hiện nay, trong chăn nuôi đang tồn tại nhiều loại hình chuồng trại khác
nhau từ đơn giản đến hiện đại, tuỳ theo mục đích và điều kiện cụ thể mà người
chăn nuôi chọn một kiểu chuồng trại thích hợp .
1. Giới thiệu một số kiểu chuồng lợn theo hướng công nghiệp
Đây là kiểu chuồng mang tính chất công nghiệp phù hợp với sinh lý của
lợn và đảm bảo môi trường không bị ô nhiễm, cho ăn, uống nước, dọn phân, rửa
chuồng dễ dàng, tiết kiệm lao động. 31
Mô hình mặt cắt ngang chuồng 2 mái (2 dãy)
mạ kẽm không gỉ. Tốt nhất là dùng máng tự động.
3. Vòi uống: Vòi tự động đặt cách nền chuồng 15 – 20 cm. Việc cung cấp nước
cho heo bằng vòi tự động có nhiều lợi ích: Nước không bị heo làm bẩn, giúp cho
heo uống theo nhu cầu mọi lúc, tiết kiệm được nước
3. Hệ thống làm mát
- Làm mát bằng dầm nước lên da: Ở chuồng lợn nái sinh sản, có thể dùng
hệ thống phun thành giọt để làm mát, bố trí ống dẫn nước lên xà ngang cửa
chuồng tránh làm thức ăn bị ẩm ướt, heo con được khô ráo và làm mát tốt cho
lợn nái. Hướng đầu vòi phun vào chổ cổ và vai lợn nái. Không lắp vòi phun nước
có thể chảy vào chổ lợn sơ sinh, bố trí vòi phun ở chổ có phân.
- Hệ thống làm mát bằng bay hơi:
Nguyên lý vận hành: Không khí quạt hút vào buộc phải đi qua một lớp
đệm ẩm ở đó nhiệt độ không khí làm cho nước bay hơi vào không khí. Thế là
làm cho độ ẩm tương đối tăng lên và nhiệt độ không khí xuống. Hình thức làm
mát này có thể khắc phục tình trạng stress nhiệt trong điều kiện mùa hè oi bức,
ẩm độ thường ở mức thấp.

33
- Hệ thống làm nước phun sương để tạo khí hậu trong chuồng nuôi luôn
được giữ ẩm ở một mức độ nhất định.
V. Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng
1. Nuôi dưỡng lợn nái hậu bị
Thức ăn cho lợn nai hậu bị:
Trong nuôi dưỡng lợn nái hậu bị nếu áp dụng chế độ ăn quá hạn chế sẽ
dẫn tới tình trạng chậm trễ đến tuổi thành thục. Nếu cho ăn tự do thì lợn nái sẽ
quá béo và chi phí thức ăn lớn. Do vậy ta nên cho chế độ ăn giữa hai thái cực
này. Cho lợn nái ăn theo trạng thái cơ thể của chúng ( không quá béo hoặc không
quá gầy). Tăng trọng hàng ngày vào khoảng 600gam.Trọng lượng lợn nái hậu bị
ở lần động dục thứ hai: 105-110 kg là thích hợp. Tăng khẩu phần ăn 1-2kg/ ngày
(3-3,5kg/con/ngày) 10 ngày trước khi động dục để tăng số trứng và tỷ lệ thụ thai.

định một cách chính xác thời điểm phối giống thích hợp, đó là lúc lợn nái động
dục và ở trạng thái mê ỳ. Trong kỹ thuật phối giống bằng phương pháp thụ tinh
nhân tạo cần lưu ý bảo quản tinh dịch đúng kỹ thuật, tránh ánh sáng, sốc, lắc
mạnh, nhiệt độ cao. Khi thực hiện phối giống phải vô trùng dụng cụ, vô trùng tay
người dẫn tinh, vệ sinh phần sau thân thể heo, thao tác nhẹ nhàng, chính xác,
tránh gây xây xát, làm viêm nhiễm đường sinh dục sẽ ảnh hưởng rất xấu đến chất
lượng và thời gian khai thác lợn nái.
2. Nuôi lợn mang thai
Theo dõi lợn nái có chửa: Heo sau khi phối giống 21 ngày, nếu không
động dục trở lại thì lợn đã có chửa .Thời gian mang thai của lợn từ 113-116
ngày, bình quân 114 ngày (3 tháng, 3 tuần, 3 ngày)
Nuôi dưỡng, chăm sóc:
Cho lợn nái vận động 1-2 lần/ ngày, mỗi lần 1-1,5 giờ . Trước khi đẻ
không cho vận động, chỉ cho đi lại tự do. Chú ý giai đoạn đầu của thời kỳ mang
thai rất dể bị sẩy thai nếu ăn phải thức ăn chứa độc tố, chất độc; giai đoạn sau
cần tránh các tác động cơ học như đánh đập, đuổi bắt, làm trượt ngã
Lợn nái mang thai có nhu cầu dinh dưỡng cao và cân đối, cần có sự chăm
sóc đặc biệt. Mục đích là đảm bảo cho lợn sinh trưởng phát triển bình thường,
lợn chịu ăn ngủ, tránh sẩy thai.
Mức ăn hàng ngày của lợn nái chửa phải căn cứ vào thể trạng của từng
con.
Bắt đầu 3 tuần sau khi phối cho ăn tối thiểu 1,8kg thức ăn/ con/ ngày đến
ngày thứ 80.
Sau đó từ ngày 81 -114 cho ăn 2,0-2,2 kg/con/ ngày.
Trong thời gian chửa nên bổ sung thêm rau xanh từ 1-2 kg/con / ngày.
Yêu cầu của việc nuôi dưỡng lợn nái mang thai là không để heo mập quá
hay quá gầy:
+ Lợn nái quá mập sẽ gây khó khăn trong quá trình đẻ, thời gian đẻ kéo
dài, tỷ lệ chết con sơ sinh cao, tỷ lệ mắc bệnh viêm vú, viêm tử cung cao. Sau
khi lợn đẻ sẽ mất tính thèm ăn làm cho sản lượng sữa kém. Ngoài ra lợn nái quá

con ngậm vào vụ mẹ, những con bé cho bú ở vú trước ngực, vì nơi này nhiều sữa
hơn vú phía sau. Chỉ cần tập 1-2 ngày là lợn con tự tìm bú được.
Sau khi đẻ 12-24 giờ không cần cho lợn nái ăn nhưng phải cung cấp nước
uống sạch, mát liên tục .
Lần cho lợn nái ăn đầu tiên sau đẻ khoảng 1-1,5 kg thức ăn dễ nhuận
tràng. Sau đó tăng dần lượng thức ăn (200gam ở mỗi lần cho ăn) đến khi đạt mức
tối đa.
Thức ăn cho lợn nái nuôi con cần được tăng cường nhưng sự thay đổi
không quá đột ngột dễ dẫn đến rối loạn tiêu hoá và tiết sữa.
Lượng thức ăn hàng ngày cho lợn mẹ tuỳ thuộc vào số lợn con để nuôi:
Nếu có dưới 6 lợn con : cho ăn 3,5 - 3,7 kg
Nếu có từ 6-8 lợn con : cho ăn 4 - 4,2kg

36
Nếu có từ 9-10 lợn con : cho ăn 4,5 - 4,7kg
Nếu có trên 10 lợn con : cho ăn 5-5,2kg
Lợn nái nuôi con phải được vận động tại chỗ hoặc ở sân chơi tối thiểu 2
lần/ ngày. Nếu lợn chê ăn hoặc ăn ít thì phải bổ sung thêm mỡ hoặc dầu thực vật
vào thức ăn, bổ sung thêm thức ăn xanh cho lợn nái.
4. Nuôi lợn con theo mẹ
4.1. nuôi lợn con mới đẻ
Sau khi sinh ra, lợn con phải chống đỡ với nhiệt độ bên ngoài, nhất là thời
tiết lạnh, lúc ở trong bụng mẹ nhiệt độ ổn định 37-38
0
C . Dó đó, khi trời lạnh cần
sưởi ấm cho lợn con bằng đèn điện và chống gió lùa.
Trường hợp lợn mẹ đẻ quá nhiều con thì nên giữ đủ số bầu vú của lợn mẹ
(10-12 con). Các con khác có thể chuyển cho lợn nái khác (có cùng ngày sinh là
tốt nhất) nuôi nhờ, nhưng phải chuyển ngay sau 1-2 ngày.
Số lần bú của lợn con trong ngày rất nhiều (khoảng 20 lần). Do đó cần cho

(gam)

Ngày
tuổi
Cám gạo Bột gạo Bột sữa Bột đậu
tuơng
Bột
xương
Muối Rau
xanh
20 - 50 20 10 - -
20-30 - 100 30 20 1 0,5
30-45 - 150 40 30 2 1,0
Sau 45 50 150 50 30 3 2,0

Cho
ăn
tự
do
4.3. Cai sữa sớm cho lợn con
Cai sữa sớm cho lợn con là một biện pháp kỹ thuật đề làm tăng năng suất
của lợn nái. Cụ thể cai sữa sớm sẽ giảm tỷ lệ hao mòn cơ thể nái, sớm động dục
trở lại, đồng thời giảm chi phí thức ăn, chuồng trại và công chăm sóc nuôi
dưỡng, hạ giá thành sản phẩm.
Hiện nay, áp dụng kỹ thuật cai sữa sớm cho lợn con vào lúc 21 – 28 ngày
tuổi.
Nguyên tắc cai sữa sớm cho lợn con là phải tập dần trong vòng 5- 7 ngày,
không tiến hành đột ngột sẽ làm lợn con bị rối loạn tiêu hóa, lợn mẹ bị viêm vú
hay sốt sữa. Ngoài ra tại thời điểm cai sữa chỉ tách lợn mẹ sang chuồng khác chứ
không tách lợn con.

mịn và bóng, đuôi quăn lên.
- Lợn bị bệnh có dáng điệu buồn bã, nằm im hoặc chui dưới rơm lót, hoặc
đi lại xiêu vẹo. Cơ thể bị sốt cao đến 40-42
0
C, lợn không muốn cử động. Mũi
heo khô, nóng, bầm đen. Mắt nhắm hoặc chỉ hé mở, khó chịu khi ánh sáng chiếu
vào. Lông xù, táo bón hoặc tiêu chảy, nước tiểu có mùi tanh. Lợn bị bệnh tiểu ít,
nước tiểu đỏ hoặc màu cà phê nhạt. Nhịp thở và mạch đập nhanh hơn bình
thường. Lợn sụt cân, ho, khó thở, da nổi đỏ
- Khi lợn bị bệnh người chăn nuôi phải chăm sóc chu đáo. Nhốt riêng lợn
bệnh tránh làm lây lan sang lợn khác.
- Chuồng thoáng mát, ấm áp, yên tĩnh, tránh mưa tạt gió lùa, cho ăn thức
ăn dễ tiêu hoá, có nước sạch để uống.
1. Vệ sinh chuồng trại:
Lợn được nhốt tại chuồng 100% thời gian vì vậy chuồng nuôi có ảnh
hưởng rất lớn đối với chăn nuôi lợn.
Chuồng trại phải hợp lý, phù hợp với từng loại lợn để xây dựng.
Ví dụ:
- Đối với lợn nái đẻ và lợn con: Phải sống trong chuồng ấm áp, khô ráo,
ánh sáng thích hợp và yên tĩnh.
- Đối với lợn nuôi thịt: Yên tĩnh và có ánh sáng dịu.
Chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh, phòng bệnh, phòng dịch.

39
* Những yêu cầu chính trong xây dựng chuồng trại là:
- Chống nóng, chống được lạnh của gió mùa Đông Bắc, chống mưa, dông
bão hắt vào chuồng.
- Thoáng gió, tránh gió lùa.
- Vệ sinh, sạch sẽ. Chỗ nằm phải khô ráo, bằng phẳng, không trơn, chắc
chắn, tiện quét rửa và tiêu độc khi cần thiết.

- Hàng năm thực hiện tiêm phòng chống những bệnh truyền nhiễm chính
của lợn như: Dịch tả, tụ huyết trùng, LMLM, phó thương hàn…
- Không mua lợn ở những vùng có dịch, mua lợn mới về phải cách ly một
thời gian khi đảm bảo không có bệnh mới được đưa vào chuồng nuôi. Khi mua
lợn giống nên chọn những lợn khoẻ mạnh. Không nên nuôi lợn ở các lứa tuổi
khác nhau cùng một ô chuồng.
- Khi phát hiện có dịch cần phải thực hiện các bước sau:
+ Cách ly con vật ốm;
+ Tiêu độc chuồng trại;
+ Không bán chạy heo ốm;
+ Nếu heo bị mắc các bệnh như Dịch tả, LMLM, tai xanh phải báo cho
chính quyền địa phương theo quy định. Tuyệt đối không dấu dịch.
- Tắm chải hàng ngày cho lợn nhất là đực giống, lợn nái, dùng thuốc
phòng ghẻ, giun sán cho lợn.
- Đối với người chăn nuôi:
+ Không nên đến các gia đình có gia súc bị ốm (hạn chế thăm viếng).
+ Khi trong nhà có gia súc ốm không nên đến các nhà khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status