Hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt thương phẩm ở thị xã hương thủy, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 10

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một ngành sản xuất đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát
triển của xã hội loài người. Sản xuất nông nghiệp cung cấp những sản phẩm thiết
yếu cho đời sống con người như: lương thực, thực phẩm và các sản phẩm khác có
nguồn gốc nguyên liệu từ lâm sản, thủy sản, đảm bảo cho sự phát triển xã hội, cung
cấp nguồn nguyên liệu chính cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, góp phần
tăng kim ngạch xuất khẩu đem lại nguồn thu ngoại tệ cao, đảm bảo phát triển bền
vững cho đất nước. Ở nước ta, dân số sống bằng nghề nông chiếm 70% dân số cả
nước, 57% lực lượng lao động xã hội làm việc trong ngành nông nghiệp, sản xuất
nông nghiệp trong nhiều năm, đặc biệt là trong những năm gần đây đã đóng góp
một phần rất lớn trong tổng sản phẩm xã hội và tổng thu nhập quốc dân.
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta giai đoạn 2000 - 2010 và
đến năm 2020, ngành nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá tập
trung, trong đó chăn nuôi là một trong những lĩnh vực được khuyến khích phát
triển. Cơ cấu ngành chăn nuôi có xu hướng ngày càng tăng cả về tỷ trọng lẫn số
lượng vật nuôi. Vai trò quan trọng của ngành chăn nuôi thể hiện rõ trong việc cung
cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu của con người góp phần tạo việc làm tăng thu
nhập, khai thác các nguồn lực ở khu vực nông thôn.
Tuy nhiên, hiện nay chăn nuôi còn chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu sản xuất nông
nghiệp. Nhưng trong những năm gần đây giá trị sản xuất ngành chăn nuôi có xu
hướng gia tăng từ chỗ đạt 26,1 nghìn tỷ đồng năm 2005 lên 36,5 nghìn tỷ đồng
năm 2010. Trong các loại vật nuôi truyền thống, gà là được xem là con vật dễ nuôi,
được nuôi để lấy trứng và thịt, có giá trị dinh dưỡng cao, được người tiêu dùng ưa
chuộng. Trong khi đó, chi phí chăn nuôi không lớn lắm, kỹ thuật chăn nuôi ít phức
tạp phù hợp với hình thức chăn nuôi ở quy mô nhỏ, nhất là đối với các nông hộ,
các gia trại hiện nay. Sau ngành chăn nuôi lợn, ngành chăn nuôi gà chiếm vị trí thứ
hai (gần 19%) trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi. Chính vì lẽ đó có
thể nói chăn nuôi gà là ngành kinh tế không thể thiếu trong nền sản xuất nông
nghiệp của Việt Nam.
Thừa Thiên Huế là một tỉnh có lợi thế về phát triển du lịch, dịch vụ. Bên cạnh đó,

- Phương pháp thu thập số liệu
+ Số liệu thứ cấp gồm:
Các số liệu được cung cấp từ 5 xã, phường (phường Thủy Dương, phường Thủy
Phương, phường Phú Bài, xã Thủy Phù, xã Thủy Lương) và phòng kinh tế thị xã
Hương Thủy, phòng thống kê thị xã Hương Thủy, UBND thị xã Hương Thủy.
Ngoài ra đề tài còn thu thập và sử dụng số liệu trên Internet, thông tin đại chúng,
kết hợp tìm đọc và tham khảo một số tài liệu liên quan khác.
+ Số liệu sơ cấp:
Điều tra phỏng vấn trực tiếp 50 hộ gia đình, trang trại, gia trại chăn nuôi gà thịt
thương phẩm theo hai phương thức chăn nuôi khác nhau đó là hình thức nuôi gà
thịt công nghiệp, nhốt hoàn toàn và hình thức nuôi gà thịt bán công nghiệp, thả
vườn. Trong đó tiến hành điều tra tại địa bàn phường Thủy Dương 18 hộ; Thủy
Phương: 7 hộ; Thủy Phù: 14 hộ; Phú Bài: 5 hộ; Thủy Lương: 6 hộ.
Tại Thủy Dương và Thủy Phương là hai địa bàn tập trung nuôi gà thịt theo hình
thức công nghiệp, nuôi nhốt hoàn toàn. Tiến hành chọn 25 mẫu đại diện cho các hộ
chăn nuôi gà thịt thương phẩm trên tổng số 35 hộ
Tại Thủy Lương, Phú Bài và xã Thủy Phù là các địa bàn tiêu biểu trong việc nuôi
gà thịt thương phẩm bán công nghiệp, thả vườn.Chọn 25 mẫu trên tổng số 40 mẫu
- Phương pháp thống kê
Đây là phương pháp hệ thống hóa và phân tích, từ đó tìm ra mối liên hệ giữa các
yếu tố của quá trình sản xuất.
- Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã trao đổi, tham khảo ý kiến của các chuyên
gia, các cán bộ chuyên môn, người nuôi gà thịt ở địa phương nhằm bổ sung, hoàn
thiện nôi dung nghiên cứu và kiểm chứng kết quả nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp so sánh
Xác định mức độ biến động của các xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu
phân tích. Kết quả và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất được tính toán, thống
kê qua các chỉ tiêu: GO, MI, NB…Khi đánh giá mức độ đạt được về mặt kết quả
và hiệu quả cần so sánh các chỉ tiêu đó qua thời gian, qua không gian và giữa các

i

(i = 1;n)
và Y nhận giá trị không âm, tức X
i

(i = 1;n)
và Y .
Mặc dù tôi đã cố gắng để hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất. Tuy nhiên do
giới hạn về thời gian tiếp cận đề tài cũng như trình độ chuyên môn, kinh nghiệm
thực tế chưa nhiều, năng lực của bản thân còn hạn chế nên không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo,
bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt của các hộ
gia đình và một số trang trại, gia trại trên địa bàn thị xã Hương Thủy, những vấn đề
về sản xuất cũng như các yếu tố tác động đến kết quả và hiệu quả nuôi gà thịt của
các hộ năm 2011.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: nghiên cứu trên địa bàn thị xã Hương Thủy, tập trung chủ
yếu vào 4 phường: Thủy Dương, Thủy Phương, Phú Bài, Thủy Lương và xã Thủy
Phù, nơi có số lượng nuôi chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số lượng nuôi toàn thị xã.
- Phạm vi thời gian: nghiên cứu thực trạng nuôi gà thịt ở địa phương qua các năm
2009-2011, trong đó tập trung vào năm 2011, nhằm đưa ra định hướng và giải pháp
cho những năm tới.
PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương I. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1. Cơ sở lý luận đánh giá hiệu quả chăn nuôi gà
1.1.1. Tổng quan về các vấn đề chăn nuôi gà thịt

vùng thôn quê Việt Nam. Đặc điểm của phương thức chăn nuôi này là đầu tư vốn
ban đầu ít, đàn gà được thả rông, tự tìm kiếm thức ăn là chính và cũng tự ấp và
nuôi con; chuồng trại đơn giản, vườn thả không có hàng rào bao che; thời gian
nuôi kéo dài (đối với gà thịt thường nuôi tới 6-7 tháng mới đạt khối lượng để giết
thịt). Do chăn thả tự do, môi trường chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh dịch tễ khiến
đàn gà dễ mắc bệnh, dễ chết nóng, chết rét, tỷ lệ nuôi sống thấp, hiệu quả kinh tế
không cao. Tuy vậy, phương thức chăn nuôi này có những ưu điểm nhất định như
phừ hợp với các giống gà địa phương, chất lượng thịt gà thơm ngon, vốn đầu tư
không đòi hỏi lớn (chủ yếu là tiền mua giống ban đầu). Chính vì thế mà đối với các
nông hộ nghèo phương thức chăn nuôi này dễ áp dụng và hộ nào cũng có thể nuôi
vài ba. chục con gà. Mặc dù chưa đạt năng suất cao và hiệu quả kinh tế thu được
chưa lớn, song hầu hết số hộ lao động nông nghiệp thường áp dụng phương thức
chăn nuôi này bởi vậy hàng năm đã sản xuất ra khoảng 65 % số lượng đầu con gà
thịt ở Việt Nam. Theo số lượng thống kê năm 1999, có khoảng 70 triệu con gà
được sản xuất theo phương thức này.
- Chăn nuôi bán công nghiệp
Đây là phương thức chăn nuôi có sự kết hợp khá nhuần nhuyễn những kinh nghiệm
nuôi gà truyền thống và kỹ thuật nuôi dưỡng tiên tiến. Điều đó có nghĩa là chế độ
dinh dưỡng và quá trình phòng bệnh cho đàn gà đã được coi trọng hơn. Mục tiêu
của chăn nuôi mang đậm tính sản xuất hàng hóa, chứ không thuần túy là sản xuất
tự cung tự cấp. Gà được nuôi theo từng lứa, mỗi lứa 200, 500 đến 1000 con. Để áp
dụng phương thức chăn nuôi này, ngoài yêu cầu phải có vườn rộng (tối thiểu 100-
200m2, tùy thuộc quy mô đàn gà) được bao bọc bởi hàng rào tre, nứa hoặc lưới
mắt cáo để thả gà lúc thời tiết đẹp thì cần phải đầu tư xây dựng và mua sắm chuồng
trại, các dụng cụ máng ăn, máng uống và hệ thống sưởi ấm cho đàn gà úm. Ngoài
lượng thức ăn có sẵn trong tự nhiên như giun, dế, sâu bọ, rau, cỏ mà đàn gà tự
kiếm ăn được, thì lượng thức ăn do người chăn nuôi cung cấp là rất quan trọng. Có
như vậy mới rút ngắn được thời gian nuôi mỗi lứa và tăng năng suất của đàn gà.
Hiện nay, tại một số vùng quê ven sông, ven bãi, ven cánh đồng sau mỗi vụ thu
hoạch, sáng sớm người nông dân chở gà đến thả vào các địa điểm đó, tối lại chở gà

+ Đặc điểm ngoại hình: Gà có hình dáng bên ngoài giống với gà Ri, bộ lông có
màu vàng, dày, bóng, mượt. Mào và phần đầu màu đỏ. Da màu vàng, chất thịt min,
vị đậm. Gầ trống có màu vàng hoặc tía sẫm, mào đơn, hông rộng, lưng phẳng, lông
đuôi dựng đứng, đầu và cổ gọn, chân thấp và nhỏ.
+ Chỉ tiêu kinh tế: Gà xuất chuồng lúc 70 ngày tuổi cân nặng 1,5 – 1,6 kg. Tiêu tốn
thức ăn cho 1 kg tăng trọng là 2,4 – 2,6 kg. Giống gà này rất phù hợp với điều kiện
chăn thả tự do.
- Gà Sasso
+ Nguồn gốc: Là giống gà nặng cân của Pháp, có thể nuôi thả vườn.
+ Đặc điểm ngoại hình: Gà có lông màu nâu đỏ, da chân vàng.
+ Chỉ tiêu kinh tế: Nếu nuôi theo phương pháp nữa nhốt nữa thả 90 – 100 ngày có
thể đạt trọng lượng 2,1 – 2,3 kg. Tiêu tốn thức ăn 3,1 – 3,5 kg thức ăn cho 1 kg
tăng trọng.
- Gà Ri
+ Nguồn gốc: phổ biến nhất ở miền Bắc, miền Trung (ở miền Nam ít hơn).
+ Đặc điểm ngoại hình: Gà mái có màu lông màu vàng và nâu, có các điểm đốm
đen ở cổ, đầu cánh và chót đuôi. Gà trống có lông màu vàng tía, sặc sỡ, đuôi có
lông màu vàng đen dần ở phía cuối đuôi.
+ Chỉ tiêu kinh tế: Trọng lượng gà mái: 1,2 – 1,8 kg; gà trống: 1,5 – 2,1 kg. Thời
gian đạt trọng lượng thịt khoảng 4 - 5 tháng. Sản lượng trứng bình thường (80 –
100 trứng/ năm). Gà chỉ đẻ 10 – 15 trứng là lại ấp, thời gian ấp gần 1 tháng. Sức
kháng bệnh tốt, dễ nuôi, cần cù, chăm con tốt. Thịt thơm ngon, dai, xương cứng,
phẩm chất trứng cao. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng 2,5 – 3,5 kg.
- Gà Tam Hoàng
+ Nguồn gốc: Xuất xứ từ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.
+ Đặc điểm ngoại hình: Gà có đặc điểm lông, da, chân màu vàng. Cơ thể hình tam
giác, thân ngắn, lưng phẳng, ngực nở, thịt ức nhiều, hai đùi phát triển.
+Chỉ tiêu kinh tế: Gà nuôi đến 70 – 80 ngày tuổi đã có thể đạt trọng lượng 1,5 –
1,75 kg. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng là 2,5 – 3 kg. Gà mái bắt đầu đẻ vào
khoảng 125 ngày tuổi. Sản lượng trứng đạt 135 quả/ năm. Trọng lượng trưởng

Nước uống phải có sãn trước khi? đưa gà con vào lồng úm. Nên cho vào 1 lít nước
uống 50g đường + 1g vitamin C để cho uống 12 giờ đầu tiên.
Máng ăn: Gà dưới 1 tuần: Dùng khay cho ăn
Gà trên 1 tuần: Dùng máng dài 2m/con, tăng dần lên 5cm/con.
Máng uống:
1 bình tròn (1 lít) cho 50 con dưới 2 tuần
1 bình (3 lít) cho 25 con trên 2 tuần hoặc 2 cm - 4 cm/con nếu máng uống dài.
Nước uống: Phải trong, sạch không chứa chất độc hay vi khuẩn, nước có nhiệt
độ18
o
C – 26
o
C , luôn phải cấp đủ nước cho gà. Mỗi ngày phải thay nước tối thiểu 2
lần.
Thức ăn: Khi bắt gà con về nên cho gà uống nước, sau đó vài giờ mới nên cho gà
ăn. Nên cho gà ăn nhiều để kích thích gà ăn nhiều và ăn hết số lượng trong ngày để
bảo đảm đủ nhu cầu cho gà phát triển tốt.
*Lịch tiêm phòng
Tuổi Văcxin và thuốc phòng bệnh Cách sử dụng
1-4 ngày đầu Thuốc bổ như vitamin B
1
, B-Complex Cho gà uống
5 ngày tuổi Văcxin Gumboro để phòng bệnh
Gumboro (lần 1)
Nhỏ vào mắt, mũi
7 ngày tuổi Văcxin Lasota lần 1
Văcxin Đậu gà
Nhỏ vào mắt, mũi
Chủng vò màng cánh
10 ngày tuổi Văcxin Cúm gia cầm lần 1 Tiêm dưới da cổ

Theo TS Nguyễn Tiến Mạnh cho rằng: "Hiệu quả kinh tế là phạm trù khách quan
phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, tiền vốn) để
đạt được các mục tiêu đã được xác định. Theo quan điểm này thì hoàn toàn có thể
tính toán được hiệu quả kinh tế mà sự vận động và biến đổi không ngừng của các
hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau của
chúng
Theo Farell (1957), Fchultz (1966), Rizzo (1979) và Ellí (1993) cho rằng: "Hiệu
quả kinh tế đựơc xác định bởi việc so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra
để đạt được kết quả"
Như vậy có thể nói “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế
là một phạm trù kinh tế khách quan phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân
lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định”. Từ khái niệm khái
quát này, có thể hình thành công thức biểu diễn khái quát phạm trù hiệu quả kinh tế
như sau:
H = Q/C (1)
Với H là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình kinh tế) nào đó; Q là kết
quả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó và C là chi phí toàn bộ để đạt
được kết quả đó. Và như thế cũng có thể khái niệm ngắn gọn: Hiệu quả kinh tế
phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt
được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, chúng ta có thể hiểu hiệu quả kinh tế
của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử
dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn)
nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định.
b. Bản chất
Bản chất của hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh tương đối và tuyệt đối
giữa lượng kết quả thu được và lượng chi phí bỏ ra. Để đạt được cùng một khối
lượng sản phẩm người ta có thể bằng nhiều cách khác nhau song do sự mâu thuẫn
giữa nhu cầu tăng lên của con người với sự hữu hạn của nguồn tài nguyên, nên khi
đánh giá kết quả của một quá trình sản xuất kinh doanh cần phải xem xét kết quả
đó được tạo ra như thế nào và mất bao nhiêu chi phí. Việc đánh giá kết quả của

hội”.
- Lợi nhuận kinh tế ròng (NB): Là phần còn lại của tổng giá trị sản xuất (GO) sau
khi trừ đi chi phí sản xuất (C); các khoản vật tư tự sản xuất; lao động gia đình
(TC). Hay lợi nhuận kinh tế ròng là phần còn lại của thu nhập hỗn hợp (MI) sau
khi các khoản vật tư tự sản xuất; và lao động gia đình (TC).
NB = GO – C – TC
NB = MI – TC
Ngoài chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp (MI) và lợi nhuận kinh tế (NB) chung, người ta cỏ
thể xác định thu nhập hỗn hợp và lợi nhuận cho từng loại sản phẩm, hay ngành sản
xuất kinh doanh của hộ.
Để phân tích sâu hơn kết quả và hiệu quả sản xuất, người ta có thể tính mức thu
nhập hỗn hợp hay lợi nhuận kinh tế bính quân trên một đơn vị diện tích, một lao
động hay một đồng vốn…
H
b
= (3) h
b
= (4)
Trong đó
H
b
, h
b
: hiệu quả kinh tế cận biên
Q: lượng kết quả tăng thêm
C: Lượng chi phí tăng thêm
H
b
: Thể hiện nếu tăng thêm một đơn vị chi phí sẽ tăng thêm bao nhiêu đơn vị kết
quả

Thịt bò 65 65 64 -0,5
Thịt gia cầm 93,6 98,1 101,1 3,1
Thịt lợn
106,3 109,2
110,2
0,9
Thịt dê cừu 12,9 13 13 -0,1
Nguồn: FAO World Food Outlook, 2011
Số liệu bảng trên cho thấy: Sản lượng thịt gia cầm tăng nhanh hơn sản phẩm thịt bò và
thịt lợn. Năm 2009, sản lượng thịt gia cầm thế giới đạt 93,6 triệu tấn, thịt lợn là 106,3
triệu tấn, thịt bò 65 triệu tấn, thịt dê cừu là 12,9 triệu, nhưng đến năm 2011, sản lượng
của các loại thịt này tăng lên tương ứng thịt gia cầm đạt 101,1 tấn, thịt bò đạt 64 triệu tấn,
thịt lợn đạt 110,2 triệu tấn, thịt dê cừu đạt 13 triệu tấn. Sản lượng thịt gia cầm năm 2011
so với năm 2010 tăng 3,1%, trong khi đó thịt bò chỉ giảm 0,5%, sản lượng thịt lợn tăng
0,9% và sản lượng thịt dê cừu giảm 0,1%. Qua đó cho thấy sản phẩm thịt gia cầm ngày
càng được sản xuất nhiều hơn nhằm đáp ứng nhu cầu cao của người tiêu dùng.
Trong các thịt gia cầm thì thịt gà chiếm 86% tổng lượng thịt gia cầm, phần còn lại là các
loại thịt gia cầm như thịt vịt, thịt ngan, thịt ngỗng.
Tổng sản lượng thịt sản xuất năm 2009 của thế giới trên 281 triệu tấn, trong đó thịt trâu
chiếm 3,3 triệu tấn, thịt bò 61,8 triệu, thịt dê 4,9 triệu tấn, thịt cừu 8,1 triệu tấn, thịt lợn
106 triệu tấn, thịt gà 79,5 triệu tấn, thịt vịt 3,8 triệu tấn và còn lại là các loại thịt khác như
thỏ, ngựa, lạc đà, lừa
1.2.2. Tình hình chăn nuôi và tiêu thụ các sản phẩm gà ở Việt Nam
a. Tình hình chăn nuôi gà ở Việt Nam
Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuất truyền
thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của
ngành chăn nuôi nước ta. Chăn nuôi gà chiếm 72-73% trong tổng đàn gia cầm
hàng năm. Chăn nuôi gà phát triển mạnh nhất là các vùng Đồng bằng sông Hồng,
Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Bắc chiếm 60% đàn gà của cả nước. Các vùng
phát triển tiếp theo là Đông Nam bộ và Bắc Trung bộ, chiếm 26%, các vùng có sản

Trước dịch cúm gia cầm trên 95% sản phẩm bán là tươi sống và hòan toàn tiêu thụ
trong nước. Gà sống và sản phẩm được bán khắp nơi, trong các chợ nông thôn, chợ
phiên, chợ nông sản và các chợ thành thị. Sản phẩm không chế biến, không bao
gói, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Trong thời gian dịch cúm gia cầm
xẩy ra, do tâm lý e ngại lây truyền bệnh dịch, do không có công nghiệp chế biến,
giết mổ, sản phẩm không được chế biến bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm nên
người dân không sử dụng sản phẩm gia cầm. Trong thời gian từ tháng 9-12/2006,
thị trường gần như hoàn toàn đóng băng, sản phẩm thịt, trứng ứ đọng, gây tổn thất
nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi và gây thiệt hại cho cả người tiêu dùng. Điều đó
cho thấy, khi công nghiệp chế biến, giết mổ chưa phát triển thì cả chăn nuôi và thị
trường đều không bền vững. Hiện nay do một số tỉnh, thành phố đã tăng cường
quản lý và có chính sách hỗ trợ, khuyến khích ổn định thị trường. Một số doanh
nghiệp đã đầu tư xây dựng các cơ sở giết mổ, chế biến tập trung, cung cấp cho thị
trường một lượng sản phẩm bảo đảm vệ sinh nhất định, bước đầu tạo niềm tin và
thói quen sử dụng sản phẩm qua chế biến, giết mổ cho người tiêu dùng. Tuy
nhiên, trong thời gian gần đây, sau khi dịch cúm gia cầm tạm lắng, việc quản lý
buôn bán sản phẩm nhiều nơi bị buông lỏng, xu hướng vận chuyển, buôn bán, sử
dụng gia cầm sống, nhất là tại các vùng nông thôn đang có chiều hướng phát triển
trở lại cũng là nguyên nhân làm các nhà đầu tư e ngại trong việc xây dựng các cơ
sở giết mổ chế biến tập trung công nghiệp.
Chương II. Hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt ở thị xã Hương Thủy
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của thị xã Hương Thủy
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý và địa hình
Thị xã Hương Thủy nằm ở phía nam tỉnh Thừa Thiên Huế, liền kề với thành phố
Huế, trung tâm thị xã cách thành phố Huế 10km. Lãnh thổ thị xã trãi dài từ
1608’
đến
1630 vĩ Bắc và từ 107 30 đến 107 45 kinh Đông.
Phía Đông giáp huyện Phú Lộc

hưởng của khí hậu hai miền, hàng năm được chia làm hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12
- Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8
Chế độ nhiệt
Nhiệt độ quanh năm ở mức cao, trung bình hàng năm từ 25 C đến 27 C, nhiệt độ
cao nhất (tháng 7) khoảng 29,6 C có khi lên tới 40 C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng
1 trung bình 19,9 C, có khi xuống 8,8 C.
Bức xạ tương đối cao, điều kiện dồi dào về nhiệt độ và nắng là tiền đề cho sựu phát
triển của nông nghiệp trên cơ sở thâm canh, tăng vụ.
Chế độ ẩm
Độ ẩm không khí bình quân 85-90%, tháng cao nhất (tháng 12) là 90% và tháng
thấp nhất là 72% (tháng 7).
Lượng bốc hơi bình quân hàng năm khá lớn, khoẳng 1000-1100mm/năm. Những
tháng mùa dông lượng bốc hơi nhỏ, mùa hè bay hơi lớn hơn, chiếm 70-75% lượng
bay hơi cả năm.
Chế độ mưa
Mùa mưa kéo dài từ tháng 10 đến tháng 2 của năm kế tiếp, chiếm trên 60%lượng
mưa cả năm, thường gây ra lũ lụt. Lượng mưa trung bình đạt 2.844 mm/ năm (thấp
nhất là 1820mm, cao nhất là 4.319 mm). Mưa thường kéo theo mưa lạnh và gió
mùa Đông Bắc. Số ngày mưa trong năm khoảng 200 ngày.
Chế độ gió
Thường có hai hướng gió chính đó là gió mùa Đông Bắc xuất hiện vào mùa mưa,
gây lạnh kéo dài, giá rét và gió mùa Tây Nam xuất hiện vào mùa khô kèm theo khí
nóng. Ngoài ra, trong năm còn xuất hiện hướng gió phụ là gió Đông Nam mang
theo hơi nước thổi từ biển vào
2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
2.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế
Nền kinh tế của thị xã đã có bước tăng trưởng khá cao, trong đó khu vực dịch vụ
tăng trưởng khá mạnh; CN - xây dựng luôn được duy trì ở tốc độ tăng trưởng cao;
khu vực nông nghiệp cũng tăng hơn so với thời kỳ trước. Giá trị tổng sản phẩm

từ quỹ đất. Trong 5 năm, đã huy động được hơn 100 tỉ đồng từ nguồn thu tiền sử
dụng đất để đầu tư xây dựng các công trình trên địa bàn.
Quản lý chi ngân sách ngày càng đi vào nề nếp, thực hiện tốt các quy định hiện
hành của Luật Ngân sách Nhà nước và nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn ngân
sách.
2.1.2.2. Đặc điểm dân số và lao động
Lao động đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu được trong mọi hoạt động sản
xuất. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay chúng ta đang thực hiện CN hóa, hiện đại
hóa, cộng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật thì đòi hỏi có đội ngũ
lao động có chất lượng để ứng dụng vào trong quá trình sản xuất nhằm tăng năng
suất, sản lượng. Vì vậy, việc nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, phát
triển các ngành nghề trong khu vực nông thôn để tạo thêm việc làm cho người dân
là điều rất cần thiết.
Qua bảng 3 ta thấy, năm 2011, toàn thị xã có 22.049 hộ với 97.014 người, trong đó
nam giới chiếm 49,8% với 48.311 người, nữ giới chiếm 50.2% với 47.703 người.
Mật độ dân số BQ 212 người/km
2
, tuy nhiên có sự phân bố không đều.
Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên của thị xã là 1,1% cho thấy tỉ lệ gia tăng dân số qua
các năm đang có xu hướng giảm xuống nhưng hàng năm vẫn bổ sung 700 người,
đó là chưa kể lượng người di cư từ nơi khác đến. Đây là một lợi thế của thị xã về
tiềm năng lao động. Tuy nhiên, cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như việc
làm, nhà ở, tệ nạn xã hội, môi trường.
Về lao động, trên địa bàn toàn thị xã có 46.896 người tham gia vào quá trình lao
động, trong đó lao động trong nông nghiệp là 18.430 người chiếm 39,3% tổng lao
động, lao động phi nông nghiệp là 28.356 người chiếm 60,7%. Điều này cho thấy
thị xã Hương Thủy vẫn là một địa phương khá thuần nông. Tuy nhiên, trong vài
năm trở lại đây thì cơ cấu lao động của thị xã đang có xu hướng chuyển dịch theo
hướng giảm dần tỉ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp từ 58,46% năm 2005
xuống còn 39,3 % năm 2011, đồng thời tăng tỉ lệ lao động trong khu vực phi nông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status