Thực trạng tác động của cơ chế lãi suất thị trường đối với nền kinh tế - Pdf 10



LUẬN VĂN:

Thực trạng tác động của cơ chế lãi
suất thị trường đối với nền kinh tế
Lời mở đầu


về cơ chế điều hành lãi suất của NHNN trong giai đoạn thực hiện cơ chế lãi suất
thị trường – lãi suất thoả thuận” cho bài viết chuyên đề tốt nghiệp của mình. Nội
dung bài viết của Em được chia làm 3 phần như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về cơ chế lãi suất trị trường.
Chương 2: Thực trạng tác động của cơ chế lãi suất thị trường đối với nền kinh tế.
Chương 3: Một vài suy nghĩ và những kiến nghị nhằm thực hiện thành công cơ chế
lãi suất thoả thuận.
Chương 1
Những vấn đề chung về cơ chế lãi suất thị trường

1.1. Khái niệm lãi suất
Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu tiết kiệm và đầu tư tồn tại như một tất
yếu vì nó xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong nền kinh tế - tuần hoàn
vốn tiền tệ, thể hiện cùng một lúc có những chủ thể trong nền kinh tế tạm thời có
vốn chưa sử dụng gọi là thừa vốn tạm thời, ngược lại có những chủ thể ở tình trạng
thiếu vốn tạm thời. Hiện tượng này tạo mâu thuẫn trong xã hội cần được giải quyết
nếu không sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí về vốn và căng thẳng về vốn. Tín dụng là
phương pháp điều hoà vốn nhằm giải quyết mâu thuẫn trên và đưa vốn sử dụng có
hiệu quả trong nền kinh tế.
Khi sử dụng bất kì khoản tín dụng nào, người đi vay cũng phải trả thêm 1
phần giá trị ngoài phần vốn gốc vay ban đầu cho người cho vay phần tăng thêm này
gọi là lợi tức mà theo Mác thì đây chính là giá cả về quyền sử dụng vốn vay. Tỷ lệ
phần trăm của lợi tức so với vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất.
Vậy lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn vay trong thời gian nhất định
mà người sử dụng vốn vay trả cho người sở hữu vốn.


mại muốn tăng khối lượng vốn huy động, đồng thời mở rộng quan hệ tín dụng với
khách hàng thì các ngân hàng thương mại phải hạ lãi suất cho vay đồng thời tăng lãi

suất huy động ở mức cho phù hợp với ngân hàng mình điều này là có lợi cho các
chủ thể trong nền kinh tế. Đồng thời đòi hỏi các ngân hàng không ngừng nâng cao
chất lượng dịch vụ và ngày càng hoàn thiện để có chỗ đứng trên thị trường.
- Lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô.
- Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng sức khoẻ của nền kinh tế: nhìn vào tình
hình biến động lãi suất trên thị trường trong một thời gian, người ta có thể thấy
được tình hình kinh tế của một quốc gia. Trong giai đoạn đang phát triển của nền
kinh tế lãi suất có xu hướng tăng do cung – cầu quỹ cho vay đều tăng, trong đó tốc
độ tăng của cầu quỹ cho vay nhanh hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay. Ngược
lại trong giai đoạn suy thoái của nền kinh tế lãi suất có xu hướng giảm xuống. Lãi
suất, mức lạm phát tính có mối quan hệ chặt với nhau cho nên căn cứ vào tình hình
biến động của lãi suất có thể dự đoán được các yếu tố kinh tế khác.
1.3 . Cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng Nhà Nước qua các thời kì.
Lãi suất là một công cụ đặc biệt quan trọng trong tay NHNN để hoạch định và
điều hành chính sách tiền tệ. Lãi suất là vấn đề hết sức nhạy cảm trong nền kinh tế,
nó tác động đến mọi khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh, tích luỹ, tiêu dùng,
tiết kiệm và đầu tư… Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn nước ta trong nhiều năm đổi
mới cho thấy vai trò quan trọng của cơ chế điều hành lãi suất đối với mục tiêu ổn
định và phát triển thị trường tài chính tiền tệ, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng
trưởng kinh tế. Trong quá trình chuyển từ nền kinh tế tập chung sang nền kinh tế thị
trường, cùng với việc đổi mới cơ chế điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và hoạt
động ngân hàng, cơ chế điều hành lãi suất đã được NHNN cải cách từng bước theo
hướng lãi suất thị trường và thu được những thành quả cơ bản, sử lí dần dần các bất
hợp lí trong cơ chế lãi suất, chế độ kiểm soát lãi suất cứng nhắc dần dần được nới

hợp với luật NHNN và luật các TCTD. Đặc biệt từ tháng 6/2001, cơ chế điều hành
lãi suất ngoại tệ được tiếp tục đổi mới một bước quan trọng, với việc bỏ quy định về
biên độ lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ, lãi suất cho vay đô la Mỹ nói riêng và cho
vay ngoại tệ nói chung đã hoàn toàn được tự do hoá. Các TCTD ấn định lãi suất cho
vay bằng đô la Mỹ theo thoả thuận với khách hàng, dựa trên cơ sở lãi suất thị
trường quốc tế và cung cầu vốn tín dụng bằng ngoại tệ ở trong nước. Cơ chế lãi suất
tín dụng thời kì này là bước tiến quan trọng trong quá trình tự do hoá lãi suất, đáp

ứng đòi hỏi của nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập quốc tế. Cơ chế lãi suất
tái chiết khấu của NHNN đối với các TCTD cũng dần được đổi mới từ cho vay trực
tiếp nhằm bổ xung nguồn vốn lưu động cho TCTD sang cho vay tái cấp vốn, thực
hiện vai trò NHNN là người cho vay cuối cùng. Lãi suất cho vay tái cấp vốn được
điều chỉnh tăng hay giảm phù hợp với nội dung và mục tiêu của chính sách tiền tệ
từng thời kì có tác động một cách gián tiếp lên lãi suất thị trường tiền tệ.
Tổng quan nhận xét rằng, trong 15 năm đổi mới vừa qua, cơ chế lãi suất của
NHNN đã được hoạch định và điều hành theo định hướng tích cực, nới lỏng từng
bước hướng tới tự do hoá, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội trong nước, mức độ
hội nhập của nền kinh tế nước ta với thị trường tài chính khu vực và thế giới. Cơ
chế điều hành lãi suất ngày càng trở nên linh hoạt hơn, bám theo cung cầu vốn thị
trường, dần dần mở rộng quyền chủ động xác định lãi suất kinh doanh cho các
TCTD để tăng khả năng cạnh tranh nhưng vẫn đảm bảo sự kiểm soát và điều hành
của NHNN đối với lãi suất trên thị trường tiền tệ. Đi sâu vào cơ chế điều hành lãi
suất cơ bản, NHNN bỏ việc quy định trần lãi suất cho vay của các TCTD đối với
khách hàng, chuyển sang xác định và công bố lãi suất cơ bản dựa trên việc tham
khảo lãi suất cho vay ngắn hạn thông thường của các NHTM áp dụng đối với khách
hàng có uy tín và một số các tiêu thức kinh tế vĩ mô khác. Mức lãi suất cơ bản được
cộng thêm một biên độ bằng số phần trăm tuyệt đối sẽ là giới hạn lãi suất tối đa cho

sự đã được tự do hoá, được hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu vốn và bộc lộ
những vai trò vốn có của nó.
1.4. Sự cần thiết phải chuyển đổi lãi suất theo cơ chế thị trường
Thực tiễn việc hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ thời gian qua cho
thấy chính sách lãi suất là một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ. Sự vận
động, thay đổi chính sách lãi suất có tác động nhanh và mạnh đến thị trường tiền tệ,
tín dụng tạo hiệu ứng rõ rệt đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng và tác động
đối với nền kinh tế. Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, lãi suất chưa được sử
dụng một cách đầy đủ như một đòn bẩy kinh tế nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế,
chuyển sang cơ chế thị trường, lãi suất phát huy mạnh mẽ vai trò vốn có của nó với
tư cách là giá cả của vốn và chịu tác động của quan hệ cung cầu.
1.4.1. Cải cách kinh tế theo hướng thị trường đòi hỏi phải cải cách lãi suất

Thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đề ra
chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, một nội dung đổi mới có tính chất then chốt là chuyển hệ
thống ngân hàng từ 1cấp sang 2 cấp. Quá trình đổi mới bắt đầu từ 3/ 1988 theo nghị
định 53/ NĐ của chính phủ và chính thức từ pháp lệnh ngân hàng 5/ 1990. Qua hơn
10 năm thực hiện đổi mới kinh tế toàn diện, các chính sách về giá cả (giá cả hàng
hoá, tỷ giá hối đoái) ở Việt Nam đã được cải cách đáng kể theo định hướng thị
trường, theo định hướng đó cơ chế bao cấp ở khu vực ngân hàng cũng từng bước
được xoá bỏ và thay vào đó là chế độ hoạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường.
Hệ thống ngân hàng 2 cấp được xác lập, NHNN thực hiện chức năng NHTƯ và
quản lí nhà nước về tiền tệ. Hệ thống ngân hàng thương mại thực hiện chức năng
NHTM là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng theo cơ chế thị trường, lãi suất
ngân hàng với tư cách là một loại gía cũng từng bước được chuyển đổi theo hướng
thị trường. Từ lãi suất thực âm chuyển sang lãi suất thực dương với các mức khống

vaybìnhquân
khuvực nông
thôn
Cho vay
ngắn hạn
Cho vay
dài hạn
8/ 00 đến 2/ 01 0,75 1,05 1.25 0,775 1,1
3/ 2001 0,725

1,025 1,225 0,75 1,1
4/ 2001 0,70 1,0 1,20 0,75 1,05
5/ 01 đến 9/ 01 0,65 0,95 1,15 0,75 1,05
10/01đến 5/ 02 0,60 0,9 1,10 0,725 0,9
Nguồn số liệu: Tạp chí ngân hàng số 7/2002
Theo bảng số liệu ta thấy lãi suất cho vay bình quân cả ngắn hạn và dài hạn
của khu vực thành thị ngày càng giảm và luôn cách xa lãi suất trần. Còn khu vực
nông thôn lãi suất cũng ngày càng giảm tuy có áp sát với lãi suất trần. Điều này đã
cho thấy vai trò của biên độ nhằm xác định trần lãi suất cho vay tối đa của các
TCTD đã không còn ý nghĩa đối với xu hướng ngày càng giảm lãi suất cho vay
trong nền kinh tế trong giai đoạn này.
- Trong tình hình phát triển kinh tế hiện nay nhu cầu vốn của nền kinh tế để đầu tư
vào các phương án, dự án sản xuất kinh doanh là rất lớn. Điều này đòi hỏi các
TCTD phải đẩy mạnh việc khai thác vốn bằng nhiều cách để đáp ứng nhu cầu tín
dụng để đầu tư phát triển kinh tế. Một trong những biện pháp tăng huy động vốn
của các tổ chức tín dụng là tăng lãi suất huy động vốn. Nhưng muốn tăng lãi suất
huy động (lãi suất đầu vào) thì cũng phải tăng lãi suất cho vay thì mới đảm bảo
yêu cầu kinh doanh không bị lỗ của các TCTD. Trong khi đó lãi suất cho vay lại bị
ấn định bởi lãi suất trần tối đa, như vậy cho dù lãi suất huy động không bị quy định
mức trần tối đa nhưng các TCTD vẫn không thể tăng lãi suất vượt mức lên được do

hai năm thực hiện cơ chế này, tỷ giá và thị trường ngoại hối không những vẫn đảm
bảo ổn định mà còn tạo điều kiện cho các TCTD chủ động ấn định lãi suất huy động
và cho vay phù hợp với nhu cầu vốn ngoại tệ, biến động lãi suất thị trường quốc tế,
tăng khả năng huy động vốn, cho vay bằng ngoại tệ, nhất là cho vay đầu tư trung
dài hạn.

Từ những lí do trên cho thấy xu thế khách quan đòi hỏi của thị trường bỏ cơ chế
điều hành lãi suất cơ bản thay bằng cơ chế lãi suất thoả thuận.
1.4.2. Cải cách khu vực ngân hàng theo định hướng thị trường đòi hỏi cải
cách lãi suất
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới toàn diện hệ thống ngân hàng. Nội dung
chủ yếu trong chương trình cải cách ở hệ thống ngân hàng theo định hướng thị
trường là
- Cải cách NHNN về công cụ chính sách, mô hình tổ chức nhằm nâng cao
năng lực điều hành chính sách tiền tệ và kiểm soát thị trường tài chính của NHNN
trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển và hội nhập quốc tế.
- Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại nhằm đảm bảo tính an toàn, lành
mạnh và hiệu quả trong hoạt động, góp phần tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
trong những năm tới.
Cải cách NHNN và chính sách tiền tệ:
Từ những năm 90 đến nay NHNN đã từng bước đưa ra các công cụ gián tiếp
thay thế các công cụ trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ, vai trò quản lí nhà
nước đã được tăng cường. Nhưng nhìn từ góc độ về chính sách tiền tệ trong mục
tiêu trung gian chỉ có thể chọn mục tiêu là M (tổng lượng tiền cung ứng) hoặc i
(mức lãi suất) vì hai mục tiêu này có mâu thuẫn, nếu cố định mức cung tiền thì phải
thả nổi lãi suất, nếu cố định lãi suất thì NHTƯ phải thường xuyên thay đổi mức
cung tiền tức thả nổi cung tiền mà điều này là không thuận lợi. Nếu cố định cả mức

Rõ ràng là khi quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp được
chuyển đổi theo hướng thương mại thì đòi hỏi cơ chế lãi suất thương mại. Các
NHTM với chức năng là huy động nguồn vốn từ các thành phần kinh tế và thực
hiện cho vay trên cơ sở phân tích, đánh giá doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hoạt
động kinh doanh trong điều kiện môi trường nhất định và do đó họ sẵn sàng chấp
nhận vay vốn với những mức nhất định trong khi đó NHTM cũng huy động được
một lượng vốn với những chi phí nhất định và với những điều kiện rủi ro nhất định
họ cũng sẵn sàng cho vay tới doanh nghiệp với một mức lãi suất có thể chấp nhận
được đủ để bù đáp những chi phí và rủi ro có thể sảy ra.
1.4.3 Xu thế hội nhập quốc tế đòi hỏi cải cách mạnh mẽ lãi suất

Xu thế hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay diễn ra nhanh hơn bao giờ
hết điều này dẫn đến thị trường tài chính mang tính toàn cầu. Chu chuyển vốn
không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà vượt ra ngoài danh giới ấy. Những
hạn chế về chu chuyển vốn quốc tế cũng đang ngày càng bị bãi bỏ. Việt Nam đã áp
dụng cơ chế lãi suất thoả thuận đối với ngoại tệ từ tháng 6/2001 tức là lãi suất ngoại
tệ biến động theo cung cầu ngoại tệ trong nước và tình hình thị trường tài chính
quốc tế trong khi lãi suất nội tệ ở mức cố định bị khống chế đã dẫn đến hiện tượng
điều chỉnh danh mục tài sản trong công chúng do hiệu ứng thu nhập. Trong trường
hợp lãi suất ngoại tệ tăng nên do diễn biến kinh tế trong nước và quốc tế thì dân
chúng sẽ chuyển sang đầu tư ngoại tệ và dẫn đến hiện tượng “chạy trốn” khỏi đồng
nội tệ mà hiện tượng này gọi là hiện tượng đô la hoá. Tình trạng này đã diễn ra ở
Việt Nam từ cuối năm 1998 và mạnh mẽ vào năm 2001 theo dõi hoạt động tiền gửi
bằng VND và ngoại tệ ở hệ thống ngân hàng thương mại ta thấy: Bảng1.2: Tiền gửi tại các NHTM.

0,6 0,7 0,7 0,8 3,3 1,4 1,3 2,1
Nguồn: Tạp chí ngân hàng tháng 8/2002
Theo bảng số liệu trên thấy rằng chênh lệch lãi suất nội tệ và lãi suất ngoại tệ đã
tác động lớn đến lượng tiền gửi của các tổ chức kinh tế và các cá nhân. Số lượng
tiền gửi bằng ngoại tệ liên tục tăng lên đặc biệt lượng tiền gửi của khối dân cư bằng
ngoại tệ trong các năm luôn cao hơn lượng gửi bằng VND.
1.5. Những điều kiện để thực hiện cơ chế lãi suất thị trường
Quan hệ cung cầu tiền tệ phản ánh bằng chính lãi suất thị trường theo quy luật
cung cầu. Nếu cung tiền tệ tăng thì lãi suất giảm, cầu tiền tệ tăng thì lãi suất tăng.
Điều này cho thấy lãi suất là hệ quả tất yếu của quan hệ cung cầu quỹ cho vay trên
thị trường. Đối với các trung gian tài chính, lãi suất là yếu tố “đầu vào”, “đầu ra”
và là công cụ cạnh tranh trên thị trường tiền tệ. Đối với hoạt động kinh tế vĩ mô, lãi
suất là một trong những công cụ kiểm soát và điều tiết thị trường nhằm ổn định và
thúc đẩy kinh tế phát triển, thể hiện ở vai trò của nó: Tạo động lực kích thích tiết
kiệm, phân bổ các nguồn vốn tài chính, góp phần giữ vững các cân đối kinh tế chủ
yếu trong nền kinh tế, kiềm chế lạm pháp, ổn định giá trị đối nội và giá trị đối ngoại
của tiền tệ. Tạo điều kiện cho sự phát triển các TCTD hướng các khoản vốn tín
dụng vào các lĩnh vực hoạt động có hiệu quả và tỷ suất lợi nhuận cao nhất, đảm bảo
cho các TCTD trang trải được chi phí hoạt động bù đắp rủi ro và có lợi nhuận. Lãi
suất chỉ thực sự phát huy tốt nhất những vai trò đó khi nó thực sự là lãi suất thị
trường. Tuy nhiên không phải trong trong thời kỳ nào của nền kinh tế cũng áp dụng
cơ chế lãi suất thị trường có hiệu quả. Lãi suất thị trường chỉ phát huy hiệu quả khi
nền kinh tế có những điều kiện nhất định.
Đối với NHTƯ các nước đã áp dụng cơ chế lãi suất thị trường, việc sử dụng
công cụ lãi suất đều trải qua quá trình từ can thiệp bằng quy định mang tính hành
chính- kiểm soát trực tiếp, rồi tiến tới tự do hoá lãi suất. Về bước đi tiến tới cơ chế
lãi suất thị trường, mỗi nước tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội và khả năng,
mục tiêu phát triển nền kinh tế để lựa chọn bước đi nhanh hoặc bước đi dần dần
thị trường tiền tệ khi thực hiện lãi suất thị trường.

1.6. Những tác động tích cực của cơ chế lãi suất thị trường nên nền kinh tế nói
chung
Chuyển sang cơ chế lãi suất thị trường là bước đi tất yếu trong quá trình
chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường ở tất cả các quốc gia. Khi lãi suất thực
sự được hình thành theo cung cầu tiền tệ trên thị trường và bị tác động bởi các yếu
tố từ thị trường thì nó cũng sẽ tác động trở lại thị trường một cách tích cực hoặc tiêu
cực. Tuy nhiên với một nền kinh tế đã đủ điều kiện thực hiện cơ chế lãi suất thị
trường thì lãi suất thị trường thường mang lại những tác động tích cực hơn là tiêu
cực nó thể hiện ở những khía cạch sau:
- Việc thực hiện cơ chế lãi suất thị trường là yếu tố có tính hạt nhân để thúc đẩy
thị trường tài chính phát triển theo chiều sâu, làm tăng tính cạnh tranh, thúc đẩy các
dịch vụ tài chính phát triển, góp phần ổn định và phát triển kinh tế vĩ mô, hội nhập
kinh tế quốc tế.
- Cơ chế lãi suất thị trường tạo điều kiện cho việc huy động tối đa nguồn lực
trong nước phục vụ cho đầu tư phát triển và đồng bộ với chính sách kinh tế - tài
chính - đối ngoại trong nền kinh tế thị trường.
- Cơ chế lãi suất thị trường làm cho lãi suất tự điểu chỉnh linh hoạt và phù hợp
với quan hệ cung cầu vốn thị trường, các luồng vốn được lưu chuyển đến nơi có lợi
nhận cao với mức rủi ro thấp, nâng cao hiệu quả đầu tư thúc đẩy các ngân hàng
thương mại phát triển nhanh chóng mạng lưới chi nhánh ở thành thị, nông thôn, đưa
ra các mức lãi suất, sản phẩm dịch vụ thích hợp với khách hàng.
- Khi áp dụng lãi suất thị trường thì làm cho lãi suất trong nước bám sát hơn lãi
suất quốc tế, việc huy động vốn ở trong nước và từ nước ngoài tăng lên tài trợ cho
nhu cầu tín dụng trong nước. Lãi suất thị trường gắn liền với quá trình lới lỏng kiểm
soát ngoại hối, thực hiện chế độ lỷ giá linh hoạt thúc đẩy hoạt động ngoại thương
Chương 2
thực trạng tác động của cơ chế lãi suất thị trường đối với nền kinh tế

2.1. Những thuận lợi và thách thức đối với Việt Nam khi thực hiện lãi suất thị
trường - lãi suất thoả thuận
Từ kinh nghiệm các nước và từ thực tế cho thấy chỉ thực hiện cơ chế lãi suất thị
trường thành công trong điều kiện nền kinh tế cụ thể nhất định như : Nền kinh tế
phát triển theo định hướng thị trường, chính phủ có khả năng giảm thiểu những mất
cân đối vĩ mô bằng chính sách tài khoá hoặc phối hợp sử dụng các công cụ điều
hành chính sách tiền tệ trực tiếp và gián tiếp. Thị trường tài chính phát triển có
chiều sâu, thống nhất và hoạt động trên cơ sở cạnh tranh. Ngân hàng trung ương có
thể dựa hoàn toàn vào công cụ gián tiếp có tính thị trường để điều tiết tỷ giá, lãi
suất, các biện pháp kiểm soát bị bãi bỏ. Hệ thống NHTM hoạt động trên nguyên tắc

nhuận cao nên đã buông lỏng điều kiện cho vay dẫn đến nợ sấu của ngân hàng rất
lớn, rất nhiều khoản tín dụng không có khả năng thu hồi. Điều này sảy ra với hệ
thống tín dụng đô thị các năm 1989-1990 khi áp dụng lãi suất thoả thuận.
Do cạnh tranh không lành mạnh các tổ chức tín dụng đua nhau nâng lãi suất
huy động và cho vay. Vốn đầu tư dẫn về khu vực có lợi nhuận giả tạo trong khi các
khu vực sản xuất kinh doanh lành mạnh không hấp thụ được vốn vì lãi suất cho
vay cao hơn lợi nhuận thông thường. Hệ quả của hai điều kiện trên dẫn đến đổ vỡ
từng tổ chức tín dụng bởi vì khu vực kinh tế bong bóng sẽ đương nhiên phá sản.
Kinh nghiệm thực tế các thời kì 1989- 1990, cho thấy điều đó.
Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay thì việc áp dụng cơ chế lãi suất cơ bản
mà thực chất là cơ chế lãi suất bị khống chế trần thì lại hạn chế sự phát triển kinh tế
do cơ chế này bộc lộ những hạn chế đã phân tích ở trên. Như vậy, để khắc phục
những nhược điểm của lãi suất cơ bản, và đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu vốn cho
các thành phần kinh tế, các vùng kinh tế, kích thích sản xuất hàng hoá phát triển,
cần áp dụng cơ chế lãi suất thoả thuận thay thế cơ chế lãi suất cơ bản. Vấn đề đặt ra
là nếu thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận liệu có dẫn đến những tiêu cực như đã
sảy ra ở các thời kì trước không? theo các nhà phân tích kinh tế thì điều đó không
thể lặp lại trong giai đoạn hiện nay do môi trường kinh tế hiện nay đã đổi mới và có

những thuận lợi để áp dụng cơ chế lãi suất thoả thuận hay nói cách khác việc áp
dụng cơ chế lãi suất thoả thuận đã có điều kiện chín muồi như:
Trước hết nhìn vào tình hình phát triển kinh tế trong thời gian qua của Việt
Nam với tốc độ phát triển kinh tế khá cao 6,8% vào năm 2001 và bình quân 7%
trong những năm tiếp theo trong một thời gian dài, tỷ giá tương đối ổn định, cán cân
thanh toán ở mức cân bằng. Việt Nam được coi là môi trường kinh tế vĩ mô tương
đối ổn định. Cùng với hệ thống ngân hàng lành mạnh và cạnh tranh hơn nhiều so
với trước cụ thể như độ sâu tài chính đã được nâng lên từ 20% năm 1998 lên trên

thương mại thế giới (WTO), gia nhập AFTA và theo tinh thần của Nghị quyết Hội
nghị lần thứ năm ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX.Việc chuyển đổi điều
hành chính sách tiền tệ của NHNN thông qua công cụ gián tiếp thay cho công cụ
trực tiếp tiến tới thực hiện lãi suất thoả thuận là một yêu cầu bức thiết và đã đủ điều
kiện chín muồi. Do vậy, quyết định số 546/ 2002/QĐ- NHNN ngày 30/5/2002 của
thống đốc NHNN về cơ chế cho vay theo lãi suất thoả thuận bằng đồng Việt Nam là
hoàn toàn phù hợp và đúng lúc là một nhu cầu tất yếu khách quan của nền kinh tế.
2.1.2. Những thách thức đặt ra khi thực hiện lãi suất thị trường - lãi suất thoả
thuận.
Tính tất yếu về xu hướng hội nhập cũng như thực hiện cơ chế lãi suất theo cơ
chế thị trường là không cần phải bàn thêm xong lộ trình và bước đi như thế nào và
khi nào thực hiện cho thích hợp nhất thì cần phải tính toán thận trọng. Tại Việt Nam
có rất nhiều ý kiến xung quanh vấn đề tự do hoá lãi suất, có những ý kiến cho rằng
tự do hoá lãi suất trong thời gian qua là chưa thích hợp. Những ý kiến đó không
phải là không có cơ sở mà đối chiếu với các điều kiện để tự do lãi suất thấy rằng
việc thực hiện tự do lãi suất ở Việt Nam còn gặp không ít những thách thức.
a. Thị trường tài chính Việt Nam còn hết sức kém phát triển và lạc hậu so với
các nước trong khu vực.
Xét về độ sâu tài chính, mức độ tiền tệ hoá nền kinh tế, thị trường tài chính
Việt Nam vẫn còn lạc khậu so với hầu hết các nước trong khu vực. Sự nông cạn của
thị trường sẽ làm cho các công cụ thị trường kém phát huy tác dụng, trong đó bao
gồm cả lãi suất thị trường. Sự yếu kém của thị trường tài chính Việt Nam được
phản ánh qua các chỉ số tài chính cơ bản như chỉ số M
2
/GDP, tín dụng/ GDP, tiền

gửi/ GDP, đều ở các mức thấp hơn so với các chỉ số của các nước trong khu vực với mọi giá nhắc nhở ngân hàng về lợi nhuận cao thường gắn với rủi ro cao, và do
đó ngân hàng phải cảnh giác cân nhắc kỹ trường hợp này.
Hiện nay các ngân hàng thương mại Việt Nam khi thực hiện kiểm tra điều
kiện vay vốn của khách hàng chủ yếu dựa vào uy tín của khách hàng cụ thể là lịch
sử quan hệ với ngân hàng và các thông tin do khách hàng đưa ra như các bản báo
cáo kết quả kinh doanh, các phương án, dự án trên thực tế thì các số liệu trên bản
báo cáo và trong các phương án dự án của các khách hàng gửi đến hầu như phù hợp
với điều kiện của ngân hàng. Trong đó ngân hàng không có cơ sở nào để xác minh
sự minh bạch và rõ ràng số liệu thông tin mà khách hàng đưa ra là chính xác với
khách hàng vì vậy việc xác định mức độ tín nhiệm của khách hàng là rất khó. Điều
này đòi hỏi khả năng và trình độ của ngân hàng về đánh giá khách hàng rất cao
trong khi đó các ngân hàng thương maị Việt Nam rất hạn chế về vấn đề này.
Xây dựng thể chế thị trường, như việc tăng cường tính công khai về thông
tin, điều kiện đảm bảo an toàn và và giám sát tài chính là việc cần thiết phải tiến
hành song song vơí quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế về tài chính
tiền tệ nhằm tránh những thất bại của thị trường, đảm bảo thị trường hoạt động hiệu
quả. ở Việt Nam hiện nay chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh
nghiệp và ngân hàng, hệ thống kế toán theo tiêu chuẩn Việt Nam là một trở ngại lớn
và làm lệch lạc việc đánh giá hiệu quả kinh doanh và kiểm tra giám sát đối với hoạt
động của các ngân hàng và doanh nghiệp trong nước. Trung tâm thông tin tín dụng
ngân hàng (CIC) của NHNN đã đi vào hoạt động nhưng vẫn còn trong giai đoạn thí
điểm và do đó, chưa có cơ quan đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập.
Điều này đưa đến khó khăn cho các NHTM trong việc đưa ra một mức lãi suất thoả
thuận phù hợp với mức độ tín nhiệm của từng doanh nghiệp và diễn biến thị trường.
Hơn nữa, đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng tín dụng
ngân hàng hơn nữa theo cơ chế thương mại - lãi suất thương mại thực sự.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status