Nghiên cứu cảnh quan cho mục đích phát triển nông, lâm nghiệp và bảo vệ môi trường huyện lắk, tỉnh đăk lắk - Pdf 10

Nghiên cứu cảnh quan cho mục đích phát triển
nông, lâm nghiệp và bảo vệ môi trường huyện
Lắk, tỉnh Đăk Lắk

Lý Trọng Đại

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
Mã số: 60 85 15
Người hướng dẫn: PGS.TSKH Phạm Hoàng Hải
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Nghiên cứu những vấn đề lý luận của cảnh quan học, cảnh quan ứng dụng,
đánh giá cảnh quan và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, những cơ sở lý
luận về phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường và việc vận dụng vào nghiên
cứu cảnh quan huyện Lắk. Phân tích đặc điểm và vai trò của các yếu tố thành tạo cảnh
quan trên lãnh thổ huyện Lắk để thấy được đặc điểm phân hóa, các quy luật tự nhiên
và mối quan hệ của các thành phần tự nhiên trong tổng thể tự nhiên, cũng như mối
quan hệ giữa tự nhiên và kinh tế xã hội. Xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan và
thành lập Bản đồ cảnh quan huyện Lắk. Phân tích tính đa dạng trong cấu trúc, chức
năng và động lực cảnh quan huyện Lắk. Thực hiện đánh giá cảnh quan, xác định mức
độ thích nghi của các đơn vị cảnh quan đối với mục đích phát triển các ngành kinh tế
nông, lâm nghiệp Lắk. Xây dựng các cơ sở, nguyên tắc, phương pháp ứng dụng kết
quả nghiên cứu cảnh quan trong việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và
bảo vệ môi trường. Nghiên cứu đề xuất một số định hướng và các giải pháp phát triển
kinh tế xã hội nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi
trường huyện Lắk, tỉnh Đăk Lắk.

Keywords: Bảo vệ môi trường; Phát triển nông nghiệp; Lâm nghiệp; Đăk Lắc

Content

cần được quan tâm.
Trên thực tế ở huyện Lắk các công trình đã được nghiên cứu, ứng dụng vào phát triển
kinh tế xã hội chỉ dừng lại ở mức độ phục vụ cho từng mục tiêu cụ thể, chưa có công trình
nghiên cứu, đánh giá một cách tổng hợp về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên trên
toàn huyện. Để có một cách nhìn nhận tổng thể và hoàn thiện hơn về đặc điểm tự nhiên và tài
nguyên thiên nhiên huyện Lắk, nhằm xây dựng những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác
quy hoạch phát triển kinh tế xã hội bền vững lâu dài, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn
lực tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường trên toàn lãnh thổ thì có thể thấy
rằng vấn đề nghiên cứu, đánh giá cảnh quan huyện Lắk là vấn đề hết sức cần thiết.
Xuất phát từ những nhìn nhận trên tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu cảnh quan
cho mục đích phát triển nông, lâm nghiệp và bảo vệ môi trường huyện Lắk, tỉnh Đăk Lắk”
để thực hiện nghiên cứu.

3
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Quan niệm cảnh quan và cảnh quan học
Về mặt phương pháp luận nghiên cứu, học thuyết cảnh quan được xây dựng bắt đầu từ
thế kỷ XIX, tuân thủ các giai đoạn phát triển từ phân tích bộ phận, rồi đến tổng hợp; phân tích
các bậc cao hơn, tổng hợp ở bậc cao hơn và ngày càng đi sâu vào bản chất của các sự vật,
hiện tượng trong lớp vỏ cảnh quan. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, cảnh quan học xác định
rõ nhiệm vụ của mình là học thuyết các quy luật phân hóa lãnh thổ của lớp vỏ địa lý, cảnh
quan là đơn vị cơ sở của hệ thống phân vùng và có thể nhóm cảnh quan vào bậc liên kết cao
hơn. Chuyển sang giai đoạn nghiên cứu sâu cấu trúc không gian của cảnh quan, xem cảnh
quan là những hệ thống có cấu trúc không gian phức tạp, là một hệ thống động lực hở và là hệ
thống có tính chất phân bậc lôgíc, khẳng định cảnh quan học đã tiến thêm một bước mới.
Trong quá trình phát triển, khái niệm “cảnh quan” dần dần được hoàn chỉnh, mỗi khái
niệm đánh dấu một bước phát triển của khoa học cảnh quan trên thế giới.
Lần đầu tiên L.S. Berge (1913) đã đưa ra khái niệm coi cảnh quan như là một miền,
trong đó địa hình, khí hậu, nước, đất, lớp phủ sinh vật cũng như hoạt động của con người
được gắn kết thành một thể thống nhất, hài hòa, lặp lại một cách điển hình trong một đới nhất

theo một cấu trúc ngang đồng nhất” [31].
Như vậy, CQ được hiểu và áp dụng khác nhau phụ thuộc vào quan điểm của người
nghiên cứu. Thuật ngữ này có thể hiểu theo một trong các nội dung sau:
1. Cảnh quan được coi là một thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên ở bất kỳ một cấp phân
chia nào, đó là quan niệm chung.
2. Cảnh quan là một đơn vị phân loại trong hệ phân vị lãnh thổ tự nhiên, trong đó cảnh
quan là đơn vị chủ yếu được xem xét đến những biến đổi do tác động của con người. Quan
niệm cảnh quan là đơn vị mang tính kiểu loại.
3. Cảnh quan là những cá thể địa lý, là một phần nào đó riêng biệt của lớp vỏ địa lý,
trong đó có những đặc tính chung nhất.
Trong đó quan niệm kiểu loại và quan niệm cá thể được nhiều nhà nghiên cứu cảnh
quan sử dụng, phổ biến là quan niệm kiểu loại. Trong quan niệm này cảnh quan được coi là
đơn vị cơ sở, là một cấp phân vị, đơn vị phân loại thể hiện rõ nét nhất cả hai quy luật địa đới
và phi địa đới, đồng thời là địa hệ tự nhiên cấp cơ sở có cấu trúc hình thái riêng. Trong NCCQ
có nhiều hướng khác nhau, cần phải hiểu cảnh quan theo đúng bản chất của nó, không thể
hiểu theo tên gọi vì chưa có một định nghĩa cảnh quan thống nhất [14].
Trong quá trình nghiên cứu cảnh quan lãnh thổ huyện Lắk, tác giả đã quan niệm cảnh
quan vừa là một thể tổng hợp tự nhiên, vừa là đơn vị mang tính kiểu loại, là một đơn vị nằm
trong hệ thống phân loại chung của cảnh quan lãnh thổ Việt Nam và đồng thời là một bộ phận
cảnh quan lãnh thổ Việt Nam. Cảnh quan huyện Lắk là một thể tổng hợp tự nhiên phức tạp
vừa có tính đồng nhất vừa bất đồng nhất bao gồm một hệ thống các yếu tố thành phần cấu tạo
nên (địa chất, địa hình, khí hậu, đất, nước, sinh vật) và giữa chúng có mối liên hệ phụ thuộc

5
tác động lẫn nhau, đồng thời có sự phân hoá phức tạp từ cấp cao đến thấp theo hệ thống phân
loại nhất định tạo nên tính đa dạng trong cấu trúc, chức năng và động lực cảnh quan huyện
Lắk. Chính vì vậy khi nghiên cứu cảnh quan huyện Lắk cần lựa chọn phương pháp và quan
điểm nghiên cứu phù hợp.
1.2. Đánh giá cảnh quan
Đánh giá Cảnh quan là một khâu quan trọng trong nghiên cứu địa lý ứng dụng nhằm

Ở nước ta từ những năm 80, 90 trở lại đây các công trình nghiên cứu cảnh quan cũng
đã tập trung vào những vấn đề đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, TNTN ở các vùng và
các địa phương nhằm mục đích tìm ra các giải pháp để sử dụng hợp lý nguồn TNTN và bảo
vệ môi trường phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Có thể kể đến các công trình đánh
giá đất FAO (1993), Trần An Phong (1993), Nguyễn Đình Kỳ, Nguyễn Anh Hoành (2004) ;
Các công trình nghiên cứu về phương pháp luận và đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNTN của các
nhà khoa học : Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997) ;
Nguyễn Thị Kim Chương (2001), Nguyễn Viết Thịnh (2002), Lại Vĩnh Cẩm, Trần Xuân Ý,
Nguyễn Xuân Độ (2003) ; Nguyễn Cao Huần, Nguyễn An Thịnh, Phạm Quang Tuấn (2004),
Trương Quang Hải (2004) và rất nhiều luận án, luận văn đã thực hiện nghiên cứu, đánh giá
cảnh quan ở từng lãnh thổ cụ thể [12, 15, 19, 22].
Trên cơ sở kết quả của phân tích cảnh quan, hệ thống phân loại và bản đồ cảnh quan,
quá trình đánh giá tổng hợp gồm lý thuyết đánh giá chung và các thủ pháp tiến hành. Trong
phần lý luận chung làm cơ sở để thực hiện đánh giá phải xác định rõ mục đích, đối tượng, nội
dung và lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp, chỉ tiêu đầy đủ, hợp lý. Việc xác định đối
tượng, mục đích đánh giá là hết sức quan trọng và phức tạp nó quyết định đến mức độ khái
quát hoặc chi tiết của công tác đánh giá, tỷ lệ bản đồ, hệ thống các cấp phân loại cảnh quan.
Ngược lại việc lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp, chỉ tiêu đầy đủ, hợp lý thì sẽ cho kết
quả đánh giá chính xác và có ý nghĩa thực tiễn cao hơn.

7
CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CÁC YẾU TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN VÀ SỰ PHÂN
HÓA CẢNH QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐẶC ĐIỂM CÁC YẾU TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN
2.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Lắk nằm về phía Đông Nam của tỉnh Đắk Lắk, cách thành phố Buôn Ma Thuột
54 km theo quốc lộ 27, tổng diện tích tự nhiên là 1.256 km
2
bao gồm 1 thị trấn Liên Sơn và 10
đơn vị hành chính xã: Yang Tao, Bông Krang, Đăk Liêng, Đăk Phơi, Đăk Nuê, Buôn Tría,

- Phức hệ Cà Ná phân bố tại 3 xã Krông Nô, Đăk Phơi và Bông Krang thành phần chủ
yếu gồm granit biotit-muscovit, granit alaskit.
- Hệ tầng Xuân Lộc phân bố tập trung tại trung tâm huyện, thành phần chính là bazan
olivin, có độ dày 20 – 100m cấu tạo nên cao nguyên bazan màu mỡ trong khu vực.
- Các trầm tích Đệ Tứ gồm abQ
2
2-3
, aQ
2
3
, aQ, thành phần chủ yếu là cát, cuội sỏi, bột,
sét, mùn thực vật, than bùn, có độ dày từ 0,5 – 3m. Phân bố chủ yếu tại khu vực hồ Lăk.
Cùng với các đặc điểm địa chất, trên địa bàn huyện có một số tài nguyên khoáng sản
sau:
- Khoáng Thiếc: Thiếc gốc (khoáng hóa thiếc gốc) tại khe suối thuộc suối lớn Đăk
Mray - Tây Bắc dãy núi Youk Mao Yang Ho. Vành phân tán khoáng vật cassiterit: Ở Đăk
Phơi có vành phân tán thiếc có triển vọng nhưng diện tích của vành chỉ chiếm 1 - 2 km
2
, hàm
lượng cassiterit (SnO
2
) đạt 33 - 165 g/m
3
. Tại thượng nguồn Đăk Phơi, phát hiện vành phân
tán bậc I của thiếc rộng 5 km, dài gần 20 km, trùm lên thung lũng suối Ya Hieo, Ea Poi,
thượng nguồn Đăk Phơi. Sự có mặt của vành phân tán là dấu hiệu gián tiếp để tìm kiếm quặng
thiếc gốc.
- Biểu hiện vàng gốc: Kết quả phát hiện 6 vị trí lấy mẫu có khoáng hoá vàng tại xã
Krông Knô và Đăk Phơi, hầu hết là các mạch thạch anh có sulfur chứa vàng, hàm lượng vàng
chưa đạt được 1g/tấn; không có giá trị công nghiệp.

- Các kiểu địa hình bề mặt đỉnh san bằng bóc mòn cao từ 800 đến 2200m: Hình thành
do dãy Chư Yang Sin chạy dài từ Đông Bắc xuống Tây Nam bao bọc, độ cao trung bình từ
800 - 2200m so với mặt nước biển, độ dốc trung bình 20 - 25
0
, thấp dần từ Đông sang Tây,
những đỉnh núi cao trên 1.000m tập trung hầu hết ở phía Đông như đỉnh Chư Pan Phan cao
1.928 m, đỉnh Chư Drung Yang cao 1.802m. Loại địa hình này phân bố ở hầu hết các xã tạo
nên mái nhà ngang qua huyện dốc về phía Bắc (lưu vực sông Krông Ana) và phía Nam (lưu
vực sông Krông Knô). Địa hình này chủ yếu là rừng. Khó bố trí tưới tự chảy nhưng dễ bố trí
hồ chứa tạo nguồn cung cấp nước cho vùng.
- Các kiểu địa hình tích tụ: Gồm có kiểu địa hình đáy trũng xâm thực và tích tụ bãi bồi
của dòng chảy thường xuyên tuổi Holocen, kiểu địa hình thềm và đồng bằng tích tụ trầm tích
aluvi, kiểu địa hình đồng bằng và trũng tích tụ trầm tích đầm lầy – aluvi, kiểu địa hình thềm
và đồng bằng tích tụ trầm tích aluvi-proluvi và kiểu địa hình vạt gấu tích tụ deluvi tuổi đệ tứ.
Các kiểu địa hình này được tạo bởi phù sa trên núi và phù sa sông Krông Knô, Krông Ana.
Địa hình vùng trũng phân bố chủ yếu phía Tây Bắc ở các xã Buôn Triết, Buôn Tría, Đăk
Liêng, Ea Rbin, vùng có độ dốc trung bình từ 3 - 8
0
, độ cao trung bình 400 - 500 m, tương đối
bằng phẳng, chủ yếu trồng lúa và thường bị ngập vào mùa lũ. Đây là vùng lúa chủ lực của
huyện cũng như của tỉnh Đắk Lắk.
- Kiểu địa hình cao nguyên Bazan trẻ dạng vòm thoải bị chia cắt yếu bởi mạng lưới
sông suối tuổi Pleistocen: Tập trung chủ yếu ở các xã Yang Tao, Bông Krang, TT. Liên Sơn,
Đăk Phơi, Đăk Nuê.
- Kiểu địa hình đồng bằng thung lũng bóc mòn – tích tụ khá bằng phẳng xen đồi núi
sót tuổi Pleistocen: Phân bố rải rác trên các xã và ven sông Krông Knô ở các xã Nam Ka,
Krông Knô.
2.1.2.2. Khí hậu, thủy văn
a) Khí hậu
Huyện Lắk nằm phía đông Trường Sơn, giữa Cao nguyên Buôn Ma Thuột và vùng núi

Đông và Đông Nam là chủ yếu. Tốc độ gió bình quân vào mùa khô dưới 3 m/s, mùa mưa từ 4
– 5 m/s, mùa này thỉnh thoảng có gió mạnh trên 10m/s, tốc độ trên 15 m/s thường xảy ra ở các
thời điểm đầu hoặc cuối mùa mưa.
Chế độ mưa: Mưa trên địa bàn huyện mang đặc điểm mùa mưa của Tây Trường Sơn.
Hàng năm mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, lượng mưa chiếm 85 – 90% lượng
mưa cả năm. Số ngày mưa trung bình trong mùa mưa khoảng 20 ngày/tháng, thậm chí có
tháng mưa tất cả các ngày.
Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến hết tháng 4 năm sau. Lượng mưa mùa khô không
đáng kể chỉ chiếm 10 – 15% tổng lượng mưa hàng năm. Vào mùa khô mưa chỉ có ở cuối hoặc
đầu mùa; thời kỳ giữa mùa lượng mưa không đáng kể, nhiều năm không có mưa, nếu có thì
thời gian mưa chỉ khoảng vài ngày và lượng mưa khoảng dưới 10mm/tháng.
Lượng mưa trung bình nhiều năm trên khu vực nghiên cứu dao động từ 1.800 – 2.100
mm, lượng mưa tăng dần từ vùng thấp lên vùng cao.
Tuy khí hậu của Lăk mang đặc điểm của khí hậu Tây Trường Sơn như nói ở trên
nhưng vùng đồng bằng Buôn Tría và Buôn Triêk của Lăk lại bị ảnh hưởng gián tiếp của khí
hậu trung gian giữa Tây Trường Sơn và Đông Trường Sơn. các tháng từ 5-8 lượng mưa rất

11
lớn, nhất là tháng 8, gây lũ trên sông Krông Ana và Krông Knô nên thường làm cho vùng
đồng bằng Lăk chịu lũ ngập kéo dài nhiều tháng từ cuối tháng 8 đến tháng 11 hàng năm.
Tóm lại: Khí hậu vùng huyện Lăk mang đậm đặc điểm của khí hậu Tây Trường Sơn,
phân hai mùa rõ rệt. Mùa mưa dồi dào nước, thậm chí gây ngập lụt cho vùng đồng bằng ven
sông. Mặc dù vậy mùa mưa ở Lăk khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp trên các chân cao
không bị tác động của lũ. Mùa khô kéo dài và lượng mưa rất ít nên gây thiếu nước cho sản
xuất nông nghiệp.
b) Thủy văn
Nước mặt: Nguồn nước mặt của huyện Lắk khá dồi dào, lượng mưa trung bình hàng
năm đạt từ 1.800-1.900mm đã được tiếp nhận và dự trữ từ các sông suối và nhiều hồ chứa.
Hai nhánh sông chính Krông Nô, Krông Ana cùng hệ thống sông suối khe nhỏ dày đặc đổ về
dòng Sêrêpôk góp phần lớn vào tổng lượng dòng chảy của các con sông này trên 8 tỷ m


12
Đất đỏ vàng trên đá phiến sét (Fs): tổng diện tích 28.550 ha chiếm 22,71%. Đất thịt
nặng đến cát pha, khả năng thấm, giữ nước kém; về mùa khô bị chai rắn, chia cắt mạnh, độ
dốc 3 - 200 nghèo chất dinh dưỡng và tầng mỏng. Phân bổ chủ yếu ở xã Bông Krang.
Đất đỏ vàng trên đá macma axit (Fa): tổng diện tích 6.978 ha chiếm 5,55%. Đất thịt
nặng đến cát pha, tỷ lệ sét tương đối, chia cắt mạnh, độ dốc 8 - 300 nghèo chất dinh dưỡng và
tầng mỏng. Phân bổ ở xã Krông Knô, Nam Ka, Yang Tao.
- Nhóm đất xám (Acrisols) là nhóm đất lớn nhất trong huyện, phát triển trên đá mẹ
Granite và các trầm tích hỗn hợp Mezozoi, phân bố tại vùng địa hình đồi thấp, độ dày tầng đất
trung bình và không giàu dinh dưỡng lắm, một số bị xói mòn tầng mặt, thoái hoá và lẫn đá
mẹ, tổng diện tích 76.400 ha chiếm 60,79% diện tích tự nhiên. Phân bổ rộng khắp các xã
trong huyện.
- Nhóm đất Gley (Gleysols) nhóm đất dốc tụ, gley hóa với 8.554 ha, chiếm 6,80% diện
tích tự nhiên. Phân bố rải rác ven sông suối, được hình thành bởi quá trình bào mòn vận
chuyển vật chất từ cao xuống thấp, bị ngập nước nên gley hoá, đất bị kết von. Đất khá giàu
mùn hữu cơ, đất thịt nhẹ có độ phì cao, ít dốc, ít thoát nước thích hợp cho phát triển lúa nước,
trồng cây lương thực. Phân bố ở vùng ngập nước thị trấn Liên Sơn, xã Yang Tao, Buôn Tría,
Buôn Triết.
- Nhóm đất Phù sa hình thành do quá trình bồi lắng phù sa sông suối ven sông Krông
Ana và Krông Nô, giàu dinh dưỡng, thành phần cơ giới từ trung bình đến thịt nặng, tầng dày,
cho ưu thế phát triển lúa nước, mía và rau quả, diện tích 1.031 ha, chiếm 1,03% diện tích tự
nhiên. Phân bố rải rác ven sông các xã trong huyện.
Ngoài ra ở huyện Lắk còn có đất dốc tụ và đất đen trên sản phẩm bồi tụ của đá bazan
chiếm diện tích nhỏ và phân bố rải rác tại các xã.
b) Thực vật
Thảm thực vật tự nhiên:
Căn cứ vào sự phân hoá theo độ cao mà thực chất là tác động của chế độ nhiệt, ẩm, có
thể chia các kiểu thảm thực vật của huyện Lăk như sau:
- Thảm thực vật rừng kín cây lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm: Là rừng điển hình ở

bình toàn huyện là 48 người/km
2
, trong đó cao nhất ở thị trấn Liên Sơn (458 người/km
2
), thấp
nhất là ở xã Bông Krang (19 người/km
2
).
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên liên tục giảm qua các năm: Từ 2,23% năm 2001 xuống
2,16% năm 2002, 2,17% năm 2003, 2,06% năm 2004, 2,05 % năm 2005, 1,82% năm 2006,
1,78% năm 2007, 1,8% năm 2008 và chỉ còn 1,72% năm 2009. Phân bố dân cư theo xã được
thể hiện trong bảng sau.
Bảng 2.1. Hiện trạng dân số huyện Lắk năm 2010
Stt
Đơn vị
hành chính
Số
thôn
Số buôn
Diện tích tự
nhiên ( km
2
)
Dân số TB
(ngƣời)
Mật độ d.số
(ngƣời/ km
2
)
1

1
29,54
3.635
123,07
6
Xã Đăk Nuê
2
9
126,24
4.978
39,43
7
Xã Đăk Phơi

11
140,58
5.399
38,41
8
Xã Đăk Liêng
7
13
31,67
9.698
306,22
9
Xã Bông Krang
1
10
317,38

2005
2010
1
Dân số trung bình
ngƣời
56.628
60.754
4.126
a
Dân số thành thị
người
5.227
5.941
714
b
Dân số nông thôn
người
51.401
54.813
3.412
2
Phân theo giới tính
0
a
Nam
người
28.391

Kinh có 22.285 nhân khẩu chiếm 37,31% dân số. Dân tộc thiểu số tại chỗ chủ yếu là dân tộc
M’nông với 29.780 người (49,86%) và Ê đê với 1.975 người (3,31%). Dân tộc thiểu số khác
có nguồn gốc từ các tỉnh miền núi phía bắc như: H’Mông (2.494 người), Tày (2.017 người),
Dao (1.508 người), Thái (760 người), Nùng (618 người) Trong những năm qua, huyện đã
luôn quan tâm, ổn định và đảm bảo cuộc sống lâu dài cho đồng bào nhằm xây dựng, phát triển
toàn diện các buôn, bon. Quy hoạch bố trí đất ở và đất sản xuất cho đồng bào kinh tế và dân di
cư tự do sống rải rác ở vùng sâu, vùng xa.
2.2. ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN HUYỆN LẮK
Cảnh quan huyện Lắk có sự phân hóa đa dạng, sự phân hóa đó được thể hiện rõ nét
theo sự phân hóa của hình thái đại địa hình, từ cấp phân loại lớp cảnh quan trở xuống. Cụ thể
như sau:
a. Lớp cảnh quan: Cấp phân dị lãnh thổ này được phân chia dựa trên đặc trưng phát
sinh hình thái của đại địa hình, thể hiện quy luật phân hoá phi địa đới của tự nhiên, dựa vào
tính khác biệt của cân bằng vật chất, kiến tạo địa mạo, cấu trúc địa hình và phân hóa khí hậu,
sinh vật, thổ nhưỡng theo đai cao. Phân dị của các bộ phận địa hình tạo nên cho lãnh thổ 3 lớp
cảnh quan chính:
Lớp cảnh quan núi; Lớp cảnh quan cao nguyên; Lớp cảnh quan đồng bằng. Phần lớp
diện tích lãnh thổ thuộc lớp cảnh quan núi.
b. Phụ lớp cảnh quan: Là cấp phân vị được hình thành do sự phân hóa bên trong lớp
cảnh quan, dựa trên các đặc trưng về trắc lượng hình thái của địa hình. Cảnh quan huyện Lắk
được phân chia thành 5 phụ lớp cảnh quan gồm: Phụ lớp cảnh quan núi trung bình; Phụ lớp
cảnh quan núi thấp; Phụ lớp cảnh quan cao nguyên; Phụ lớp cảnh quan đồng bằng cao; Phụ
lớp cảnh quan đồng bằng thấp.
c. Kiểu cảnh quan: Với chỉ tiêu sinh - khí hậu trong mối tương quan nhiệt - ẩm của
lãnh thổ là chỉ tiêu phân chia chính, quyết định sự hình thành kiểu thảm thực vật theo nguồn
gốc phát sinh, nên dễ dàng nhận thấy toàn bộ lãnh thổ huyện Lắk thuộc cùng một kiểu thảm
thực vật phát sinh, ít có biến động trong thích ứng của thảm thực vật theo cân bằng nhiệt - ẩm.
Do vậy, về điều kiện phát sinh huyện Lắk có lớp phủ thực vật rừng kín lá rộng thường xanh
nhiệt đới ẩm mưa mùa phát triển rộng khắp trên toàn lãnh thổ. Phân hóa theo độ cao địa hình
nên toàn lãnh thổ có sự khác nhau về hình thái, vì vậy huyện Lắk có 5 kiểu cảnh quan với

Lắk từ vùng núi đến đồng bằng. Tuy nhiên chỉ tiêu cụ thể được xác định dựa trên nhu cầu sinh
thái của các loại hình sản xuất (các dạng sử dụng) cụ thể. Bằng phương pháp so sánh nhu cầu
sinh thái của các dạng sử dụng (chủ thể) với tiềm năng sinh thái của cảnh quan và lập ma trận
tam giác, luận văn tiến hành lựa chọn trọng số cho từng tiêu chí đánh giá [22].
3.1.2. Kết quả đánh giá
Kết quả tổng hợp sau quá trình đánh giá như sau:
Mục
đích sử
dụng
Mức độ thích
nghi
Dạng cảnh quan
Diện
tích (ha)
Tỷ
lệ
(%)
Rừng
phòng
hộ đầu
nguồn
Rất thích hợp
1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,14,16,25,26,27,40,
47,49,56,108,111,112,113,114
64.770
50,9
5
Khá thích hợp
12,15,17,18,22,29,30,31,33,34,35,36,37,3
8,39,41,45,50,51,52,53,57,58,70,72,77,79,

Rất thích hợp
13,32,53,54,55,71,76,88,90,99,115,116,11
8
3.842
3,02
Khá thích hợp
21,23,24,46,52,61,62,64,65,74,75,78,83,8
4,89,94,101,104,106,110,119,120,122
12.180
9,58
Kém thích
hợp
66,67,68,95,103,105
2.184
1,72
Lúa
Rất thích hợp
13,64,65,66,83,84,101,103,104,105,106,1
6.871
5,41

17
Mục
đích sử
dụng
Mức độ thích
nghi
Dạng cảnh quan
Diện
tích (ha)

trung. Hiện trạng lớp phủ là rừng tự nhiên ít bị tác động, hoặc rừng thứ sinh có mật độ che
phủ cao.
+ Mức khá thích hợp (P2) gồm 33 dạng cảnh quan có diện tích 21.740 ha chiếm
17,1% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố ở những khu vực có độ dốc tương đối lớn, sườn
núi thấp có xói mòn, rửa trôi tương đối mạnh. Hiện trạng lớp phủ là các loại rừng thứ sinh,
rừng trồng hoặc trảng cây bụi.
b) Mục đích phát triển rừng sản xuất
Luận văn tiến hành đánh giá 42 dạng cảnh quan có khả năng sử dụng cho mục đích
phát triển rừng khai thác kinh doanh, trồng rừng, khoanh nuôi hoặc tu bổ để khai thác.
+ Có 11 dạng cảnh quan với diện tích 9.934 ha chiếm 7,81 % diện tích tự nhiên, xếp
vào loại kém thích hợp (S3) đối với mục đích đánh giá. Đây là những cảnh quan ở địa hình có
độ dốc lớn, vùng núi cao, khó khai thác. Những cảnh quan có điều kiện đất đai, độ ẩm không
phù hợp sản xuất rừng.

18
+ Mức rất thích hợp (S1) gồm 11 dạng cảnh quan có diện tích 3.812 ha chiếm 3,0%
diện tích tự nhiên, là những cảnh quan phân bố ở khu vực địa hình có độ dốc từ 15-20
0
, vùng
chân núi thấp hoặc gò đồi, vận chuyển dễ dàng, thuận tiện cho việc khai thác, đất đai phù hợp
cho trồng rừng hoặc tái sinh rừng sản xuất. Hiện trạng độ che phủ cao thuận lợi cho khai thác
rừng.
+ Mức khá thích hợp (S2) gồm 20 dạng cảnh quan có diện tích 24.880 ha chiếm
19,57% diện tích tự nhiên, là những cảnh quan phân bố ở khu vực địa hình núi, đồi có độ dốc
từ 20- 25
0
, các điều kiện khai thác, trồng rừng, tu bổ rừng khá thuận lợi. Hiện trạng là rừng
thứ sinh, trảng cây bụi có thể đưa vào sản xuất để khai thác trong tương lai.
3.1.3.2. Đối với ngành nông nghiệp
a) Mục đích phát triển cây hàng năm

xã hội cũng như quy hoạch phát triển các ngành kinh tế huyện Lắk đến năm 2020, luận văn đã
đề xuất một số hướng sử dụng hợp lý không gian lãnh thổ cho 2 loại hình sản xuất này như
sau:
Bảng 3.9. Bảng tổng hợp đề xuất hƣớng sử dụng các dạng cảnh quan
Dạng cảnh quan
Hiện trạng cảnh
quan
Chức năng
Đề xuất hƣớng sử
dụng
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10,
11, 12, 14, 15, 16, 22, 25,
26, 27, 30, 31, 33, 34, 35,
36, 37, 39, 40, 41, 45, 47,
48, 49, 50, 56, 60, 70, 72,
73, 82, 93, 97, 111, 112
Khu vực có rừng
nguyên sinh và
rừng thứ sinh
Phòng hộ và
bảo tồn đa dạng
sinh học
Bảo vệ, phát triển
rừng phòng hộ
17, 29, 42, 51, 57, 113
Khu vực có rừng
trồng
Phục hồi tự
nhiên và khai
thác kinh tế

Trồng cây lâu năm
13, 19, 21, 23, 28, 54, 59,
61, 63, 65, 68, 69, 71, 74,
78, 83, 89, 92, 99, 104,
119
Khu vực trồng cây
hằng năm, hoa màu
và cây trồng quanh
khu dân cư
Khai thác kinh
tế
Trồng cây hàng
năm
20, 24, 32, 44, 55, 62, 66,
75, 76, 84, 101, 105, 106,
116, 118, 120, 122
Khu vực ưu tiên
trồng lúa nước
Khai thác kinh
tế
Trồng lúa
- Theo chương trình 327 hội khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam về cây trồng vật
nuôi, đối với các khu vực có rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh và rừng trồng cần có các biện
pháp bảo vệ nhằm đảm bảo được chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và tính đa
dạng sinh học. Vì vây, các dạng cảnh quan này vẫn được giữ nguyên, không chuyển đổi sang
các mục đích sử dụng khác.

20
- Đối với các khu phát triển thảm thực vật trảng cây bụi và trảng cỏ có thể để phát
triển tự nhiên hoặc định hướng cho phát triển lâm nghiệp như trồng rừng cho mục đích phòng

4. Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm cảnh quan và hiện trạng phát triển cũng như định
hướng phát triển nền kinh tế địa phương kết hợp với mục tiêu ban đầu, luận văn đã lựa chọn
đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển các ngành nông nghiệp và lâm nghiệp; tiến hành
xác định nhu cầu sinh thái và lựa chọn các tiêu chí, phân cấp chỉ tiêu, xác định trọng số, nhân
tố giới hạn và phương pháp đánh giá đối với 4 dạng sử dụng cho các mục đích: Phát triển
rừng phòng hộ, sản xuất rừng của ngành lâm nghiệp; trồng cây hàng năm, lúa của ngành nông
nghiệp. Kết quả đánh giá thành phần được xác định ở 3 cấp độ, được thể hiện trên các bản đồ
đánh giá thành phần.
5. Căn cứ kết quả đánh giá, hiện trạng phát triển và quy hoạch phát triển nông – lâm
nghiệp của huyện Lắk, luận văn đề xuất định hướng sử dụng hợp lý đối với từng đơn vị cảnh
quan, phù hợp với chức năng cảnh quan và những giải pháp phát triển nhằm hướng tới phát
triển bền vững lãnh thổ. Thành lập bản đồ định hướng sử dụng cảnh quan cho các mục đích
phát triển nông, lâm nghiệp. Kết quả cụ thể:
Có 59 dạng cảnh quan được định hướng sử dụng cho mục đích phát triển lâm nghiệp,
phân bố rộng khắp lãnh thổ của huyện, từ những khu vực núi trung bình Chư Yang Sin, khu
bảo tồn thiên nhiên Nam Ka đến các khu vực trũng khác trong huyện.
Có 47 dạng cảnh quan được định hướng sử dụng cho mục đích phát triển nông nghiệp,
phân bố chủ yếu ở đồng bằng và thung lũng sông, suối.
Có 18 dạng cảnh quan được định hướng sử dụng cho mục đích nông - lâm kết hợp,
phân bố chủ yếu ở vùng núi và cao nguyên thấp. Có thể kết hợp trồng rừng với cây hàng năm
hoặc rừng và cây ăn quả; cũng có thể kết hợp các mô hình nông - lâm như: vườn-ao-chuồng-
rừng, vườn-chuồng-rừng hoặc vườn-ao-chuồng ở vùng đồng bằng cao có nguồn nước ngầm
phong phú.
7. Luận văn cũng đã đề xuất một số giải pháp trong vấn đề sử dụng đất; bảo vệ rừng
và phát triển các ngành kinh tế nông, lâm nghiệp nhằm xây dựng những luận cứ khoa học góp
phần định hướng phát triển phù hợp cho các ngành nông, lâm nghiệp huyện Lắk nhằm sử

22
dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường theo định hướng phát triển nông - lâm
nghiệp bền vững.

13. Phạm Hoàng Hải (1993), Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên
nhiên lãnh thổ nhiệt đới ẩm gió mùa Việt Nam cho mục đích phát triển sản xuất và bảo vệ
môi trường, Tài liệu lưu trữ Viện Địa lý, Trung tâm KHTN và CNQG, Hà Nội.
14. Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997), Cơ sở cảnh quan
học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ lãnh thổ môi trường Việt Nam,
NXB Giáo dục, Hà Nội.

23
15. Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Ngọc Khánh (1998), "Quy hoạch và tổ chức lãnh thổ trên cơ sở
nghiên cứu, đánh giá cảnh quan", Tạp chí các Khoa học về Trái đất, số 2 (T.20), 81-85,
Hà Nội.
16. Phạm Hoàng Hải (2006), "Nghiên cứu đa dạng cảnh quan Việt Nam, phương pháp luận
và một số kết quả thực tiễn nghiên cứu", Tuyển tập các báo cáo Hội nghị Khoa học Địa lý
toàn quốc lần thứ II, Hà Nội.
17. Trương Quang Hải (2008), Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý
tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững vùng núi đá vôi Ninh Bình, Đề tài trọng
điểm cấp ĐHQG Hà Nội, mã số QGTĐ.04.11, Hà Nội.
18. Trương Quang Hải, Nguyễn An Thịnh, Nguyễn Thị Thúy Hằng (2008), “Mô hình sinh
thái cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam và ứng dụng nghiên cứu đa dạng cảnh quan”,
Tạp chí Các Khoa học về Trái đất, 30(4)PC, 545-554.
19. Trương Quang Hải, Nguyễn An Thịnh, Nguyễn Thị Thúy Hằng (2010), “Đánh giá cảnh
quan cho mục đích phát triển nông, lâm nghiệp và du lịch tại khu vực có núi đá vôi tỉnh
Ninh Bình”, Hội nghị khoa học Địa lý Toàn Quốc lần thứ 5, tr 39, Hà Nội.
20. Nguyễn Thị Hiền (1994), “Bản đồ sinh khí hậu phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp ở Việt
Nam”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu Địa lý Viện Địa lý, NXB Khoa học và Kỹ
thuật, Hà Nội.
21. Nguyễn Đình Hòe (2007), Môi trường và phát triển bền vững, NXB Giáo dục Hà Nội.
22. Nguyễn Cao Huần (2005), Đánh giá cảnh quan theo quan điểm tiếp cận kinh tế sinh thái,
NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội.
23. Nguyễn Cao Huần (2004), “Nghiên cứu hoạch định tổ chức không gian phát triển kinh tế

đích phát triển tối ưu lãnh thổ, (Người dịch: Hứa Chính Thắng), UB Khoa học và Kỹ
thuật Nhà nước, Hà Nội.
38. Lê Bá Thảo (2000), Thiên nhiên Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.
39. Nguyễn An Thịnh (2007), Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan phục vụ phát triển bền
vững nông lâm nghiệp và du lịch huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai, Luận án Tiến sỹ Địa lý, Đại
học Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia, Hà Nội.
40. Nguyễn Trọng Tiến (1996), Nghiên cứu đặc điểm cảnh quan phục vụ cho việc bố trí hợp
lý cây trồng nông - lâm nghiệp miền núi Lào Cai, Luận án PTS Khoa học Địa lý - Địa
chất, Hà Nội.
41. Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc (1978), Khí hậu Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật,
Hà Nội.
42. Phạm Quang Tuấn (2003), Nghiên cứu đánh giá điều kiện sinh thái cảnh quan phục vụ
định hướng phát triển cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả khu vực Hữu Lũng, tỉnh
Lạng Sơn, Luận án Tiến sĩ Địa lý, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội,
Hà Nội.
43. Thái Văn Trừng (1978), Thảm thực vật rừng Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà
Nội.
44. Tổ phân vùng Địa lý tự nhiên thuộc Ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước (1970), Phân
vùng địa lý tự nhiên lãnh thổ Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội.
45. Tổng cục địa chất (1971), Địa chất miền Bắc Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà
Nội.
46. Nguyễn Khanh Vân (2002), Đặc điểm và tài nguyên khí hậu dải ven biển Việt nam, Tài
liệu lưu trữ tại Viện địa lý, TTKH&CNQG.
47. Nguyễn Khanh Vân (2000), Các biểu đồ sinh khí hậu Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia,
Hà Nội.

25
48. Nguyễn Khanh Vân (2005), Cơ sở sinh khí hậu, NXB Giáo dục, Hà Nội.
49. Nguyễn Văn Vinh, Huỳnh Nhung (1995), “Quan niệm cảnh quan, hệ sinh thái, sự phát
triển của cảnh quan học và sinh thái học cảnh quan”, Tuyển tập các công trình nghiên

Verlag, New York, NY, USA.
63. Olaf Bastian (2000), Landscape classification in Saxony (Germany) – a tool for holistic
regional planning, Landscape and Urban Planning 50, 145– 155.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status