Dạy học phần văn học nước ngoài lớp 11 theo quan điểm sư phạm tương tác - Pdf 10

Dạy học phần Văn học nước ngoài lớp 11 theo
quan điểm sư phạm tương tác Nguyễn Thị Luân Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (Bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thúy Hồng
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tăng cường hứng thú học tập phần văn
học nước ngoài cho học sinh (HS) lớp 11 theo quan điểm sư phạm tương tác: cơ sở
tâm lí học (tâm lí của học sinh lớp 11 và vấn đề tiếp nhận tác phẩm Văn học nước
ngoài), giáo dục học (quan điểm sư phạm tương tác), lí thuyết tiếp nhận văn học.
Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng hứng thú học tập phần văn học nước ngoài cho học
sinh lớp 11 trong nhà trường hiện nay : Nội dung và yêu cầu của phần Văn học nước
ngoài trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông (THPT) và lớp 11; Thực
trạng dạy học và hứng thú học tập của HS. Đề xuất một số phương pháp, cách thức
dạy học phần văn học nước ngoài cho HS lớp 11 theo quan điểm sư phạm tương tác
nhằm nâng cao hứng thú, tăng hiệu quả dạy học. Tiến hành thực nghiệm sư phạm
nhằm đánh giá tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.

Keywords. Ngữ văn; Văn học nước ngoài; Phương pháp giảng dạy; Hứng thú học
tập Content

Mặc dù cũng đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề nghiên cứu trong
luận văn này nhưng hầu như chưa có tác giả nào quan tâm đến việc ứng dụng quan điểm
SPTT vào dạy học văn học nước ngoài, cụ thể là VHNN lớp 11.
3. Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các phương pháp, biện pháp cụ thể nhằm
dạy học hiệu quả phần văn học nước ngoài lớp 11 theo quan điểm sư phạm tương tác.
4. Phạm vi, giới hạn của đề tài
Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác vào thực tiễn dạy học phần văn học nước
ngoài cho HS lớp 11 nhằm tăng cường hứng thú học tập
5. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp, phương pháp dạy học phần văn học nước ngoài cho học sinh
lớp 11 theo quan điểm sư phạm tương tác nhằm tạo hiệu quả dạy học.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tăng cường hứng thú học tập phần văn học nước
ngoài cho học sinh lớp 11 theo quan điểm sư phạm tương tác
- Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng hứng thú học tập phần văn học nước ngoài cho học
sinh lớp 11 trong nhà trường hiện nay : Nội dung và yêu cầu của phần VHNN trong chương
trình Ngữ văn THPT và lớp 11; Thực trạng dạy học và hứng thú học tập của HS.
- Đề xuất một số phương pháp, cách thức dạy học phần văn học nước ngoài cho HS
lớp 11 theo quan điểm sư phạm tương tác nhằm nâng cao hứng thú, tăng hiệu quả dạy học.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi của các đề xuất trong
luận văn.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, trong đó có các phương pháp nghiên
cứu chính:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp thu thập và xử lí thông tin
8. Cấu trúc của đề tài


Ngƣời học (học: hứng thú, tham gia, có trách nhiệm)

Ngƣời dạy Môi trƣờng.
(Giúp đỡ: lập kế hoạch, (ảnh hưởng, thích nghi)
hướng dẫn, hợp tác)

1.1.1.4. Các đặc trưng, bản chất của quan điểm sư phạm tương tác
- Đặc trưng thứ nhất: SPTT là một cách tiếp cận cơ bản, năng động, mang tính hệ
thống và khoa học về hoạt động SP.
- Đặc trưng thứ hai: SPTT – tiếp cận khoa học thần kinh về học và dạy là một tiếp cận
lấy người học làm trung tâm.
- Đặc trưng thứ ba: SPTT là một quan điểm tiếp cận dựa trên tương tác giữa người
học, người dạy và môi trường.
1.1.2. Hứng thú và động cơ học tập
1.1.2.1. Hứng thú
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó. Hứng thú làm nảy sinh
khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc.
Hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập,
vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong đời sống cá nhân.
1.1.2.2. Động cơ
Động cơ chính là cái thôi thúc con người hoạt động, khi có động cơ thì HS sẽ mong muốn
học và tích cực học. Động cơ gắn liền với hứng thú, ham thích, có động cơ, HS sẽ hứng thú
học và ngược lại, có hứng thú tức là có động cơ.

*Khoảng cách thẩm mĩ:
Khoảng cách thẩm mĩ là khái niệm xác định mức bất ngờ của tác phẩm đối với độc
giả và xác định giá trị thi học của nó. Mỗi tác phẩm có một tầm chờ đợi riêng, mỗi người học,
nhóm học sinh, sinh viên có một tầm đón nhận riêng, vấn đề là người dạy văn phải biết cách
điều chỉnh khoảng cách này sao cho “phù hợp nhất”.
*Định hƣớng tiếp nhận:
Thực tế tiếp nhận văn học diễn ra rất phong phú, đa dạng. Khả năng đồng sáng tạo ở
các lớp độc giả được giải phóng trong môi trường tự do càng làm cho tác phẩm thể hiện được
giá trị thực sự của nó.
Chú ý đến vấn đề vận dụng lí thuyết tiếp nhận vào dạy học văn học nước ngoài cũng
có nghĩa là người dạy đang tìm cách đổi mới PPDH để lấy HS làm trung tâm của quá trình
lĩnh hội, làm mọi cách để HS có thể lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ, sâu sắc nhất để hình
thành những kĩ năng cần thiết cho mỗi người học.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Nội dung và yêu cầu của phần văn học nước ngoài trong chương trình Ngữ văn
THPT
Từ bảng thống kê về các bài học văn học nước ngoài cùng với mục đích, yêu cầu của
mảng văn học này, có thể khẳng định rằng mảng văn học nước ngoài ở trường phổ thông có
một tầm quan trọng đặc biệt, tầm quan trọng đó được thể hiện ngay ở mục tiêu, yêu cầu của
phần VHNN trong chương trình THPT. Quá trình dạy học VHNN đã cố gắng để đạt được
những mục tiêu, yêu cầu đó, tuy nhiên chất lượng dạy học VHNN chưa đạt được như mong
muốn.
1.2.2. Vị trí, vai trò của phần văn học nước ngoài trong nhà trường phổ thông
 Giúp học sinh có hiểu biết về tinh hoa văn học và văn hóa thế giới:
Trong cấu trúc của chương trình có nhiều tác phẩm của các tác giả nổi tiếng tiêu biểu
cho các nền văn học qua các thời kỳ văn học khác nhau. Điều đó đã tạo điều kiện cho học
sinh có thể mở rộng và nâng cao phông văn hóa của mình. Như vậy, văn học nước ngoài có
khả năng trang bị thêm cho HS những kiến thức phong phú đa dạng về các nền văn hóa, văn
học nổi tiếng trên thế giới.
 Giúp học sinh có sự đối sánh với văn học nƣớc nhà:

+ Phần đông HS hiện nay không thích học VHNN (Trong số 100HS được điều tra
ngẫu nhiên thì có tới 64 HS (chiếm tỉ lệ 64%) trả lời là hoàn toàn không thích học văn học
nước ngoài. Trong dố các em còn lại thì cũng rất nhiều em dửng dưng với mảng VH này
(15HS trả lời là mức độ hứng thú bình thường).
+ Phần lớn các em chưa được tạo hứng thú, động cơ học tập từ phương pháp dạy của
GV.
+ Hs còn thụ động, chưa tham gia tích cực vào việc phát biểu xây dựng bài, vì thế
thiếu đi sự tương tác giữa GV và HS trong dạy học và kết quả giờ học chưa đạt được như
mong đợi.
1.2.3.3. Nguyên nhân của thực trạng trên
+ Nguyên nhân khách quan: Bộ phận văn học nước ngoài ít nằm trong chương trình
kiểm tra, đánh giá, thi cử. Chính điều đó khiến cho cả GV- HS đều xem nhẹ phần này. Ngoài
ra, do sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ nên sự tiếp nhận tác phẩm của học sinh cũng chỉ ở
mức độ vừa phải, đặc biệt là đối với các tác phẩm trữ tình.
+ Nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến đó là GV chưa có sự chuẩn bị tốt bài dạy cũng như
tâm thế tiếp nhận cho các em học sinh, chưa nắm bắt đúng tinh thần của tiếp nhận văn
học,đặc biệt là văn học nước ngoài.
Nhiều GV chưa hướng dẫn cho học sinh những công việc cụ thể cho tiết học sau.
Giáo viên cũng không chú ý để hướng dẫn học sinh cách thức tiếp cận một tác phẩm hoặc
một tác phẩm trữ tình là như thế nào? Một nguyên nhân khác cũng không kém phần quan
trọng là GV chưa chú ý nhiều đến việc đổi mới PP khi dạy học tác phẩm VHNN.

CHƢƠNG 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC PHẦN VĂN HỌC NƢỚC NGOÀI LỚP 11
THEO QUAN ĐIỂM SƢ PHẠM TƢƠNG TÁC
2.1 Nguyên tắc đề xuất một số biện pháp
2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy
học tác phẩm VHNN
Lấy nguyên tắc này làm cơ sở đề xuất các biện pháp dạy học văn học nước ngoài lớp 11

2.1.6. Nguyên tắc chuyển quá trình dạy học VHNN sang quá trình tự học tác phẩm VHNN
Nguyên tắc này đòi hỏi dạy học VHNN phải hình thành cho người học có nhu cầu,
năng lực, phẩm chất tự học để có thể chuyển dần quá trình dạy học sang quá trình tự học.
Nghĩa là người học có thể tự mình tìm ra kiến thức cùng với cách khai thác bằng hành động
của chính mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, tự tổ chức hoạt động của mình, tự
kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động học của mình.
2.2. Các giải pháp cụ thể
2.2.1. Về phía người dạy
2.2.1.1. Tạo ra những tình huống có sự tương tác giữa GV và HS
Để có thể vận dụng quan điểm SPTTT vào quá trình dạy học tác phẩm VHNN nhằm
đạt tới hiệu quả cao nhất, một trong những biện pháp đầu tiên người dạy cần chú ý đó là quan
tâm đến việc tạo ra những tình huống học tập thúc đẩy sự tương tác giữa GV – HS và môi
trường dạy học. Có nhiều phương pháp có thể áp dụng để tạo ra những tình huống có tính
tương tác :
+ Đưa ra các vấn đề có nhiều ý kiến trái chiều nhau. GV có thể đưa ra những câu hỏi
mà có thể nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ phía HS, GV khuyến khích HS tranh luận (với
các bạn khác, thậm chí là với GV) để bảo vệ ý kiến của bản thân mình. Khi đó, sự tương tác
sẽ diễn ra và đem lại hiệu quả dạy học.
+ Đưa ra những câu hỏi, tình huống có vấn đề: HS sẽ nỗ lực hết mức để giải quyết
vấn đề, kiên trì tìm cách giải quyết vấn đề trong một thời gian đáng kể, dồn hết sự chú ý và
tập trung vào vấn đề đang được đặt ra, học sinh áp dụng các chiến lược nhằm giải quyết bài
học nên động cơ học tập tăng lên.
+ Tăng dần độ khó của các câu hỏi, bài tập : GV đặt HS vào tình huống đòi hỏi người
học cần phải cố gắng suy nghĩ để tìm ra những đáp án cho câu hỏi, bài tập.
2.2.1.2. Tổ chức các hoạt động dạy học tác phẩm VHNN nhằm tích cực hóa hoạt động của
HS
Đồng thời để tạo ra động cơ, hứng thú học tập VHNN theo hướng tích cực cho HS,
GV phải linh hoạt sử dụng và thay đổi các PPDH để luôn tạo ra sự chú ý, duy trì hứng thú và
động cơ say mê học tập cho học sinh.
Có một số phương pháp cụ thể sau:

Để có động cơ và có sự chủ động trong học tập, người học phải thấy được sự cần
thiết và hữu dụng của tri thức cần lĩnh hội. Điều quan trọng là anh ta phải cảm nhận được sự
cần thiết và tính ưu việt của kiến thức cho hiện tại và tương lai, đặc biệt đối với môn đang
học.
Đối với mảng VHNN, để có được động cơ học tập đúng đắn, HS phải thấy được sự
cần thiết và tính ưu việt của mảng văn học này đối với việc bồi đắp tri thức cũng như góp
phần hình thành nhân cách của chính HS đó. Nói cách khác, HS phải thấy được vai trò, vị trí
của mảng VHNN trong chương trình Ngữ văn THPT, ý thức được rõ điều đó các em sẽ ý
thức được việc chủ động trong học tập. Ngoài ra các em phải được củng cố niềm tin về năng
lực của bản thân khi học mảng văn học này.
2.2.2.2. Người học cần có sự tham gia hợp tác tích cực với người dạy trong quá trình dạy học
tác phẩm văn học nước ngoài
Theo quan điểm SPTT, người học cũng phải thể hiện sự tham gia tích cực và bền
vững trong suốt quá trình học. Anh ta phải tự mình thực hiện trải nghiệm này bằng cách đóng
góp toàn bộ năng lực, các kiến thức đã biết, cũng như các kinh nghiệm đã có của mình.
Vận dụng điều này vào dạy học VHNN lớp 11,để người học có sự tham gia tích cực
và hợp tác với người dạy và môi trường dạy học, người học phải huy động tất cả những kĩ
năng, năng lực của mình vào việc học các tác phẩm trong chương trình. Bên cạnh đó, HS
cũng cần huy động tất cả các kinh nghiệm đã có, đó chính là những kiến thức văn học (cụ thể
là kiến thức về VHNN) đã được học ở THPT và được học ở lớp 10. HS phải xâu chuỗi, hệ
thống hóa kiến thức, lồng ghép những kinh nghiệm đã có để việc học VHNN lớp 11 đạt hiệu
quả cao nhất.
Tất cả những hình thức tổ chức dạy học mà GV dự định trong bài học chỉ thành công
khi có sự hợp tác nhiệt tình, chủ động, tích cực từ phía người học. Một khi thiếu đi sự hợp tác
này, chắc chắn những dự định của GV sẽ rất khó thực hiện, thậm chí sẽ bị “phá sản” và bài
học sẽ thất bại. Đối với mảng VHNN, những tác phẩm đưa vào chương trình đều là những tác
phẩm nổi tiếng của những tác giả lớn trên thế giới (tinh hoa văn học thế giới), vì thế để có thể
truyền đạt đến HS những tinh hoa văn học đó, để HS cảm nhận được hết cái hay cái đẹp, giá
trị văn chương trong những tác phẩm, rõ ràng GV cần sự tham gia hợp tác cao độ từ phía
người học. Vì vậy, có thể coi đây là một biện pháp mang tính nguyên tắc cần thiết trong quá

lớp học khác với mọi ngày bình thường chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của các em HS vào bài
giảng.
2.2.3.2. Tạo môi trường học tập có tính kích thích hứng thú, động cơ học tập tông giờ dạy
học tác phẩm văn học nước ngoài
Việc tạo một môi trường học tập có tính kích thích hứng thú động cơ học tập phải
được tạo lập và duy trì trong suốt quá trình dạy học, duy trì từ khi mở đầu cho đến khi kết
thúc tiết học.
+ Mở đầu bài học bằng những hiệu ứng gây sock: Theo quan điểm SPTT, mở đầu bài
học cần phải tạo ra được không khí học tập hứng khởi ngay từ đầu để từ đó tạo ra và duy trì
được sự sôi nổi hứng thú cho cả giờ học. Vì thế, chú trọng vào mở đầu bài giảng theo những
cách khác nhau sẽ có thể thu hút sự tập trung chú ý của HS đối với bài học. Người dạy có thể
mở đầu bài học theo nhiều cách khác nhau để tạo môi trường tâm lí học tập tích cực ở HS.
+ Dạy học một cách trực quan để tạo hứng thú là một biện pháp được sử dụng rất nhiều đặc biệt
trong dạy học có kết hợp sử dụng công nghệ thông tin: Theo quan điểm SPTT, các tác giả cũng
đề cao việc dạy học tác động vào các giác quan ở người học như thị giác, thính giác, xúc
giác… ở đây, tôi chỉ nhấn mạnh vào việc sử dụng trực quan sinh động để tạo hứng thú, từ đó
hình thành động cơ ở người học. Bên cạnh việc sử dụng các PP, hình thức tổ chức dạy học
kích thích tư duy sáng tạo, từ đó tạo động cơ học tập ở HS thì việc tạo không khí vui vẻ
trong lớp học cũng vô cùng cần thiết: Giáo viên có thể kể chuyện cười, hát cho HS nghe, sử
dụng ngôn ngữ cơ thể: ánh mắt, nụ cười, điệu bộ để tạo không khí cho lớp học.
Cũng theo lí thuyết SPTT, trang trí lớp học cũng tạo ra được không khí thoải phải,
hứng thú. Ví dụ, một cây xanh thiên nhiên đủ để làm cho lớp học sống động trong khi đó
không gây mất chú ý của người học.
2.2.3.3. Tạo môi trường học tập có sự tương tác giữa người dạy và người học trong quá
trình dạy học tác phẩm văn học nước ngoài
 Tạo môi trường vật chất phù hợp cho sự tương tác giữa GV và HS
Theo quan điểm SPTT, để học tập hiệu quả thì môi trường vật chất phải được sắp xếp
với mục đích góp phần tạo ra khung cảnh thuận lợi cho người học cũng như người dạy : đồ
đạc và sự bài trí của chúng, trang trí, trật tự, sự sạch sẽ và vẻ đẹp.
Ví dụ khi dạy thực nghiệm bài “Người trong bao” của Sê-khốp, tôi luôn chú ý đến

hoạch và giáo án thực nghiệm xem chi tiết ở phần phụ lục). Sau khi tiến hành dạy thực
nghiệm, tôi đã phát phiếu điều tra thái độ học tập ở HS. Đồng thời sau giờ dạy tại hai lớp tôi
cũng cho các em làm cùng một bài kiểm tra để xem hiệu quả tiếp thu kiến thức ở hai lớp có
sự khác nhau như thế nào.
Sau khi tiến hành thực nghiệm, tôi thu được kết quả như sau:
3.2. Kết quả thực nghiệm
3.2.1. Về kết quả học tập
Sau khi triển khai dạy hết các nôi dung bài học, tôi tiến hành cho HS làm một phiếu
học tập là một bài kiểm tra nhanh trong 10 phút ( phần phụ lục) để đánh giá kiến thức đã thu
được của người học sau giờ dạy thực nghiệm. Ở lớp 11B1 (lớp dạy với giáo án đối chứng) tôi
cũng cho làm phiếu học tập như vậy, sau khi chấm bài, tôi thống kê kết quả và rút ra được
những nhận xét cụ thể.
So sánh kết quả học tập của HS thuộc 2 lớp 11B4 và 11B1. Đây là 2 lớp có trình độ
học lực ban đầu tương đương nhau. Kết quả thu được cho thấy, khi triển khai dạy học theo
hướng nghiên cứu của đề tài, việc tiếp thu lĩnh hội kiến thức của HS đạt hiệu quả rất cao. Còn
khi dạy học theo giáo án đối chứng, HS có kết quả học tập kém hơn. Điều này thể hiện rất rõ
trên biểu đồ, với đề bài kiểm tra trong phiếu học tập được phát vào cuối giờ học, có 73% HS
lớp 11B4 đạt điểm giỏi và xuất sắc (từ 8 điểm trở lên), trong khi cũng với đề bài đó, chỉ có
28% HS lớp 11B1 lĩnh hội được kiến thức như mục tiêu đã đề ra. Sự khác biệt này cho thấy
triển vọng và tính khả thi của đề tài khi áp dụng vào thực tế dạy học hiện nay.
3.2.2. Về thái độ học tập
Sau khi dạy thực nghiệm, tôi cũng đã phát cho các em HS ở cả 2 lớp, lớp dạy thực
nghiệm và lớp dạy để so sánh một phiếu hỏi để đánh giá về giờ dạy thực nghiệm đó (nội dung
phiếu hỏi xin xem chi tiết ở phần phụ lục). Phân tích phiếu hỏi, tôi nhận thấy việc triển khai
các nội dung và lựa chọn các hình thức tổ chức, các PPDH trong bài dạy thực nghiệm dựa
theo quan điểm SPTT – quan điểm tiếp cận dạy học qua nghiên cứu qui luật tự nhiên của não
bộ con người, vì thế các hoạt động dạy học trong bài đã có khả năng tạo hứng thú, kích thích
tư duy học tập ở HS. Tôi khẳng định được điều này vì theo kết quả điều tra (thể hiện rõ trên
biểu đồ 2) thì khi tổ chức dạy học theo quan điểm của đề tài, không có HS nào tỏ ra thụ động
trong việc lĩnh hội tiếp thu kiến thức, trong khi ở lớp dạy so sánh có đến 61% HS thụ động

thuận lợi về vật chất cũng như tinh thần để người dạy và người học có một môi trường học
tập tích cực.
- Nhà trường cũng cần có sự tìm hiểu, cập nhật ứng dụng những PPDH cũng như
những quan điểm dạy học tích cực, tiến bộ và khuyến khích GV mạnh dạn ứng dụng những
quan điểm, PPDH đó vào thực tế dạy học để nâng cao hiệu quả chất lượng dạy học.
*Về phía GV:
- Là những người có vai trò quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ, vì vậy GV cần
không ngừng rèn luyện, vun đắp tình yêu nghề, sự tâm huyết trách nhiệm với nghề để có thể
truyền được sự đam mê hứng thú đến HS của mình.
- GV nên chủ động tìm tòi và mạnh dạn áp dụng những PP, những quan điểm DH mới
tiến bộ, tích cực vào thực tế DH của bản thân để không ngừng nâng cao chất lượng hiệu quả
DH.
- Trong quá trình DH, GV nên tạo mọi điều kiện thuận lợi để người học được tích cực
chủ động, tự chiếm lĩnh tri thức bài học, “lấy người học làm trung tâm”.
- Trong giờ dạy, GV cần chú ý nhiều hơn đến việc tương tác với HS và với môi
trường dạy học để lôi cuốn sự tham gia hợp tác tích cực từ người học nhằm đem lại chất
lượng, hiệu quả dạy học.
* Về phía HS:
- HS cần rèn luyện, hình thành cho bản thân mình thói quen học tập tích cực chủ
động, không thụ động ỷ lại vào GV với những kiến thức có sẵn.
- Hình thành trách nhiệm với việc học của chính mình, tham gia tích cực các hoạt
động DH do GV tổ chức.
- HS cần thẳng thắn chia sẻ những nhu cầu, nguyện vọng về học tập với GV để GV có
những điều chỉnh kịp thời, phù hợp.
References
1. Đỗ Thị Ngọc Chi (2005), Các bước tổ chức một giờ dạy học văn có hiệu quả của
PTTH hiện nay, Khoá luận tốt nghiệp cử nhân Khoa Sư phạm – ĐHQGHN, Hà Nội.

ĐHSP, Hà Nội.
17. Đinh Thị Kim Thoa (chủ biên) (2009), Tập bài giảng tâm lí học đại cương, Khoa Sư
phạm – ĐHQGHN, Hà Nội.
18. Trần Anh Tuấn (chủ biên) (2009), Tập bài giảng Giáo dục học đại cương, Khoa Sư
phạm – ĐHQGHN, Hà Nội.
19. Nguyễn Thành Vinh (2006), Tổ chức dạy học theo quan điểm SPTT trong các trường
(khoa) cán bộ quản lý giáo dục đào tạo hiện nay”, Luận án tiến sĩ ĐHQGHN, Hà Nội.
20. Đặng Thị Thanh Vân (2007), Nâng cao hứng thú học tập môn Ngữ văn của học sinh
THPT theo quan điểm Sư phạm tương tác, Khoá luận tốt nghiệp cử nhân Khoa Sư phạm
– ĐHQGHN, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status